1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và hội nhập quốc tế, vấn đề bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ (QSHTT) trở nên đặc biệt quan trọng và là mối quan tâm
hàng đầu của các quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế. Trên thực tế, ở Việt
Nam chưa bao giờ vấn đề bảo hộ QSHTT lại được coi trọng như hiện nay. Sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước với rất nhiều cơ
hội và thách thức đòi hỏi chúng ta phải có cơ chế, chính sách thúc đẩy hoạt
động sáng tạo và bảo hộ QSHTT. Việc thể chế hoá các quan điểm, chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về sở hữu trí tuệ (SHTT), xây dựng cơ chế
bảo hộ QSHTT hữu hiệu là những yếu tố quan trọng, mang tính quyết định
đến sự thành công của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là sau khi Việt
Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Theo tinh thần của Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của
Bộ Chính trị "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới" và Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020", thì việc hoàn thiện pháp luật bảo hộ QSHTT, hình
thành và phát triển thị trường khoa học - công nghệ theo hướng mở rộng
phạm vi các đối tượng được bảo hộ QSHTT phù hợp yêu cầu của WTO và
các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là việc làm cấp bách. Báo cáo
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ngày 10-4-2006 về phương
hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xó hội 5 năm 2006-2010 cũng khẳng
định:
Thực hiện tốt Luật sở hữu trí tuệ và Luật chuyển giao công
nghệ, đổi mới quản lý nhà nước đối với thị trường khoa học, công
"Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về thủ tục bảo vệ quyền sở
3
hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân Việt Nam hiện nay" để làm luận văn tốt
nghiệp cao học luật, chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới, vấn đề bảo hộ QSHTT nói chung và thủ tục bảo hộ
QSHTT tại TAND nói riêng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Tuy
nhiên, ở Việt Nam, vấn đề này còn khá mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn, vì
vậy, việc nghiên cứu về QSHTT đã và đang được giới luật gia hết sức quan
tâm. Trong những năm gần đây, đã có một số công trình tiêu biểu như sau:
"Những vấn đề pháp lý cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế" do Tiến sĩ Đặng
Quang Phương biên soạn, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005; "Đổi mới và hoàn
thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ" do Tiến sĩ, Luật sư Lê Xuân Thảo biên soạn,
Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005; "Nâng cao vai trò và năng lực của Toà án trong
việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực
tiễn", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Viện Khoa học xét xử, TANDTC
chủ trì, 1999; "Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam", Luận án tiến sĩ
luật học của Lê Xuân Thảo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1996...
Bên cạnh đó còn có một số tài liệu hội thảo khoa học có liên quan
như: Tài liệu hội thảo về đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp quốc gia
về "Cơ chế thực thi pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình
hội nhập quốc tế của Việt Nam" (mã số QGTĐ.03.05) do Đại học Quốc gia
Hà Nội thực hiện; Tài liệu hội thảo về thực thi Luật SHTT do Cơ quan phát
triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Dự án Hỗ trợ thúc đẩy thương mại (STAR
VIETNAM) và TANDTC tổ chức, tháng 8-2006…
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập đến việc đổi mới và hoàn
Từ mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung và thực tiễn hoàn thiện pháp luật
5
về thủ tục bảo vệ QSHTT tại TAND;
- Phân tích thực trạng pháp luật về thủ tục bảo vệ QSHTT và vai trò
giải quyết tranh chấp QSHTT tại TAND;
- Đề xuất một số giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện
pháp luật về thủ tục bảo vệ QSHTT tại TAND.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, trên cơ sở lý luận của
khoa học chuyên ngành về SHTT, đồng thời vận dụng những quan điểm cơ
bản của Đảng và Nhà nước ta về phát triển khoa học - công nghệ và SHTT
trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử như: phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp kết hợp giữa lý luận với
thực tiễn, phương pháp phân tích, tổng hợp và sử dụng số liệu thống kê,
phương pháp so sánh luật, trên cơ sở xem xét tính phổ biến của pháp luật
trong khu vực cũng như pháp luật trên thế giới về bảo vệ QSHTT tại hệ thống
Toà án.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Trong lĩnh vực bảo hộ QSHTT, việc bảo vệ QSHTT tại TAND bằng
các hình thức nào, trình tự thủ tục ra sao, thực tiễn như thế nào... chưa được
nghiên cứu, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về cơ sở lý luận và thực
tiễn hoàn thiện pháp luật về thủ tục bảo vệ QSHTT tại TAND ở nước ta trong
tình hình hiện nay. Luận văn góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về thủ tục bảo
vệ QSHTT tại TAND; phân tích thực trạng pháp luật về trình tự, thủ tục tố
tụng (hành chính, hình sự, dân sự) và phân tích thực trạng giải quyết các vụ
án về QSHTT tại TAND, nêu ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của
Những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng
tạo được thừa nhận là tài sản trí tuệ. Tài sản trí tuệ thường tồn tại dưới dạng
những thông tin kết hợp chặt chẽ với nhau, được thể hiện trong những vật thể
hữu hình và bản thân vật mang thông tin đó có khả năng xuất hiện trong cùng
một thời điểm với số lượng bản sao không giới hạn ở những địa điểm khác
nhau trên thế giới. Quyền sở hữu trong trường hợp này không phải là quyền
sở hữu bản thân các bản sao hữu hình mà chính là quyền sở hữu hình thức thể
hiện những thông tin chứa đựng trong các bản sao đó [40].
Tài sản trí tuệ có khả năng chia sẻ và mang tính xã hội rất cao. Mỗi
thành quả được tạo ra từ hoạt động trí tuệ của con người sẽ đem đến cho toàn
xã hội, toàn nhân loại những giá trị mới về tinh thần, về tri thức. Thuộc tính
vô hình của loại tài sản này khiến cho việc sử dụng, khai thác sản phẩm trí tuệ
từ người này không làm hao giảm hoặc ảnh hưởng đến việc sử dụng của
người khác cũng như của những người sáng tạo ra chúng. Vì vậy, tài sản trí
tuệ sẽ đem lại lợi ích hoặc về khía cạnh tinh thần và tri thức hoặc khía cạnh
kinh tế cho mọi người và toàn xã hội. Tuy nhiên, cũng xuất phát từ tính đặc
biệt này của tài sản trí tuệ nên nó không thể bị chiếm hữu về mặt thực tế, song
khả năng lan truyền sự chiếm hữu đó lại rất nhanh và rất khó kiểm soát. Mặt
khác, khi đã được công bố, nó cũng dễ dàng bị sao chép, sử dụng và khai thác
một cách rộng rãi ở bất kỳ nơi nào bởi bất kỳ ai... [50].
8
Tuy những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động
sáng tạo mặc nhiên được thừa nhận là tài sản trí tuệ, nhưng cần phải phân biệt
giữa QSHTT và quyền sở hữu tài sản. Nếu như quyền sở hữu tài sản bao gồm
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt của chủ sở hữu, thì
QSHTT có nội hàm rộng hơn. Theo khái niệm chung nhất, trong Công ước
thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) ký tại Stockholm ngày 147-1967:
định: "Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng
chế, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn
học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước bảo hộ
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp" [34]. Việc "hoàn thiện pháp luật
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hình thành và phát triển thị trường khoa học công nghệ theo hướng mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ phù hợp với yêu cầu của WTO và các điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên" [30] và việc "hoàn thiện pháp luật về khoa học công
nghệ... thực hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ" [30] là một trong những
định hướng được nêu tại mục 3 phần II của Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày
24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
Trên bình diện chung, thực chất của quá trình cải cách kinh tế của Việt
Nam nhằm hướng đến xây dựng hệ thống thị trường toàn diện theo nguyên lý
của kinh tế thị trường (điều kiện quan trọng để hội nhập kinh tế toàn cầu và
gia nhập WTO). Có thể nói rằng, từ năm 1986 đến nay, Chính phủ Việt Nam
đã thể hiện sự quyết tâm "mở cửa" để gia nhập WTO và việc gia nhập WTO
đang được thực hiện theo đúng lộ trình.
Theo pháp luật Việt Nam, QSHTT là chế định pháp luật dân sự, thuộc
quan hệ pháp luật dân sự, trong đó các yếu tố cấu thành bao gồm chủ thể,
khách thể và nội dung. QSHTT là một phạm trù pháp lý trong quyền sở hữu
dân sự nói chung, giống như các quyền dân sự khác, các quy phạm pháp luật
10
về QSHTT bao gồm những nhóm quy phạm về: các hình thức sở hữu; căn cứ
phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu; cách thức, biện pháp dịch chuyển quyền sở
hữu và bảo vệ quyền sở hữu. Tuy nhiên, QSHTT là quyền sở hữu đối với tài
sản vô hình, là các sản phẩm sáng tạo của trí tuệ con người; do đó, nội dung
của QSHTT không hoàn toàn giống quyền sở hữu tài sản hữu hình khác do
của người khác thành tác phẩm có tính sáng tạo, là tác giả của tác phẩm biên
soạn, chú giải, tuyển chọn đó cũng được công nhận là tác giả.
Có thể nói rằng, khái niệm này chưa có tính khái quát, mới mang tính
thống kê nhưng không đầy đủ. Khái niệm "tác giả" đã được hoàn thiện hơn tại
Điều 736 của BLDS năm 2005; theo đó, người sáng tạo tác phẩm văn học,
nghệ thuật, khoa học (sau đây gọi chung là tác phẩm) là tác giả của tác phẩm
đó; trong trường hợp có hai người hoặc nhiều người cùng sáng tạo ra tác
phẩm thì những người đó là các đồng tác giả; người sáng tạo ra tác phẩm phái
sinh từ tác phẩm của người khác, bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ
này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn,
chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác phẩm phái sinh đó. Theo chúng tôi, việc
đưa khái niệm tác giả vào BLDS năm 2005 là hoàn toàn cần thiết và phù hợp
với thông lệ quốc tế. Khi được công nhận là tác giả thì sẽ có quyền tương ứng
gọi là QTG. QTG là một trong những quyền con người được quy định trong
Tuyên ngôn chung về Nhân quyền và tại các Thỏa ước quốc tế của Liên Hợp
Quốc, đồng thời QTG cũng là một quyền pháp lý rất quan trọng nhằm bảo hộ
các tác phẩm văn học, nghệ thuật [66, tr. 10]. Tác phẩm văn học, nghệ thuật là
tất cả các sản phẩm sáng tạo của con người để làm giàu cho trí tuệ và tâm hồn
con người, bao gồm tất cả các loại hình văn học (như: tiểu thuyết, thơ, kịch
bản...), các loại hình nghe nhìn (như: hội họa, âm nhạc, điện ảnh...) và các
thành quả nghiên cứu khoa học.
Luật SHTT định nghĩa: "Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân
đối với tác phẩm do mỡnh sỏng tạo ra hoặc sở hữu" (khoản 2 Điều 4) [64].
QTG bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân bao gồm
các quyền: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm;
được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố
12
13
hỡnh, chương trỡnh phỏt súng, tớn hiệu vệ tinh mang chương trỡnh được mó
hoỏ. Quyền liờn quan phỏt sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi õm, ghi
hỡnh, chương trỡnh phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trỡnh được mó
hoỏ được định hỡnh hoặc thực hiện mà khụng gõy phương hại đến QTG. Nếu
như QTG bao gồm quyền nhõn thõn và quyền tài sản thỡ quyền liờn quan tựy
thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Đối với cuộc biểu diễn nếu người biểu diễn
đồng thời là chủ đầu tư thỡ cỏc quyền nhõn thõn bao gồm các quyền: được
giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hỡnh, phỏt súng
cuộc biểu diễn; bảo vệ sự toàn vẹn hỡnh tượng biểu diễn, không cho người
khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hỡnh thức nào gõy phương
hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn. Về quyền tài sản bao gồm độc
quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền: định hỡnh
cuộc biểu diễn trực tiếp của mỡnh trờn bản ghi õm, ghi hỡnh; sao chộp trực
tiếp hoặc giỏn tiếp cuộc biểu diễn của mỡnh đó được định hỡnh trờn bản ghi
õm, ghi hỡnh; phỏt súng hoặc truyền theo cỏch khỏc đến công chúng cuộc
biểu diễn của mỡnh chưa được định hỡnh mà cụng chỳng cú thể tiếp cận
được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng; phân phối
đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mỡnh thụng qua hỡnh
thức bỏn, cho thuờ hoặc phõn phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà
công chúng có thể tiếp cận được. Trường hợp người biểu diễn không đồng
thời là chủ đầu tư, thỡ người biểu diễn có các quyền nhân thân và chủ đầu tư
có các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn. Đối với bản ghi âm, ghi hỡnh cú
độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sao chép
trực tiếp hoặc giỏn tiếp bản ghi õm, ghi hỡnh của mỡnh; phõn phối đến công
chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hỡnh của mỡnh thụng qua hỡnh
thức bỏn, cho thuờ hoặc phõn phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà
công chúng có thể tiếp cận được. Đối với việc phát sóng có độc quyền thực
hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền: phát sóng, tái phát sóng
và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự
biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được
(khoản 24 Điều 4 của Luật SHTT) [64].
15
Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
giống cây trồng mới do mỡnh chọn tạo hoặc phỏt hiện và phát triển hoặc được
hưởng quyền sở hữu. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây
trồng và vật liệu nhân giống. Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên
cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật SHTT.
BLDS năm 2005 có bổ sung quyền đối với giống cây trồng và bảo hộ
như các tài sản trí tuệ khác. Giống cây trồng được bảo hộ độc lập, không nằm
trong các đối tượng QSHCN, nó được bảo hộ nếu có tính khác biệt (mới), tính
đồng nhất (tính trạng biểu hiện như nhau của các cây cùng giống), tính ổn
định (các tính trạng không thay đổi qua nhân giống) và tính mới trong thương
mại (vật liệu nhân hoặc sản phẩm thu hoạch chưa được bán trước thời hạn
quy định). Ngoài ra, giống cây trồng phải thuộc danh mục các chi, loài được
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố. Quyền sở hữu giống cây trồng
thuộc về doanh nghiệp đầu tư vật chất và nhân lực cho việc tạo ra giống mới. Tuy
nhiên, quyền chỉ được xác lập theo thủ tục đăng ký tại Văn phòng giống cây trồng
thuộc Vụ Khoa học, Công nghệ và Chất lượng sản phẩm (Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn).
1.1.2. Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Có thể nói rằng, việc xâm phạm QSHTT chủ yếu vì mục đích kinh tế,
mục tiêu lợi nhuận. Bắt đầu từ việc tăng tỷ trọng trí tuệ trong sản xuất, dịch
vụ và thương mại, giá trị trí tuệ trong sản phẩm hàng hoá đã thúc đẩy các
doanh nghiệp cạnh tranh, nhưng bên cạnh lợi ích, hiệu quả của sự cạnh tranh
chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan,
quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Trong lĩnh vực SHTT, bảo hộ QSHTT bao gồm: bảo hộ QTG, quyền
liên quan; bảo hộ QSHCN và bảo hộ quyền đối với giống cây trồng. Trên
thực tế không có quan điểm cụ thể nào đưa ra khái niệm chung về bảo hộ
QTG, quyền liên quan, bảo hộ QSHCN và bảo hộ quyền đối với giống cây
trồng. Chủ yếu và phổ biến nhất là nghiên cứu khái niệm qua các công ước
17
liên quan đến QSHTT (như Công ước PARIS, Công ước BERNE…) và Từ
điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội. Theo Từ
điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì:
Bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của
tác giả, chủ sở hữu tác phẩm đối với toàn bộ hoặc một phần tác phẩm
văn học, nghệ thuật, khoa học...
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ sản phẩm trí
tuệ, quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền sở hữu công
nghiệp như: tác giả, chủ Văn bằng bảo hộ và người sử dụng hợp
pháp đối tượng quyền sở hữu công nghiệp [76, tr. 19].
Trong Công ước PARIS (Điều 6 bis), bảo hộ QSHCN bao gồm các
đối tượng bảo hộ là sáng chế, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu
hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn xuất xứ hoặc tên gọi
xuất xứ hàng hoá, cũng như việc ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh. Từ
điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội cũng
chưa đưa ra khái niệm thuật ngữ "bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả"
và khái niệm thuật ngữ "bảo hộ quyền đối với giống cây trồng".
Như vậy, qua phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm bảo hộ quyền
liên quan đến quyền tác giả là: Bảo hộ quyền đối với cuộc biểu diễn, bản ghi
gọi luật hình thức). Dưới góc độ thủ tục tố tụng, "thủ tục" được định nghĩa
như sau: "Thủ tục là một tiến trình được thực hiện theo tuần tự, bao gồm tất
cả các hành vi và sự kiện xảy ra trong khoảng từ thời điểm bắt đầu các hành
vi tố tụng cho đến khi bản án, quyết định của Tòa án được ban hành" [87, tr.
1221]. Về cơ bản tác giả đồng ý với quan điểm trên, nhưng cần phải làm rừ
hơn,"thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Tũa án" được hiểu là trình tự, thủ
tục để cá nhân, tổ chức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp
chống lại sự vi phạm đối với tài sản SHTT của phía thứ ba và trình tự, thủ tục
do Tòa án tiến hành giải quyết yêu cầu đó từ thời điểm bắt đầu thụ lý đơn yêu
cầu cho đến khi kết thúc bằng một bản án hoặc quyết định theo quy định của
pháp luật tố tụng.
1.2. NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC BẢO VỆ QUYỀN SỞ
HỮU TRÍ TUỆ
QSHTT là quyền sở hữu mang tính chất tư, song nó có tác động rất
21
lớn đến lợi ích chung của toàn xã hội và có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với
kinh tế - thương mại, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Trong xu
hướng toàn cầu hóa, QSHTT là phần không thể thiếu trong chiến lược phát
triển kinh doanh của mỗi doanh nghiệp và chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội ở mỗi quốc gia. Trong những năm gần đây việc bảo hộ SHTT đã trở thành
nội dung quan trọng trong thương mại quốc tế. Những hành vi xâm phạm
QSHTT đối với các chủ sở hữu các tài sản trí tuệ, những tranh chấp và mâu
thuẫn thương mại về QSHTT có yếu tố nước ngoài, mang tính đa quốc gia đã
đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo hộ QSHTT. Tuy nhiên, các hệ thống luật pháp
về QSHTT của các nước rất khác nhau, tùy thuộc vào các chính sách văn hóa,
công nghiệp và các yếu tố khác... Do vậy, để tìm ra một giải pháp giải quyết
cũng phải đáp ứng được. Sự ra đời của TRIPs đã mang lại những thay đổi căn
bản pháp luật về SHTT của các nước thành viên WTO, ngoài việc đồng nhất
hóa về pháp luật, TRIPs còn tiến tới loại bỏ các quy định về thủ tục hành
chính và các kỹ thuật bất lợi cho hoạt động SHTT quốc tế.
Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, sự hợp tác có thể cả phụ thuộc
lẫn nhau trong quan hệ kinh tế ngày càng sâu sắc hơn; sự phân công công việc
trên bình diện quốc tế được coi là mục tiêu quan trọng trong hợp tác quốc tế,
nhưng điều đó cũng đồng nghĩa là sẽ có những tranh chấp về kinh tế quốc tế
phát sinh. Về nguyên tắc, tất cả các hiệp định thương mại đa phương được ký
kết trong khuôn khổ của WTO đều được xác định là những văn bản luật về
kinh doanh - thương mại có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các quốc gia là
thành viên của WTO. Trong trường hợp có bất cứ một sự khác biệt nào giữa
các quy định trong các hiệp định đó với luật lệ của các quốc gia thành viên,
thì các quy định trong các hiệp định đó sẽ được ưu tiên áp dụng. Do đó, các
quốc gia cần phải có các khung pháp lý nhất định đề ra các nguyên tắc pháp
lý nhằm bảo đảm phù hợp với "luật chung" của nền kinh tế thế giới đang
trong xu hướng toàn cầu hóa [51, tr. 42].
Ở Việt Nam, bảo hộ QSHTT được Hiến pháp năm 1992 quy định và
được thể hiện trong các nghị quyết của Bộ Chính trị. Chính sách bảo hộ
SHTT là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính sách pháp luật. Trong
23
Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020 đã nhận định: "Hoàn thiện pháp luật về khoa
học công nghệ... thực hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ" [30] là một
nhiệm vụ trọng tâm (mục 3 phần II của Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-52005 của Bộ Chính trị).
- Về hình thức: Chính sách bảo hộ SHTT thể hiện được quan điểm,
đường lối do Đảng và Nhà nước đề ra để phát triển khoa học - công nghệ,
chớnh hoặc hỡnh sự. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT), biện pháp
kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT, biện pháp
ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của luật này và các
quy định khác của pháp luật có liên quan. Như vậy, chủ thể QSHTT có quyền
tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước cú thẩm quyền xử lý hành vi xõm
phạm QSHTT theo quy định của pháp luật; khởi kiện ra Tũa ỏn hoặc Trọng
tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỡnh. Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý
phân biệt biện pháp hành chính quy định tại Luật SHTT với biện pháp hành
chính mà tác giả nêu trong luận văn (về thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính tại TAND theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính). Theo tinh thần quy định tại điểm c khoản 1 Điều 198, các điều 200,
211, 214 và Điều 215 của Luật SHTT, biện pháp hành chính được áp dụng
trong trường hợp cá nhân, tổ chức có hành vi xâm phạm QSHTT sẽ bị xử phạt
hành chính theo quy định của pháp luật về xử lưý vi phạm hành chính, các cơ
quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Ủy ban nhõn dõn cỏc
cấp cú thẩm quyền xử lý cỏc hành vi xõm phạm QSHTT đó. Đối với TAND,
Luật SHTT chỉ quy định: "Việc ỏp dụng biện phỏp dõn sự, hỡnh sự thuộc
thẩm quyền của Toà ỏn" (khoản 2 Điều 200) [64], nhưng căn cứ theo thẩm
quyền của TAND được quy định trong Luật tổ chức TAND, Luật khiếu nại tố
cáo, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và các văn bản quy
phạm pháp luật có liên quan khác, thì TAND có thẩm quyền giải quyết các
khiếu kiện của cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức đối với các QĐHC, HVHC
trái pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà
25
nước ban hành trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
SHTT, về thẩm quyền, thủ tục giải quyết các khiếu nại QĐHC, HVHC đó