1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ biến, có ảnh hưởng to lớn
đến sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng người trong lịch sử. Hiện
nay, ảnh hưởng của tôn giáo đang có chiều hướng gia tăng đối với các lĩnh
vực trong đời sống xã hội ở hầu khắp các quốc gia, dân tộc trên thế giới.
Công giáo là một chi phái lớn của Ki tô giáo, có tác động nhiều mặt
đến đời sống, đạo đức, văn hóa, lối sống, phong tục, tập quán... của nhiều
nước trên thế giới, nhất là ở châu Âu.
Mặc dù Công giáo được du nhập vào Việt Nam thời gian chưa lâu,
nhưng với tất cả tính riêng biệt của mình, Công giáo đã và đang có ảnh
hưởng sâu sắc đối với đời sống tinh thần trong xã hội. Trong tình hình hiện
nay, khi mà nước ta đã và đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, mặt trái
của nó đã làm cho đạo đức xã hội có phần bị suy thóai. Vai trò của tôn giáo
cũng như đạo Công giáo đã tác động vào đời sống xã hội, đặc biệt là đối
với đạo đức của tín đồ Công giáo ở nước ta nói chung, ở tỉnh Thanh Hóa
nói riêng. Chính sự tác động, ảnh hưởng ấy có những mặt tích cực, nhưng
cũng đang gây ra những hậu quả nhiều mặt, không chỉ đối với các tín đồ
Công giáo, mà cả với các lực lượng xã hội khác trong quá trình xây dựng
đời sống văn hóa ở các địa phương. Đạo Công giáo đã ảnh hưởng tiêu cực
đến cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa ở nước ta hiện nay.
Trong tình hình ấy, việc đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của đạo
Công giáo đối với đạo đức được thể hiện qua lối sống của tín đồ Công giáo
ở Thanh Hóa, để đề ra các giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế
2
và thực tiễn cấp bách, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho chủ trương
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với tôn giáo trong mỗi
giai đoạn cách mạng, nhất là trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Tuy nhiên, về ảnh hưởng của đạo Công giáo đối với đạo đức thể
hiện qua lối sống của tín đồ Công giáo ở nước ta, nhất là ở tỉnh Thanh Hóa
thì lĩnh vực này chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và trực tiếp.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích: Nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Công giáo đối với đạo
đức của tín đồ Công giáo ở tỉnh Thanh Hóa. Trên cơ sở đó đề xuất một số
giải pháp cơ bản nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của đạo
đức tín đồ Công giáo trong quá trình đổi mới ở địa phương.
Nhiệm vụ: Với mục đích như trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Tìm hiểu quá trình du nhập và tình hình của đạo Công giáo ở
Thanh hóa hiện nay.
- Phân tích tình hình đạo đức được biểu hiện qua lối sống của tín đồ
Công giáo ở tỉnh Thanh hóa dưới ảnh hưởng của đạo Công giáo.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt
tiêu cực của đạo đức tín đồ Công giáo trong quá trình đổi mới của địa
phương và của đất nước.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn không đi sâu nghiên cứu đạo Công
giáo với ảnh hưởng của nó đối với các mặt của đời sống xã hội, mà chỉ tập
trung nghiên cứu về ảnh hưởng của đạo Công giáo đối với đạo đức được
thể hiện qua lối sống của tín đồ Công giáo trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
trong tình hình hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4
6
Chương 1
ĐẠO CÔNG GIÁO Ở THANH HÓA
Đạo Công giáo là một tôn giáo có đối tượng thờ cúng là Đức chúa
Trời và đấng cứu thế Giêsu, với hệ thống giáo lý đồ sộ và bộ máy hết sức
chặt chẽ.
Với tư cách là một tôn giáo thế giới điển hình, đạo Công giáo có
mặt ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Quá trình hình thành,
tồn tại và phát triển của đạo Công giáo vô cùng phức tạp. Trong phạm vi đề
tài này, chúng tôi chỉ xin lược qua những mốc chính trong tiến trình lịch sử
đạo Công giáo; từ đó, phân tích quá trình du nhập của nó vào Việt Nam nói
chung, Thanh hóa nói riêng, để có cơ sở xem xét ảnh hưởng của đạo Công
giáo đối với đạo đức tín đồ Công giáo ở Thanh hóa hiện nay.
1.1. SỰ DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO CÔNG GIÁO Ở THANH HÓA
1.1.1. Vài nét về đạo Công giáo và quá trình du nhập đạo Công
giáo ở Việt Nam
Vào đầu công nguyên, đế chế La Mã đã trở thành một vương quốc
hùng mạnh. Đó là một đế chế được dựng lên trên một chế độ nô lệ dã man,
tàn bạo và bất công, với những mâu thuẫn hết sức gay gắt và phức tạp giữa
các giai tầng xã hội. Trong vương quốc La Mã, những người nô lệ chỉ là
những " công cụ biết nói " mà thôi. Để tăng cường thế lực của mình, đế
quốc La Mã đã tiến hành chiến tranh xâm lược và áp đặt chế độ nô dịch tàn
bạo đối với nhiều quốc gia, dân tộc khác...
Trước sự hà khắc của chế độ nô lệ, sự bạo tàn của tầng lớp quý tộc
chủ nô cầm quyền, trong lòng đế quốc La Mã đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh
của những người nô lệ, điển hình là cuộc khởi nghĩa nô lệ do người anh
và có thể lợi dụng được nên không còn cấm đoán mà cho được bình đẳng
với tôn giáo của Đế quốc Rôma. Sau đó Kitô giáo được nhận là Quốc đạo
và bảo vệ đế quốc Rôma. Từ đó về sau Kitô giáo không còn là tôn giáo của
những người nghèo khổ nữa, mà trở thành công cụ bảo vệ chế độ người bóc
8
lột người, dựa vào bọn thống trị để mưu lợi và có lúc đã mưu đồ nắm cả
bọn vua chúa thế tục ở Châu Âu; điển hình là Công giáo tự coi mình là
chính thống giáo của Kitô, có tòa thánh Vaticăng ở Rôma do giáo Hoàng
đứng đầu, là người thay mặt Chúa trời để chăn dắt con chiên, tín đồ của
Chúa.
Hiện nay đạo Công giáo có mặt ở nhiều nước trên thế giới với gần
một tỷ tín đồ với một hệ thống giáo lý, giáo luật đồ sộ. Đây là một tôn giáo
điển hình có hệ thống tổ chức được hình thành sớm, chặt chẽ, từ trên xuống
dưới. Có ảnh hưởng to lớn trong đời sống xã hội của nhiều quốc gia, dân
tộc, trong đó có Việt Nam. Bởi Giáo hội coi việc truyền giáo là một sứ
mệnh tự thân đi mở nước Chúa, cũng như thực hiện lời dạy của Chúa "Các
con hãy đi dạy đạo và rửa tội cho mọi quốc gia nhân danh Cha, và Con, và
các Thánh thần" [32. 28].
Quá trình đạo Công giáo du nhập vào Việt Nam khá lâu dài và hết
sức phức tạp, hiện vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận, bàn cãi về lịch sử đạo
Công giáo ở Việt Nam.
Theo ý kiến của các nhà sử học, các nhà nghiên cứu, cũng như sự
khẳng định của giáo hội Công giáo Việt Nam, đạo Công giáo du nhập từ
Việt Nam vào tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời vua Lê Trang
Tôn. Giáo sĩ người châu Âu đầu tiên tên là Inêxu vào truyền đạo ở vùng
Ninh Cường, Quần Anh, Trà Lũ thuộc tỉnh Nam Định. Lúc đầu vào truyền
đạo của hai dòng tu ở Việt Nam đó là dòng Chúa cứu thế của người Bồ
cũng là một cản trở lớn đối với Công giáo. Ngay từ buổi đầu đối với các
dân tộc phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng thì đó là sự phản ứng
về văn hóa, sự phản ứng về tôn giáo, nhất là phản ứng của Tam giáo đồng
nguyên, phản ứng của tập tục thờ cúng Tổ tiên, mà Công giáo vấp phải.
Điều đó buộc Giáo hội Công giáo có một sự thỏa hiệp nhất định. Trải qua
một thời gian khá lâu, Giáo hội Công giáo buộc phải có sự "nhượng bộ"
nhất định. Đặc biệt là trước khi họ trở thành tín đồ Công giáo thì họ là
người Việt Nam, nên tín ngưỡng tôn giáo, truyền thống văn hóa, đạo đức,
10
lối sống đã thấm sâu trong tư tưởng họ. Dẫn đến có sự đấu tranh tư tưởng
gay gắt và quyết liệt khi theo đạo Công giáo, bên cạnh đó có sự ngăn cấm
của chính quyền phong kiến đối với Công giáo khi vào Việt Nam. (Mãi đến
năm 1937, Tòa thánh Vatican mới có sắc chỉ cho phép được thờ cúng Tổ
tiên với những quy định cụ thể). Như lời nhận xét của Linh mục Léopold
Cadiere "Tôi nghiên cứu tín ngưỡng, các thực hành nghi lễ tôn giáo, phong
tục, tập quán của họ và phải thừa nhận rằng, người dân Việt Nam rất sâu
sắc về tôn giáo, tín ngưỡng của họ trong sáng và khi họ cầu cứu đến trời, tế
tự trời cũng có thể họ cũng đến với một đấng Toàn năng mà chính tôi đang
thờ kính và gọi bằng Chúa" [38.13].
Cho đến 1658-1945 là giai đoạn của Giáo hội Pháp thông qua Hội
truyền giáo nước ngoài FARI (MEP), ở Việt Nam. Đây là giai đoạn công
cuộc truyền đạo phải trả bằng máu, vì đây không chỉ là sự đụng độ giữa hai
nền văn minh Đông Tây, mà chủ yếu còn là sự đụng độ giữa tinh thần yêu
nước chống xâm lược của nhân dân Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc thực
dân phương Tây đi xâm chiếm thuộc địa mà Giáo hội Công giáo là kẻ đồng
lõa, vừa phục vụ chủ nghĩa thực dân vừa đi mở rộng nước Chúa, cũng bằng
phương thức của chủ nghĩa thực dân tham ra bắn giết, dụ dỗ, mua chuộc,
năm 1850 cả nước có 500.000 người theo Công giáo [ 43.98 ]; năm 1668
có người Việt Nam đầu tiên được phong linh mục. Đến năm 1799 Việt
Nam có 70 linh mục và đến năm 1884 các giáo phận đã tăng lên 8 giáo
phận trong đó Đàng ngoài có 5 giáo phận và Đàng trong có 3 giáo phận.
Từ năm 1885-1945 là thời kỳ Việt Nam bị thực dân Pháp xâm
chiếm và trở thành thuộc địa của Pháp. Thực dân Pháp trao cho giáo sĩ
nhiều đặc quyền, đặc lợi. Vai trò của giáo hội được đề cao, thế lực của các
giáo sĩ trong xã hội ngày càng lớn, số lượng tín đồ tăng nhanh, các cơ sở
thờ tự được triển khai xây dựng ngày một nhiều. Trong khi đó nội bộ giáo
hội có sự phân biệt đối xử giữa người nước ngoài và người bản xứ, các giáo
sĩ Việt Nam không muốn lệ thuộc giáo sĩ nước ngoài. Năm 1933 mới có
giám mục người Việt Nam đầu tiên là Nguyễn Bá Tòng. Đây là cột mốc
đánh dấu sự phát triển thắng lợi của Công giáo ở Việt Nam. Kết quả có 1,5
12
triệu tín đồ, chiếm 7% dân số cả nước, được chia thành 11 giáo phận, gần
1000 linh mục, gần 4000 nữ tu, mở gần 1000 trường học thu hút khoảng
70.000 học sinh, uy thế công giáo lên cao, các xứ đạo, các cơ sở thờ tự, tu
hành được mở mang sửa chữa, chiếm hữu nhiều ruộng đất, đồn điền và nhà
cửa kinh doanh,... Thu hút được nhiều tân tòng làm cho việc đi mở rộng
nước Chúa không còn gặp trở ngại gì [43.155]. Đến năm 1942-1945 có xấp
xỉ 2 triệu tín đồ, được phân chia thành Giáo hội cả nước, giáo hội tỉnh, giáo
phận và giáo xứ. Giáo hội luôn luôn rao giảng cho tín đồ sống thiện, tránh
xa điều ác, về Thiên đường địa ngục... Nhưng thực tế, được sự dung túng
của thực dân Pháp họ lại làm những điều phi đạo đức, gắn chặt với chủ
nghĩa thực dân về mục đích chính trị, kinh tế. Đến năm 1945-1975 là giai
đoạn Bác Hồ và Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa
giành được chính quyền, đánh đuổi thực dân Pháp, trong nội bộ Công giáo
Đến năm 1954- 1975 là thời kỳ cực kỳ phức tạp, khi Việt Nam tạm
thời phân chia thành hai miền theo vĩ tuyến 17. Miền Bắc do chính quyền
cách mạng quản lý, miền Nam do chính quyền Ngô Đình Diệm tay sai của
đế quốc Mỹ cai trị. Lúc này, để thực hiện mưu đồ chính trị đen tối, Giáo
hội Công giáo kêu gọi Chúa đã vào Nam, cưỡng ép, dụ dỗ giáo dân miền
Bắc di cư theo Chúa, làm cho phân bố dân cư Công giáo thay đổi to lớn.
TÛ lệ giáo dân ở miền Nam tăng nhanh. Trong 80 vạn người miền Bắc di
cư vào Nam thì có tới 50 vạn người Công giáo, làm cho ở miền Nam chiếm
2/3 giáo dân toàn quốc. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã dùng giáo dân tạo
ra một vành đai chiến lược ở các vùng trọng yếu chống cộng như ở Hố Nai,
Biên Hòa... để bảo vệ chế độ thực dân mới của Mỹ - Diệm. Chính quyền
của Ngô Đình Diệm có tham vọng Công giáo hóa miền Nam. Điều này
không phải không có cơ sở, ngay từ thời vua Tự Đức, người Pháp định đưa
Hồng Bảo là người Công giáo lên làm Vua (Hồng Bảo là anh em với Tự
Đức), nhưng Tự Đức phát hiện ra và đã bóp chết mưu đồ đó (1876). Đến
thời Bảo Đại thực dân Pháp cũng nuôi dưỡng mối tình của ông với Nam
Phương Hoàng hậu vì bà ta là người Công giáo, Bảo Đại đã phá lệ của triều
14
Nguyễn, kết hôn với Nam Phương Hoàng hậu. Bởi vì nhà Nguyễn cấm vua
không được lấy vợ là người Công giáo hoặc nếu lấy chỉ được làm Phi. Khi
Mỹ hất cẳng Pháp, đưa Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ lên làm
Tổng thống miền Nam cộng hòa, Công giáo lên ngôi, chế độ gia đình trị
của Diệm dựa vào Công giáo để củng cố quyền lực. Trong quân đội, cấp
bậc từ đại úy trở lên phải là người Công giáo. Trong hệ thống chính quyền,
hầu hết các vị trí chủ chốt đều là người Công giáo. Điều đó trước mắt có lợi
cho Mỹ - Diệm, nhưng lại làm cho Giáo hội Công giáo ở miền Nam uy tín
bị tổn thương, vì nó đi ngược lại truyền thống yêu nước, chống xâm lược
và ủng hộ. Đối với Cộng sản thì Giáo hội chuyển từ đối đầu sang "đối
thoại" và hòa nhập vào cộng đồng dân tộc. Đặc biệt là ở các nước mà Đảng
cộng sản lãnh đạo thì Giáo hội tranh giành ảnh hưởng với cộng sản, giữ
vững đức tin cho tín đồ, sẵn sàng lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ khi có
thời cơ. Như vậy họ chỉ thay đổi phương thức tiến hành, còn mục tiêu cơ
bản thì không hề thay đổi.
Do đó, đối với Công giáo Việt Nam thì đây là giai đoạn hội nhập
dân tộc, làm cho đạo gần đời hơn, chú ý đến đạo đức, lối sống của tín đồ
hơn. Về tổ chức có 25 giáo phận, 3 giáo tỉnh.
Giáo tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh có 9 địa phận-giáo phận tỷ lệ
8,5% dân số, là nơi có Tín đồ cao nhất nước. Riêng thành phố Hồ Chí
Minh, Công giáo đậm đặc hơn.
Giáo tỉnh Huế có 6 giáo phận, tỷ lệ xấp xỉ 4,3% dân số là Tín đồ.
Giáo tỉnh Hà Nội có 10 địa phận tỷ lệ 6% dân số là Tín đồ. Trong
đó có ba địa phận đậm đặc giáo dân là địa phận Hà Nội, địa phận Phát
Diệm và Địa phận Bùi Chu.
Như vậy, có thể nói rằng hiện nay khoảng 6-7% dân số người Việt
Nam theo đạo Công giáo. Đạo Công giáo nằm rải rác ở hầu hết các địa
phương trong cả nước, trong đó có Thanh Hóa, đã và đang có ảnh hưởng
đến nhiều mặt của đời sống xã hội, nhất là đạo đức của tín đồ Công giáo
trong tình hình hiện nay. Để đánh giá đúng tình hình của đạo Công giáo ở
16
Thanh Hóa hiện nay, trước hết chúng ta cần lược qua quá trình du nhập và
phát triển đạo Công giáo ở địa phương này.
1.1.2. Quá trình truyền bá và phát triển đạo Công giáo ở
Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh lớn, có một vị trí chiến lược rất quan trọng,
riêng chảy qua Thanh Hóa là 242 km. trong đó sông Chu là nhánh lớn nhất
của sông Mã. Sông Chu dài 325 km đi qua Thường Xuân, Thọ Xuân, Đông
Sơn.
Sông Yên dài 94 km đi qua Nông Cống, Quảng Xương. Sông Yên
có bốn nhánh: sông Nhơn, sông Hoàng, sông Lý và sông Thị Long.
Ngoài ra còn có sông Lạch Bạng dài 34,5 km đi qua Thường Xuân,
Như Xuân chảy ra cửa Bạng và sông Hoạt có chiều dài chảy từ nguồn đến
cửa là 55 km chảy qua hai huyện Hà Trung và Nga Sơn.
Bờ biển Thanh Hóa bắt đầu từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoàng Hóa,
Quảng Xương và chạy dọc hết huyện Tĩnh Gia, có 6 cửa sông chính: Cửa
sông Hoạt chảy từ địa phận Nga Thái, cửa sông Lùn chảy ra từ địa phận xã
Nga Bạch, cửa Lạch Trường chảy ra từ địa phận xã Hải Lộc và Hồng
Trường, cửa Hà chảy ra từ địa phận Hoằng Hóa, Quảng Xương, cửa Lạch
Ghép chảy qua địa phận xã Quảng Nham, Hải Châu và cửa Lạch Bạng
chảy qua xã Hải Thanh, Hải Bình. Thanh Hóa còn có đảo Biện Sơn có
người ở và một số đảo khác không có người ở như Hòn Nẹ, Hòn Mê.
Về khí hậu Thanh Hóa thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa ở Đông
Nam Á, chịu ảnh hưởng cả gió Đông Bắc và gió Đông Nam, về mùa hạ còn
có thêm gió Tây Nam nóng và khô.
Thanh Hóa có điều kiện tự nhiên, khí hậu khắc nghiệt, dân cư thưa
trải rộng trên toàn bộ các vùng miền, nhất là miền núi. Đời sống kinh tế của
nhân dân hết sức khó khăn, chủ yếu là sống tự cung tự cấp, lại bị thiên tai,
18
lũ lụt triền miên, ốm đau bệnh tật nhiều. Đầu thế kỷ XVII, Trịnh - Nguyễn
phân tranh làm cho đời sống nhân dân vốn đã khó khăn lại càng khó khăn
hơn cả về vật chất lẫn tinh thần. Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ chiếm
đại đa số, trong nhân dân còn nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị
1629 bản thân linh mục Rhodes và linh mục Marquez lại bị dẫn độ về Nam
để tìm thuyền trả về Ma Cao. Đến tháng 4 năm 1630 thì linh mục Rhodes
và các thừa sai dòng Tên bị trục xuất khỏi Đàng ngoài. Cho nên, giai đoạn
này ở Thanh Hóa đạo Công giáo phát triển chậm.
Cho đến ngày 9 tháng 9 năm 1659, Tòa thánh mới ban hành sắc
chỉ, thành lập hai giáo phận đầu tiên ở Việt Nam đó là địa phận Đàng trong
và địa phận Đàng ngoài. Đến năm 1670 đã có một linh mục được thụ
phong là người Thanh Hóa. Đó là Cha Antôn Quế. Đến năm 1679 địa phận
Đàng ngoài lại được chia làm hai gọi là Tây Đàng ngoài và Đông Đàng
ngoài. Đạo Công giáo vẫn phát triển rất khó khăn, mặc dù họ đi sâu vào
đức tin để khuyên răn đạo đức cho cá nhân tín đồ nhưng số lượng tân tòng
tăng không đáng kể.
Mãi đến thế kỷ XVIII, đạo Công giáo mới chính thức phát triển ở
Thanh Hóa, đặc biệt là các vùng dân cư ven biển như Nga Sơn, Tĩnh Gia,
Hậu Lộc, Quảng Xương và các vùng núi trung du như Thọ Xuân, Triệu
Sơn, Vĩnh Lộc.... Đến đầu thế kỷ XIX lại là thời kỳ sát đạo, ở Thanh Hóa
cũng có nhiều tín đồ chống lại chính quyền địa phương, nhiều tín đồ đã
"tử" vì đạo. Trong đó có Cha Thánh Giacôbê Đỗ Mai Năm (1781-1838),
Cha thánh Phaolô Nguyễn Ngân (1790-1840), Cha thánh Phaolô Lê Bảo
Tịnh (1793-1857), Thánh Lê Thị Thanh người Thanh Hóa bị hành quyết
vào 12/7/1841 và nhiều tín hữu khác. Đến năm 1846 địa phận Tây Đàng
ngoài lại tách làm hai và Thanh Hóa vẫn thuộc Hà Nội.
Trong thời kỳ này các vị trí truyền đạo đều nằm ở những nơi cửa
sông, các vùng dân nhập cư mới lập ấp, lập làng để sinh sống, ở các vùng
núi gần sông, các vùng xa xôi, cằn cỗi. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, đạo Công giáo mới phát triển nhanh, lan ra nhiều vùng (18/ 23 huyện
thị lúc bấy giờ). Cho đến năm 1902, phía Nam Hà Nội gọi là xứ Thanh, bao
20
21
ở địa phương đang hoạt động mạnh, có nhiều chi bộ ra đời, làm cho công
cuộc truyền giáo gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng dưới sự bảo trợ của chính
quyền bù nhìn của thực dân Pháp, đạo Công giáo vẫn phát triển, số lượng
tân tòng vẫn tăng nhanh. Lúc này, họ luôn lợi dụng Kinh Thánh, lời
khuyên, răn, cấm của Chúa, Hội thánh, để tác động vào đời sống của tín đồ,
nhất là về đạo đức của tín đồ để ngăn cản người Công giáo tham gia kháng
chiến chống thực dân Pháp.
Trong bảy năm đó, Giáo phận Thanh Hóa có 42 thừa sai, 53 linh
mục người Việt Nam, 22 đại chủng viện, 183 tiểu chủng viện, có 74 nữ tu,
58.628 giáo dân, với 39 Giáo xứ được chia làm 5 hạt, 74 nhà thờ và 153
nhà nguyện. Lúc này phong trào cách mạng lên cao chuẩn bị cướp chính
quyền, nhiều nơi trong tỉnh đã nổ ra các phong trào đấu tranh do Việt Minh
lãnh đạo có cả giáo dân tham gia, làm suy yếu đà tiến của giáo phận, nhất
là ở miền Châu Lao (tỉnh Hủa Phăn - Lào). Mặt khác phong trào biểu tình
của đồng bào Công giáo đòi quyền cai quản cho các xứ và đòi quyền quản
lý giáo phận vì lúc đó các xứ, linh mục không phải đều là người Việt Nam
mà phần lớn còn là người nước ngoài. Vì vậy làm cho các thừa sai không
thể hoạt động được, đến chỗ chấm dứt hoạt động. Hai tiểu chủng viện,
trường thầy giảng, trường nhà chung và các cơ sở xã hội cũng dần dần
đóng cửa. Tuy nhiên, số linh mục và số lượng giáo dân vẫn gia tăng. Cho
đến ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng 8 năm 1945, số đông đồng bào
Công giáo cũng tham gia các đoàn biểu tình, mít tinh cướp chính quyền.
Đây là bước ngoặt của đạo Công giáo ở Việt Nam nói chung và Thanh Hóa
nói riêng; là thời kỳ đầy phức tạp và thử thách trước sự thắng lợi của cách
mạng và sự quay lại của thực dân Pháp. Không ít vùng Công giáo nhà thờ
lại thành nơi tụ họp của bọn phản động, làm tay sai cho Pháp, thậm chí còn
là lô cốt chống lại chính quyền cách mạng, nuôi dấu gián điệp như đảo Mê,
sáng suốt của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Thanh Hóa, với sự tham mưu
của các ban ngành chức năng, chúng ta đã giải quyết ổn thỏa nhiều vấn đề
cụ thể. Mặt khác, các hình thức sinh hoạt của đạo Công giáo cũng đang dần
23
dần thay đổi, điều chỉnh làm cho đạo gần đời hơn và sống phúc âm trong
lòng dân tộc.
Qua sự trình bày trên chúng tôi có một số nhận xét sau:
Với địa bàn tỉnh Thanh Hóa, từ điều kiện địa lý tự nhiên cho đến
kinh tế- văn hóa xã hội và con người vào đầu thế kỷ XVII như vậy là điều
thuận lợi cho việc truyền đạo Công giáo vào Thanh Hóa, với tư cách là một
tôn giáo ngoại sinh.
Đạo Công giáo vào Thanh Hóa, cũng như vào các địa phương khác,
lúc ban đầu không dễ dàng gì. Bởi vì trước khi là tín đồ Công giáo họ là
người Việt Nam với quan niệm của người dân về tín ngưỡng tôn giáo, niềm
tin, quan niệm đạo đức, tập tục thờ cúng Tổ tiên... Sự va chạm với các tôn
giáo khác nhất là tam giáo đồng nguyên. Bên cạnh đó sự ngăn cấm của
chính quyền phong kiến đối với đạo Công giáo.
Đạo Công giáo vào Thanh Hóa cũng có những nét riêng biệt của
nó.Lúc đầu đạo Công giáo ở đây có sự gắn liền với địa phận Ninh Bình và
tỉnh Hủa Phăn của Lào, về sau mới tách ra một giáo phận độc lập. Đây
cũng là một trong những giáo phận mà tín đồ Công giáo cùng chung một
đơn vị hành chính tỉnh và cũng là nơi có tín hữu đầu tiên của Việt Nam.
Đạo Công giáo vào Thanh Hóa chủ yếu bằng đường thủy, tín đồ
Công giáo buổi đầu chủ yếu là dân các vùng ven sông, ven biển, các cửa sông
và những vùng đất mới khai phá, mới lập nên thôn, xóm, làng, xã. Nhìn
chung tín đồ Công giáo có trình độ dân trí thấp nhưng sống khá tập trung.
1.2. TÌNH HÌNH ĐẠO CÔNG GIÁO Ở THANH HÓA HIỆN NAY
1996-2000 là 333,4 kg, vượt mục tiêu đề ra là 300 kg người/ năm.
Tỉ lệ thu ngân sách so với GDP 5 năm 1996-2000 chiếm 8,5% đạt
85% mục tiêu đã đề ra.
25
Tổng chi ngân sách bình quân hàng năm trong 5 năm qua là 1035 tỷ
đồng bằng 1,4 lần thu.
Tổng đầu tư trên địa bàn trong 5 năm 1996-2000 đạt 14.740 tỷ
đồng, chiếm 34,7% GDP, riêng xuất khẩu năm 2000 là 30,0 triệu USD,
thấp xa so với mục tiêu đề ra, hàng loạt sản phẩm dự kiến xuất khẩu như
đường, xi măng, lương thực... chưa thực hiện được và còn thấp, nhập khẩu
năm 2000 là 30,0 triệu USD, cả 5 năm 1996-2000 đạt 142,65 triệu USD
(không kể các liên doanh).
Đối với lĩnh vực xã hội trong 5 năm qua một số chỉ tiêu đạt được
như dân số, phổ cập giáo dục, phát thanh truyền hình, giảm các bệnh xã
hội, chăm sóc trẻ em...làm cho đời sống xã hội tương đối ổn định, có bước
được cải thiện. Tuy nhiên một số mục tiêu như xóa đói giảm nghèo, đào tạo
nguồn nhân lực, tệ nạn xã hội có chiều gia tăng đang là những vấn đề bức
xúc cần được quan tâm.
Cụ thể là:Về giáo dục thống kê đến năm học 1998-1999, tổng số
trường là 637, tổng số lớp là 6.737, tổng số giáo viên 7.806 và tổng số học
sinh là 168.434.Về công tác phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ
đến nay đạt 100%, phổ cập giáo dục trung học cơ sở đang được tăng
cường, dự kiến đến tháng 12 năm 2000 đạt 40% xã, phường đạt chuẩn
trung học cơ sở.
Về Y tế có bình quân 12 bác sĩ trên một vạn dân.Trong đó có 36,5%
số xã, phường có bác sĩ, trẻ em được tiêm chủng đạt 98%, tỷ lệ trẻ em bị
suy dinh dưỡng còn 39%, tỷ lệ giảm sinh trung bình còn 1,06%,tăng tự