Sáng kiến kinh nghiệm
“KỂ CHUYỆN VÀO BÀI… BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO
HS ...”
LỜI NÓI ĐẦU
Có một thực tế đáng buồn cho những giáo viên dạy Ngữ văn hiện nay là :
học sinh chán học văn. Tìm tòi, suy nghó để có được một giải pháp khả thi nhằm gây
hứng thú cho học sinh là điều bản thân hằng trăn trở. Mà nói đến hứng thú trong
giờ học văn lại không thể không nhắc đến phương pháp tạo hứng thú của người dạy.
Một tiết dạy Ngữ văn cũng như một buổi trình diễn nghệ thuật vậy. Thành
hay bại là xét cả quá trình tiết dạy diễn ra. Tuy nhiên, bản thân cứ mỗi lần vào
bài cho một tiết dạy thấy hứng khởi thì tiết dạy đó thực sự như ý. Từ đó nghó rằng
phải có cách để vào bài thật hấp dẫn chứ! Thế là ý tưởng “kể chuyện vào bài”
được manh nha, ấp ủ.
Nói cho nho nhã, ông bà ta có câu “Vạn sự khởi đầu nan”, hay dân dã hơn
: “Đầu xuôi đuôi lọt”! Vì thế, người viết đề tài này chỉ xin được nói đến công
đoạn vài phút đầu tiên của một tiết dạy Ngữ văn mà thôi. Tất nhiên để dẫn dắt
vào bài học mới, mỗi thầy cô giáo đều có một phương pháp thường dùng. Nhưng
nói rằng vào bài lôi cuốân, hấp dẫn sự tập trung cho học sinh ngay từ đầu tiết dạy
thì thật không đơn giản.
Thi só Xuân Diệu từng viết: “Lí thuyết chỉ là màu xám… và cây đời thì
mãi mãi xanh tươi”. Thực tế giảng dạy là cả một quá trình tự hoàn thiện chức
năng người thầy. Sau một thời gian thực nghiệm ở cả những lớp các biệt yếu kém,
bản thân nhận thấy có thể chia sẻ chút ít kinh nghiệm của mình về vấn đề này nên
mạnh dạn trình bày như một sáng kiến kinh nghiệm trong phạm vi hẹp với nhan đề:
“KỂ CHUYỆN VÀO BÀI - MỘT BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ
CHO HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN.”
Do khả năng trình bày có hạn,đề tài tuy chẳng phải mới mẻ nhưng bản chất
và học văn hiện nay.
Ngữ văn trong nhà trường phổ thơng thường được xác định là một mơn
học cơng cụ. Nếu căn cứ vào quy chế xếp loại học lực HS, Ngữ văn còn được
xem là mơn chính (cùng với mơn Tốn). Quy định là thế, hiểu với nhau là thế,
nhưng cái vai trò “chính” của bộ mơn – trong thực thế dạy-học hiện nay- chưa
mấy được thể hiện và phát huy một cách tương xứng.
Thầy cơ giáo (từ đây được hiểu là giáo viên THPT) hiện đang trực tiếp
giảng dạy Ngữ văn có thể chia làm 3 thế hệ: trước năm 1990, từ 1990 đến năm
2005 và từ 2005 đến nay. Tất cả đều được đào tạo từ các trường ĐHSP cơng
lập với nhiều hệ khác nhau. Sự thống nhất về quan điểm đối với Ngữ văn và
việc giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường phổ thơng được thể hiện rất rõ ở tầm
vĩ mơ. Nhưng ở góc độ vi mơ, ba thế hệ giáo viên song song tồn tại ba dòng
kiến thức, ba cách tiếp cận tác phẩm và có thề nói là cả ba cách truyền thụ khác
nhau. Những buổi tập huấn chung, mang tính “cưỡi ngưa xem hoa” về phương
pháp chỉ dừng ở mức độ định hướng, còn thực dạy thì mỗi người một vẻ.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng ca ngợi “Nghề giáo là một nghề
cao q nhất trong tất cả những nghề cao q!” Nhưng trước đó, tự thân “kỹ
sư tâm hồn” đã là một nghề có tính đặc thù cao, đặc thù cả trong đào tạo, trong
sản phẩm làm ra, trong mơi trường hoạt động, trong tương quan xã hội…Riêng
đối với GV dạy văn, đặc thù còn bởi nó vừa mang tính khoa học, vừa mang
tính nghệ thuật. Yếu tố nghệ thuật trong GD Ngữ văn ngay từ khi bước vào
Trường ĐHSP đã bị xem nhẹ. Giáo sinh ra trường, nhiều người khơng thể dạy
Văn được-bởi trong ngơn ngữ giao tiếp của họ khơng thấy có chất văn, mặc dù
viết lách rất tuyệt vời và kiến thức có thể rất un bác! Đây là một mâu thuẫn
nội tại và cũng là một thực tế đáng buồn: có kiến thức, có phương pháp mà
khơng thể trở thành thầy giỏi-họ đã đứng nhầm bục giảng một cách oan uổng!
Đối với bản thân người giáo viên dạy Ngữ văn, khả năng thích nghi với
những biến động - mà nhiều nhà giáo dục tâm huyết gọi là những cải cách
chóng mặt trong hơn hai thập niên qua về chương trình, nội dung Ngữ văn
trong nhà trường phổ thơng - là chưa cao. Thế hệ thứ nhất cảm thấy khó khăn
ấn phẩm siêu hạng, đang bán chạy nhất trên thị trường sách. Kiến thức cơ bản
về ngữ văn nhiều em bị hổng - rất nhiều em khơng viết nổi một lá đơn xin
phép nghỉ học cho đủ nội dung và đúng bài bản. Ngơn ngữ nói thì cộc lốc,
khơng đầu khơng đi. Trong giờ học văn thì ngáp ngắn ngáp dài. Thầy u
cầu trả bài thì đọc thuộc như vẹt. Khi kiểm tra, thi cử thì đạo văn người khác;
đánh trắc nghiệm thì “chằm chày may rủi”…
Các em khơng được trang bị một cách đầy đủ phương pháp tiếp cận một
tác phẩm. Học theo ý thầy giảng là đã q lắm rồi (!). Trong trường phổ thơng
hiện nay, hiếm khi thấy có một học sinh nêu lên chính kiến của mình về một
nhân vật, một hình ảnh thơ, một cách diễn đạt… Các em ngày càng thụ động,
xa rời bản chất của người học văn.
Cũng phải nói thêm rằng, trong xã hội thị trường hóa nhiều lĩnh vực như
hiện nay, học giỏi Văn khơng bằng giỏi Tốn-Lý-Hóa-Ngoại ngữ…, cơ hội
việc làm, thu nhập cao vẫn là mồi nhử hấp dẫn khiến các em xa dần mơn Văn.
Nhiều học sinh có khả năng cảm thụ tốt, hành văn trơi chảy nhưng phụ huynh
vẫn khơng mặn mà lắm khi định hướng cho con em mình học chun văn
chẳng hạn. Học văn chỉ mong sao đừng dưới trung bình còn đầu tư mạnh vào
các mơn tự nhiên…
Lý do thứ hai thơi thúc bản thân là bởi năm học 2008-2009 được BGD
chọn là năm học hưởng ứng thiết thực cuộc vận động xây dựng “Trường học
thân thiện, học sinh tích cực”. Mà muốn có sự tích cực từ phía học sinh, nhất
thiết phải có sự kích hoạt của người thầy. Vậy sự kích hoạt ấy là gì?
Có nhiều cách kích hoạt, nhiều giải pháp nhằm khắc phục thực trạng học
sinh thụ động và chán học Văn như đã nêu trên. Bản thân, trong hơn mười lăm
năm trực tiếp giảng dạy Ngữ văn trung học phổ thơng, tự thấy mình vẫn chưa
làm tròn trách nhiệm. “Sản phẩm” tạo ra vẫn còn nhiều tì vết, chưa được như
mong muốn. Rồi thì cố gắng suy nghĩ, mày mò tìm hiểu hầu mong tìm ra một
giải pháp nào đó để đưa các em về với văn chương. Có những lúc bước vào lớp
học, cả lớp hơn 40 học sinh đồng loạt vỗ tay, lòng thật dạt dào vui sướng. Các
em đã đặt hết niềm tin và hy vọng vào Thầy. Vậy còn Thầy?
khoa học theo hướng tích hợp cao, nhưng vẫn có sự phân biệt nên có thể gọi là
3 phân mơn.
Bước đầu, bản thân thử áp dụng cho mỗi phân mơn 2 tiết (tức 6 tiết
dạy cụ thể-tương ứng với 6 câu chuyện chọn lọc được lồng ghép kể vào đầu
giờ dạy)
a) Đối với phân mơn đọc văn: Kể hai chuyện:
+ Chuyện “Lê Lợi vi vương, Nguyễn Trãi vi thần”: dành vào bài cho
tiết “Tác gia Nguyễn Trãi”- Lớp 10 (cơ bản);
+ Chuyện “Ngọn đèn chúc ngược, xe khơng kéo mà chạy”: dành
vào bài “Xin lập khoa luật) (trích “Tế cấp bát điều” của Nguyễn Trường Tộ)Lớp 11(cơ bản).
b) Đối với phân mơn Làm văn: Kể hai chuyện:
+ Chuyện “ Giai thoại về đồng chí Lê Đức Thọ và Tiến sĩ Kit-singiơ”: dành vào bài tiết : Thao tác lập luận so sánh – Lớp 11(cơ bản).
+ Chuyện “Tin vịt” : dành vào bài tiết : “Bản tin”- Lớp 11(cơ bản).
c) Đối với phân mơn Tiếng Việt: Kể hai chuyện:
+ Chuyện “Lời dặn trên nhãn chai rượu thuốc”: dành vào bài cho
tiết tự chọn “Một số lỗi thường gặp-Lỗi về ngữ pháp”-Lớp 10(cơ bản).
+ Chuyện “Mất”: dành cho vào bài tiết : “Ngữ cảnh”- Lớp 11(cơ
bản).
B. NỘI DUNG:
I. Cơ sở khoa học (lý luận) :
Dạy học là một hoạt động nghề nghiệp vừa có tính khoa học vừa có tính
nghệ thuật rất cao. Khoa học(yếu tố ĐÚNG-ĐỦ)vì nó u cầu người dạy phải
truyền đạt chính xác và đầy đủ nội dung các đơn vị kiến thức cần đạt cho học
sinh thơng qua một phương pháp nhất định với một sự chuẩn bị càng cơng phu
càng tốt. Còn nghệ thuật(yếu tố HAY) vì nó đòi hỏi người thầy phải thực sự có
khả năng truyền được mạch cảm xúc của mình đến với học sinh bằng một
chiêu thức có thể nói là rất cá tính, nhưng trên một nền tảng kiến văn rộng và
một năng lực diễn đạt tuyệt vời. Người dạy Ngữ văn - vì thế, khơng chỉ có dạy
Nguyễn Văn Sinh
sơi nổi hay trầm lắng, tích cực hay khơng tích cực.
Thực tế trường lớp của chúng ta hiện nay, khơng phải lớp học nào cũng
tồn học sinh ngoan, chăm chỉ và tập trung. Vì thế, như một cỗ máy đầu giờ
vận hành, các em cần được kích hoạt một cách đồng bộ về mặt tâm lý. Ngay cả
đối với một lớp chỉ có vài em yếu kém, lười học, việc kích hoạt cho cả lớp vẫn
là điều rất cần thiết. Làm được điều này, các em sẽ chăm chú lắng nghe, cùng
nhau tư duy, và khi câu chuyện bất ngờ kết thúc là lúc khởi đầu cho những
kiến thức quan trọng của bài giảng mà các em sắp được lĩnh hội. Cái tâm thế
tuyệt vời ấy của học sinh ảnh hưởng rất lớn đến tâm thế của người thầy suốt
thời gian còn lại của tiết dạy.
Và như một hệ quả tất yếu, khi thầy truyền được hứng thú cho trò ngay
từ đầu giờ học thì những phút tiếp theo của tiết dạy, như một bộ truyền động
được bơi trơn: trò thích thú lắng nghe, tư duy và xây dựng bài học một cách sơi
nổi, tính tích cực trong các em như được khuyến khích và khi ấy, nhu cầu tự
bộc lộ đến với các em ; thầy say sưa với mạch giảng vốn đã được chuẩn bị rất
chu đáo của mình. Thế rồi tiếng trống kết thúc tiết dạy vang lên trong sự tiếc rẻ
của các em.
Có thể nói một cách chắc chắn rằng khả năng thành cơng của tiết dạy như
thế là rất lớn.
Mọi người đều biết rằng dạy Ngữ văn là dạy khoa học về văn chương.
Khoa học văn chương lại gắn liền với phong cách ngơn ngữ nghệ thuật. Đưa
được những mẩu chuyện kể vào bài dạy một cách khéo léo, phù hợp với trọng
tâm tiết dạy là cả một nghệ thuật, một thủ pháp “đắc nhân tâm”, có khả năng
truyền cảm mạnh mẽ - nhất là trong mơi trường sư phạm.
Nguyễn Văn Sinh
5
TRƯỜNG PT CẤP 2-3 ĐA-KIA
khơng hề có hứng thú học tập. Tất nhiên ngun nhân dẫn đến thực trạng này
thì có nhiều, nhưng bản thân nghĩ rằng, suy cho cùng thì người thầy là đối
tượng cần phải nhìn lại mình trước đã.
Từ chỗ nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá lại khả năng sư phạm của mình,
bản thân chọn lọc một số tiết dạy để thử nghiệm ý tưởng phục hồi hứng thú
học tập cho các em qua cơng đoạn vào bài của tiết dạy.
Kế hoạch thử nghiệm cụ thể như sau:
a) Đối với phân mơn Đọc văn: Kể hai chuyện:
+ Chuyện “Lê Lợi vi vương, Nguyễn Trãi vi thần”: dành vào bài cho
tiết đầu, phần“Tác gia Nguyễn Trãi” trong bài dạy “Đại cáo bình Ngơ”- Lớp
10 (cơ bản).
Lời vào bài như sau:
“Buổi đầu đầy khó khăn, gian khổ của cuộc kháng chiến chống qn
Minh, nhân dân chưa hưởng ứng vì chưa biết Lê Lợi là ai. Có một người hiền
tài đã hiến kế cho chủ tướng Lê Lợi nhằm thu phục lòng dân như sau:
Cho qn sĩ vào rừng lấy mật ong bí mật viết lên mặt lá cây tám chữ:
“LÊ LỢI VI VƯƠNG, NGUYỄN TRÃI VI THẦN”(tức “Lê Lợi là vua, Nguyễn
Trãi là tơi”).Lũ kiến gặm vào vết mật ong trên lá cây, làm hiện lên mặt lá rất
rõ tám chữ này. Những người tiều phu vào rừng đốn củi trơng thấy rất nhiều
lá cây xuất hiện “ý trời”. Một đồn mười, mười đồn trăm, nhân dân khắp vùng
kéo nhau đến đầu qn theo Lê lợi kháng chiến ngày càng đơng.
Nguyễn Văn Sinh
6
TRƯỜNG PT CẤP 2-3 ĐA-KIA
Sáng kiến kinh nghiệm
Xong buổi họp, khi vào buồng nghỉ ở khách sạn, lúc cả hai đã nằm nghỉ
lưng trên giường, Bác Thọ nói với Kit-sin-giơ:
- Thực ra, ngài chỉ dài hơn tơi một cái đầu mà thơi! (Ý nói Kit-sin-giơ
chỉ to xác mà thơi chứ trí tuệ thì chưa chắc ai hơn ai).
Cả hai nhân vật nổi tiếng trên đều sử dụng một phương pháp lập luận
rất phổ biến trong đời sống ngơn ngữ của con người-đó là lập luận so sánh
với nhiều tầng ngữ nghĩa hết sức thâm thúy.
Vậy bản chất của thao tác lập luận này ra sao? Thầy sẽ hướng dẫn các
em tìm hiểu trong tiết học làm văn hơm nay.”
+ Chuyện “Tin vịt” : dành vào bài tiết : “Bản tin”- Lớp 11(cơ bản).
Lời vào bài:
“Xưa có người đi câu gặp may, câu được cả chục con vịt trời. Về đến
nhà, chòm xóm đến chia vui và hỏi thăm kinh nghiệm. Anh ta liền kể một
mạch:
Nguyễn Văn Sinh
7
TRƯỜNG PT CẤP 2-3 ĐA-KIA
Sáng kiến kinh nghiệm
“KỂ CHUYỆN VÀO BÀI… BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO
HS ...”
- Có gì đâu! Các bác biết khơng, tơi câu cả chục con vịt mà chỉ tốn đúng
một miếng mồi thơi đấy!
Mọi người trố mắt ngạc nhiên. Anh ta kể tiếp:
+ Chuyện “Mất”: dành cho vào bài tiết : “Ngữ cảnh”- Lớp 11(cơ
bản).
Lời vào bài:
“Có một người cha rất cẩn thận, trước lúc đi vắng, dặn đứa con trai
nhỏ tuổi hễ thấy ai đến kiếm ba thì đưa ngay cho người ấy mảnh giấy này.
Đứa con vâng lời và nhét mảnh giấy vào túi.
Vài giờ sau, lúc đang mải chơi thì có người khách lạ đến hỏi:
- Bố có nhà khơng hả cháu?
Thằng bé giật mình lục ngay túi áo, mặt biến sắc, trả lời:
- Mất rồi bác ạ! (mất mảnh giấy)
Đến phiên người khách biến sắc, hỏi dồn:
Nguyễn Văn Sinh
8
TRƯỜNG PT CẤP 2-3 ĐA-KIA
Sáng kiến kinh nghiệm
“KỂ CHUYỆN VÀO BÀI… BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO
HS ...”
- Ối giời ơi! Khổ chưa! Thế mất lúc nào?(tưởng bạn chết đột ngột)
- Dạ mới mất!...
Các em thấy, qua đoạn hội thoại trên, hai nhân vật có hiểu nhau khơng? Vì
sao? Bài học tiếng Việt về Ngữ cảnh sau đây sẽ giúp các em thấy rõ bản chất
của những vấn đề ngơn ngữ tương tự câu chuyện trên.”
3) Thực tiễn ứng dụng và hiệu quả:
đại-một thời kì văn học mà rất nhiều giáo viên bộ mơn cho là khó truyền thụ
đối với thầy và khó lĩnh hội đối với trò. Nhưng bù lại, lịch sử trung đại có vơ
số chuyện kể, giai thoại về con người cũng như văn chương. Nếu đầu tư cơng
sức để thiết kế tốt bài giảng - mà trước tiên là phần vào bài sn sẻ, mạch lạctâm thế của cả thầy và trò sẽ rất thoải mái và đầy tự tin để đi nốt các phần
Nguyễn Văn Sinh
9
TRƯỜNG PT CẤP 2-3 ĐA-KIA
Sáng kiến kinh nghiệm
“KỂ CHUYỆN VÀO BÀI… BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO
HS ...”
trọng tâm của tiết dạy mà khơng còn cảm giác lo lắng về nhưng bài giảng
thuộc thời kì văn học xa xưa này.
Một số giáo viên rất ngại khi phải thao giảng tiết Làm văn bởi bản chất
khơ khan của nó. Thực ra, nếu thực sự nắm bắt được nghệ thuật giảng dạy, tiết
làm văn cũng có thể ướt át, hấp dẫn khơng kém. Qua nội dung các mẩu chuyện
kể, học sinh dần hình thành nếp học tập trung khi thấy thầy vào lớp-một kết
quả đáng giá khi thực tế việc làm ồn trong lớp vẫn thường xun gây bận tâm
cho các thầy cơ giáo.
Lẽ tất nhiên hiệu quả của đề tài này khơng thể là tồn bích được. Nếu chỉ
vào bài sn sẻ còn sau đó thì tẻ nhạt, lúng túng, thiếu chính xác, khơng đầy
đủ…thì sao có tiết giảng thành cơng được! Ý nghĩa của đề tài này chỉ gói gọnxin nhấn mạnh- chỉ gói gọn trong những phút đầu khi giáo viên vào bài mới
mà thơi! Nó chỉ là một tiền đề, một món ẩm thực khai vị trong bữa đại tiệc là
tiết dạy ngữ văn (nếu có thể ví được như thế).
10
TRƯỜNG PT CẤP 2-3 ĐA-KIA
Sáng kiến kinh nghiệm
“KỂ CHUYỆN VÀO BÀI… BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO
HS ...”
dạy của một giáo viên, đồng thời nhắc nhở, động viên các thầy cơ đứng lớp
phát huy tối đa khả năng sư phạm của mình hoặc kịp thời uốn nắn những sai
sót trong khi lên lớp./.
Nguyễn Văn Sinh
11
TRƯỜNG PT CẤP 2-3 ĐA-KIA
Sáng kiến kinh nghiệm
“KỂ CHUYỆN VÀO BÀI… BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO
HS ...”
TR. 09
1)Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm đối với việc giáo dục, dạy học:
2) Những nhận định chung về việc áp dụng và khả năng vận dụng:
3) Những ý kiến đề xuất để thực hiện, áp dụng:
Tài liệu tham khảo:
1) Tâm lí học tun truyền
(Na-đi-ra-svi-li)
2) Bài báo
(Hồ Ngọc Đại)
3) Tun truyền miệng-lý luận, tổ chức, phương pháp (Tập thể tác giả Nga)
4) Danh nhân đất Việt ( Văn Lang-Quỳnh Cư-Nguyễn Anh)
5) Truyện cười dân gian Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi)
6) Tìm hiểu chương trình SGK…(Đỗ Ngọc Thống)
Nguyễn Văn Sinh
12
TRƯỜNG PT CẤP 2-3 ĐA-KIA
Sáng kiến kinh nghiệm
“KỂ CHUYỆN VÀO BÀI… BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO
HS ...”