TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LUẬT
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC XỬ LÝ TÀI SẢN
BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Thị Huế
Th.S. Phùng Ngọc Tùng
Sinh viên thực hiện
: Đỗ Linh Chi
Mã sinh viên
: CQ530421
Lớp
: Luật kinh doanh 53B
Hà Nội - 2015
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
-
VietinBank:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam
vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Hoạt động của ngân hàng là một trong
những mắt xích quan trọng trong cấu thành sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế.
Với vai trò đó, các ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng thương mại luôn không ngừng
phấn đấu để phát triển, khẳng định vị thế của chính mình và góp phần thúc đẩy kinh tế
phát triển. Trong dòng chảy phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường, rất
nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đã được thành lập nhưng chỉ có một số ít ngân
hàng có sự phát triển vượt bậc, vững mạnh trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của
thị trường. Bằng sự chủ động trong các hoạt động kinh doanh, không ngừng đổi mới
hoạt động và đưa ra các biện pháp thích hợp đối với từng lĩnh vực kinh tế, ngân hàng
thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam (VietinBank) đã vươn lên dẫn đầu hệ
thống ngân hàng thương mại Việt Nam, đặt nền móng vững chắc lên vị trí một trong
những ngân hàng được tin cậy nhất trong nền kinh tế Việt Nam.
VietinBank là một trong những ngân hàng đứng đầu cả nước về quy mô với hệ
thống chi nhánh lớn, trải dài khắp các tỉnh thành trên cả nước. Được thành lập từ
năm 1988, trên cở sở tách ra từ NHNN Việt Nam, VietinBank là một trong bốn
NHTM Nhà nước lớn nhất giữ vai trò quan trọng, cốt lõi của hệ thống ngân hàng
Việt Nam và được xếp hạng trong 23 doanh nghiệp đặc biệt của Việt Nam. Hướng
tới tầm nhìn dài hạn, VietinBank quyết tâm trở thành tập đoàn tài chính ngân hàng
hiện đại, hiệu quả hàng đầu trong nước và quốc tế.
VietinBank không những mang trọng trách thúc đẩy nền kinh tế, mà còn
đóng vai trò định hướng phát triển cho các NHTM khác. Tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn
của VietinBank trong các năm gần đây có xu hướng giảm rõ rệt. Để đạt được kết
quả này, các cán bộ. nhân viên của VietinBank đã không ngừng phấn đấu, cống
hiến làm việc hết mình trong mọi hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động
cấp tín dụng.
1
Hoạt động cấp tín dụng là hoạt động mà TCTD sử dụng nguồn vốn tự có hoặc
Chuyên đề sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử; đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp
nghiên cứu tài liệu, phân tích và tổng hợp, khảo sát và điều tra thực tế…
Ngoài Lời mở đầu, Danh mục chữ viết tắt, Kết luận, Danh mục tài liệu tham
khảo, bố cục của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
Chương 2. Thực trạng áp dụng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam
Chương 3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc xử lý tài
sản bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt
Nam
3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN
BẢO ĐẢM TIỀN VAY
1.1.
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY
1.1.1. Những vấn đề pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
1.1.1.1. Khái niệm về bảo đảm tiền vay
Cho vay là việc thực hiện chuyển quyền sử dụng một lượng vốn nhất định bằng
tiền mặt hay các tài sản khác từ bên cho vay với bên vay. Khi cho khách hàng vay
tiền, NHTM hay TCTD phải thẩm định và tính toán được khả năng trả nợ của khách
hàng. Trong giao dịch tín dụng, do việc thực hiện nguyên tắc đi vay để cho vay gồm
những rủi ro và bất trắc nên các TCTD luôn coi trọng vấn đề bảo đảm tiền vay bằng
tài sản. Tuy nhiên, có rất nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan khiến
cho bên vay không có tiền trả nợ vào ngày đáo hạn và dẫn đến việc TCTD phải xử lý
đảm và bên bảo đảm. Bên nhận bảo đảm là bên có quyền trong quan hệ dân sự và
thực hiện quyền của mình được bảo đảm bằng một hay nhiều giao dịch bảo đảm.
Bên nhận bảo đảm có thể là bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp, bên nhận đặt cọc,
bên nhận kí cược, bên nhận bảo lãnh, TCTD trong trường hợp tín chấp và bên có
quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại trong trường hợp ký quỹ.
Bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba cam kết bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự, bao gồm: bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên
ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín
chấp.
Ngoài ra, bên nhận bảo đảm ngay tình là bên nhận bảo đảm trong trường hợp
không biết và không thể biết về việc bên bảo đảm không có quyền dùng tài sản để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Việc đảm bảo tiền vay bằng tài sản không chỉ mang lại cho NHTM sự đảm
bảo rằng NHTM không bị mất hoàn toàn khoản vay trong trường hợp bên vay
không trả được nợ, mà còn cho NHTM quyền được ưu tiên thanh toán khi người có
TSBĐ thực hiện thanh lý tài sản đó. Nếu giá trị TSBĐ vượt quá giá trị khoản vay,
thì sau khi thanh lý, khoản chênh lệch sẽ được trả lại cho bên vay sau khi số tiền
được thanh toán đầy đủ cả nợ gốc và lãi phát sinh tại NHTM. Trong trường hợp đã
xử lý TSBĐ, tuy nhiên vẫn không đủ trả nợ thì ngân hàng có thể được quyền xử lý
các tài sản khác của bên vay để thu hồi nợ nếu bên vay đồng ý giao tài sản khác để
bù trừ vào nghĩa vụ trả nợ hoặc theo sự phán quyết của toà án.
Các quy định pháp luật về bảo đảm tiền vay chính là một trong những biện
pháp bảo vệ quyền lợi chính đáng của NHTM. Hệ thống các quy định pháp luật về
bảo đảm tiền vay có thể giúp cho NHTM hạn chế, kiểm soát được các rủi ro liên
5
quan đến hoạt động của mình; hơn nữa, NHTM có thể dự đoán được khả năng
thành công trong việc xử lý TSBĐ.
6
hoa lợi thu được từ cây trồng, hoặc các khoản có thể thu khác… bởi lẽ, tại thời điểm
giao dịch bảo đảm được xác lập, những tài sản này chưa hoàn toàn thuộc quyền sở
hữu của bên bảo đảm. Mặc dù vậy, việc quy định bắt buộc TSBĐ phải thuộc sở hữu
của bên bảo đảm đã hạn chế phần lớn rủi ro cho bên nhận bảo đảm, tức các TCTD
khi thực hiện các quyền lợi của mình trên chính tài sản đó. Hiện nay, Khoản 1 Điều
4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã có quy định rộng hơn về vấn đề này. Theo đó,
các bên tham gia giao dịch bảo đảm được thỏa thuận việc bảo đảm bằng tài sản hình
thành trong tương lai, thêm vào đó, Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi Khoản 1 và
Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã quy định mở như sau: “1. Tài
sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai mà pháp
luật không cấm giao dịch.2. Tài sản hình thành trong tương lai gồm:a) Tài sản
được hình thành từ vốn vay; b) Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang
được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm; c) Tài sản đã hình
thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết
giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật. Tài
sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất.”4
Hiện nay, các TCTD không còn phải mất thời gian đi tìm hiểu thực trạng tài
sản có tranh chấp hay không và tra cứu văn bản pháp luật về điều kiện bảo hiểm
đối với TSBĐ. Tuy nhiên, trong những trường hợp cụ thể, các bên vẫn có thể
thỏa thuận áp dụng một hoặc cả hai điều kiện trên trong giao dịch bảo đảm, miễn
sao điều kiện đó có tính khả thi, thực hiện được trên thực tế và bảo đảm an toàn
vốn vay cho TCTD, đồng thời không làm ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của
khách hàng.
Tài sản được dùng làm TSBĐ tiền vay rất phong phú và đa dạng. Ngoài các
loại tài sản được quy định tại BLDS 2005: Bất động sản và động sản; quyền tài sản,
hiện nay pháp luật Việt Nam cũng cho phép sử dụng tài sản hình thành trong tương
để thu hồi vốn. Tuy khi cho vay NHTM không mong muốn phải bán TSBĐ để thu
hồi nợ nhưng đó là giải pháp cuối cùng khi mà khách hàng không trả được nợ hoặc
không trả được hết.
Xử lý TSBĐ tiền vay là một trong những hoạt động tín dụng, cụ thể là hoạt
động thực hiện các biện pháp đối với TSBĐ của bên vay nhằm thu hồi nợ đến hạn.
BLDS 2005 có quy định rằng đối với các hình thức bảo đảm, khi đã hết hạn thực
hiện nghĩa vụ mà bên cầm cố, thế chấp vẫn không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận thì TSBĐ phải được xử lý theo phương thức mà hai
8
bên thỏa thuận (bán tài sản, giao tài sản, thanh toán giá trị tài sản…) hoặc được bán
đấu giá để thực hiện nghĩa vụ...5
Theo đó, xử lý TSBĐ có thể được hiểu là TCTD tiến hành thanh lý tài sản nếu
trong thời hạn trả nợ mà khách hàng không trả được nợ, tài sản sẽ được xử lý theo
phương thức mà các bên đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Xét từ khía cạnh luật học, xử lý TSBĐ có thể xem là một chế định pháp luật
trong đó bao gồm các quy phạm pháp luật quy định về nguyên tắc, phương thức,
điều kiện, quy trình, thủ tục xử lý các TSBĐ nhằm mục tiêu thu hồi nợ cho bên bảo
đảm, đồng thời bảo vệ tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản.
Xử lý TSBĐ là một trong các biện pháp thu hồi nợ của NHTM. Xử lý TSBĐ
là một quy trình đặc biệt, điều nay được thể hiện ở chỗ quy trình này được áp dụng
thông qua việc NHTM bán, chuyển nhượng hay sử dụng TSBĐ cho người thứ ba
(bằng hình thức mua bán thông thường hoặc thông qua đấu giá tài sản) để thu hồi
vốn khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
Đây là một quá trình phức tạp với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau,
bao gồm: ngân hàng, khách hàng, các bên có liên quan và kể cả các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, trong đó chủ thể đóng vai trò trọng tâm chính là ngân hàng –
với tư cách là chủ nợ có bảo đảm. Mục đích của việc xử lý TSBĐ là nhằm mục đích
Nội dung pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
1.1.2.1. Quy định của pháp luật về cơ sở xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
Các NHTM được phép xử lý tài sản trong các trường hợp cụ thể như sau:6
- Thứ nhất, đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã
được ký kết giữa khách hàng và NHTM mà bên được bảo đảm không thực hiện nghĩa
vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với bên nhận bảo đảm.
- Thứ hai, bên được bảo đảm vi phạm hợp đồng tín dụng và bị NHTM yêu cầu
thu hồi vốn trước hạn song bên được bảo đảm không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ
vay trước hạn thì sẽ bị xử lý TSBĐ để thu hồi nợ. Trong bất kỳ hợp đồng tín dụng và
hợp đồng bảo đảm nào cũng quy định rất cụ thể về nghĩa vụ của các bên khi tham gia
giao kết và thực hiện hợp đồng, đồng thời đều quy định trong trường hợp bên vay
(bên được bảo đảm) hoặc bên bảo đảm vi phạm quy định của hợp đồng tín dụng, hợp
đồng bảo đảm thì ngân hàng có quyền yêu cầu thu hồi nợ trước hạn. Ví dụ như trong
trường hợp: nghĩa vụ của bên vay (bên được bảo đảm) là phải sử dụng vốn vay đúng
mục đích, tuy nhiên họ sử dụng vốn vay vào mục đích khác thì ngân hàng sẽ phải tiến
hành thu hồi nợ trước hạn, trong trường hợp bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ
6
Điều 56, 57 Nghị định 163/2006/NĐ-CP
10
trả nợ thì ngân hàng có quyền xử lý TSBĐ để thu hồi nợ.
- Thứ ba, pháp luật quy định TSBĐ phải được xử lý để bên bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ khác khi đã đến hạn. Một tài sản có thể cùng một lúc bảo đảm cho nhiều
khoản nợ vay nhưng giá trị của TSBĐ phải lớn hơn giá trị của tổng giá trị của các
khoản vay, khi một trong số những khoản vay có cùng TSBĐ đến hạn mà bên bảo
8
11
- Ngoài các trường hợp trên, các trường hợp xử lý TSBĐ khác do các bên
thoả thuận hoặc pháp luật quy định. Đối với trường hợp doanh nghiệp hợp nhất,
sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hoá, TSBĐ cho các khoản nợ của doanh nghiệp trước
khi hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hoá… được tiếp tục dùng làm TSBĐ
cho các khoản nợ đó của các doanh nghiệp mới sau khi doanh nghiệp cũ hợp nhất,
sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hoá. Nếu nhận thấy doanh nghiệp mới sau khi
chuyển đổi có khả năng không thực hiện biện pháp này, thì ngân hàng có quyền xử
lý TSBĐ để thu hồi nợ trước khi thực hiện nghĩa vụ chia, tách, hợp nhất, sáp nhập,
chuyển đổi, cổ phần hoá của doanh nghiệp đó.
Tuy nhiên trên thực tế thì không phải lúc nào khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ
là ngân hàng đều tiến hành xử lý TSBĐ. Đôi khi, với những khách hàng vẫn có
khả năng thanh toán thì NHTM vẫn tiếp tục xem xét khả năng trả nợ của khách
hàng và xem xét gia hạn nợ, thậm chí ngân hàng có thể cấp tín dụng bổ sung cho
khách hàng để tiếp tục duy trì kinh doanh. Mục tiêu của ngân hàng không phải là
xử lý TSBĐ của khách hàng mà luôn tạo điều kiện tối đa giúp khách hàng có thể
trả được nợ cho ngân hàng.
Khi NHTM buộc phải xử lý TSBĐ để thu hồi nợ, thời điểm để xử lý TSBĐ là
sau một khoảng thời gian kể từ khi khách hàng đến hạn trả nợ đối với TSBĐ chưa
được các bên xử lý theo thoả thuận. NHTM có quyền quyết định thời điểm xử lý
TSBĐ kể từ ngày đăng ký thông báo yêu cầu xử lý TSBĐ tại cơ quan đăng ký giao
dịch bảo đảm hoặc tính từ ngày ngân hàng gửi thông báo về việc xử lý TSBĐ
(trường hợp giao dịch bảo đảm không phải đăng ký).11
1.1.2.2. Quy định của pháp luật về hình thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
Về nguyên tắc, TSBĐ tiền vay sẽ được ưu tiên xử lý theo thỏa thuận của các
bên trong hợp đồng, sau đó mới áp dụng các quy định của pháp luật (trừ một số
thu hồi nợ hoặc xử lý TSBĐ theo quy định của pháp luật.
Nếu TCTD không phải là bên được bán TSBĐ thì TCTD có trách nhiệm theo
dõi, giám sát kế hoạch, diễn biến quá trình tổ chức bán đấu giá tài sản, ngăn chặn
kịp thời những hành vi gây thiệt hại đến TSBĐ, thất thoát tiền bán TSBĐ, thu hồi
tối đa nợ vay của khách hàng. Tại Điều 17 Nghị định 11/2012/NĐ – CP có quy định
chi tiết phương thức này như sau:
“1. Trong trường hợp các bên thỏa thuận phương thức xử lý tài sản bảo đảm
là bán đấu giá tài sản thì việc bán đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp
12
Điều 59 Nghị định 163/2006/NĐ-CP
13
luật về bán đấu giá tài sản.
2. Trong trường hợp các bên thỏa thuận về việc bán tài sản không thông qua
phương thức bán đấu giá thì việc bán tài sản bảo đảm được thực hiện theo các quy
định về bán tài sản trong Bộ luật Dân sự và quy định sau đây:
a) Các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc thông qua tổ chức có chức năng thẩm
định giá tài sản để có cơ sở xác định giá bán tài sản bảo đảm;
b) Bên nhận bảo đảm phải thanh toán cho bên bảo đảm số tiền chênh lệch
giữa giá bán tài sản bảo đảm với giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác;
c) Sau khi có kết quả bán tài sản thì chủ sở hữu tài sản và bên có quyền xử lý
tài sản bảo đảm có trách nhiệm thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật
để chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua tài sản bảo đảm”.
1.1.2.2.2.
Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho
Bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ
người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 Nghị định 163/2006/NĐ-CP: “Bên có
quyền đòi nợ được thế chấp một phần hoặc toàn bộ quyền đòi nợ, bao gồm cả
quyền đòi nợ hình thành trong tương lai mà không cần có sự đồng ý của bên có
nghĩa vụ trả nợ.” NHTM trực tiếp nhận khoản tiền hoặc tài sản mà bên thứ ba phải
trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm theo các thủ tục và quy định của pháp luật.
Khi khách hàng vay không trả được nợ hoặc bên thứ ba bảo lãnh bằng tài sản
không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, NHTM có quyền chuyển giao quyền thu hồi lại
hoặc uỷ quyền cho bên thứ ba xử lý TSBĐ. Bên thứ ba là tổ chức có tư cách pháp
nhân và được thực hiện quyền thu hồi nợ hoặc xử lý TSBĐ theo quy định của pháp
luật. Các ngân hàng hoặc bên bảo đảm phải thông báo cho bên thứ ba biết việc ngân
hàng được nhận các khoản tiền, tài sản nêu trên đồng thời yêu cầu bên thứ ba giao
các khoản tiền, tài sản đó cho các ngân hàng. Việc giao các khoản tiền, tài sản cho
ngân hang phải thực hiện theo đúng thời hạn, địa điểm được ấn định trong thông
báo xử lý TSBĐ.
Trong trường hợp được ngân hàng chuyển giao quyền thu hồi nợ, bên thứ ba
có quyền thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ hoặc xử lý TSBĐ như ngân hàng.
Trường hợp được ngân hàng uỷ quyền xử lý tài sản, thì bên thứ ba được xử lý
TSBĐ trong phạm vi được uỷ quyền.
Các ngân hàng sẽ lập biên bản nhận các khoản tiền, tài sản giữa ngân hàng,
bên bảo đảm và bên thứ ba. Biên bản nhận các khoản tiền, tài sản phải ghi rõ việc
15
bàn giao, tiếp nhận các khoản tiền, tài sản, việc định giá tài sản và thanh toán nợ từ
việc xử lý tài sản. Trong trường hợp bên thứ ba không giao các khoản tiền, tài sản
nói trên theo yêu cầu của ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan nhà
Hai nguyên tắc trên không chỉ đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên trong
quan hệ xử lý TSBĐ mà còn giúp các bên có điều kiện, khả năng và cơ hội phối hợp
một cách thiện chí hơn trong quá trình xử lý TSBĐ. Vì lẽ đó, thỏa thuận không chỉ
giúp việc xử lý tài sản được tiến hành nhanh chóng, hiệu quả mà còn giúp giải quyết
triệt để mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên.
- Thứ ba, việc xử lý TSBĐ phải được thực hiện một cách khách quan, công
khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch
bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan và phù hợp với các quy định của pháp luật.
Nguyên tắc này giúp các bên tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình và giúp
nhà nước dễ dàng kiểm soát các sai phạm trong quá trình xử lý tài sản. Điều này
đòi hỏi các bên trong quá trình xử lý phải tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt về
công bố thông tin, bán đấu giá, quy tắc xử lý… Đây là những quy tắc bắt buộc đối
với hoạt động xử lý TSBĐ và chỉ có như vậy kết quả hoạt động này mới được pháp
luật thừa nhận.
- Thứ tư, người xử lý TSBĐ (sau đây gọi chung là người xử lý tài sản) là bên
nhận bảo đảm hoặc người được bên nhận bảo đảm ủy quyền, trừ trường hợp các bên
tham gia giao dịch bảo đảm có thỏa thuận khác. Người xử lý tài sản căn cứ nội dung
đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm để tiến hành xử lý TSBĐ mà không
cần phải có văn bản ủy quyền xử lý tài sản của bên bảo đảm.
- Thứ năm, việc xử lý TSBĐ để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh
doanh tài sản của bên nhận bảo đảm. Do đó, hoạt động này không phải chịu thuế
theo quy định của pháp luật thuế.
- Thứ sáu, trong trường hợp TSBĐ là quyền sử dụng đất, nhà ở thì tổ chức, cá
nhân mua TSBĐ hoặc nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ
của bên bảo đảm phải thuộc đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp tổ chức, cá
nhân không thuộc đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì chỉ được hưởng giá trị quyền sử
dụng đất, giá trị nhà ở.
thời yêu cầu bên bảo đảm hoặc bên thứ ba không được khai thác, sử dụng TSBĐ
nếu việc khai thác, sử dụng đó có nguy cơ làm mất giá trị hoặc làm giảm sút giá trị
tài sản và thanh toán nợ đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác, sử dụng
TSBĐ sau khi trừ đi các chi phí cần thiết.
13
Điều 61, 62, 63, 65, 69 Nghị định 163/2006/NĐ-CP; Điều 16 Nghị định 11/2012/NĐ-CP
18
- Bước 2: Lập biên bản xử lý TSBĐ
Biên bản xử lý TSBĐ phải ghi rõ việc bàn giao, tiếp nhận TSBĐ, phương thức
xử lý TSBĐ, quyền, nghĩa vụ của các bên và các thoả thuận khác (nếu có).
Về nguyên tắc, TCTD và bên bảo đảm phải thoả thuận về giá trị TSBĐ tại thời
điểm xử lý tài sản và lập biên bản thoả thuận việc định giá tài sản. Trường hợp các
bên không thoả thuận được về giá TSBĐ thì trước khi TCTD quyết định xử lý
TSBĐ, TCTD có thể thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác định giá hoặc
tham khảo giá đã được tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác định giá thực tế tại
địa phương vào thời điểm xử lý, giá quy định của nhà nước (nếu có) và các yếu tố
khác về giá.
- Bước 3: Bên bảo đảm phải có trách nhiệm kết hợp với bên nhận bảo đảm
thực hiện bàn giao tài sản bảo đảm
Bên bảo đảm phối hợp với ngân hàng thực hiện các biện pháp chuẩn bị cho
việc xử lý TSBĐ như bàn giao TSBĐ cho ngân hàng, bàn giao giấy tờ có liên quan
đến TSBĐ theo yêu cầu của ngân hàng (trong trường hợp bên bảo đảm hoặc bên thứ
ba giữ giấy tờ , TSBĐ), tạo điều kiện cho bên mua xem tài sản và thực hiện các biện
pháp cần thiết khác để xử lý TSBĐ.
Trong trường hợp bên bảo đảm hoặc bên thứ ba giữ giấy tờ, TSBĐ, ngân hàng
ấn định ngày giao giấy tờ, tài sản đó để xử lý trong thông báo xử lý TSBĐ. Nếu bên
được xác định theo thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý TSBĐ không đủ để thanh toán cho
các bên nhận bảo đảm có cùng thứ tự ưu tiên thanh toán thì số tiền đó được thanh
toán cho các bên theo tỷ lệ tương ứng với giá trị nghĩa vụ bảo đảm.15
Pháp luật quy định như vậy nhưng trên thực tế, các TCTD và bên bảo đảm
vẫn gặp nhiều khó khăn và nảy sinh mâu thuẫn trong việc thực hiện thanh toán nợ.
Lý do chính là pháp luật không quy định rõ thế nào là “chi phí cần thiết, hợp lý phát
sinh” trong việc xử lý tài sản. Chính vì vậy, khi các chi phí xử lý tài sản được thanh
toán trước nợ trong trường hợp TCTD hoặc bên thứ ba xử lý TSBĐ, điều này có thể
sẽ ảnh hưởng tới giá trị tài sản thu nợ do không xác định được các loại chi phí xử lý
tài sản.
1.1.2.3.3.
14
15
Xử lý tài sản bảo đảm là một số loại tài sản đặc biệt
Điều 13 Nghị định 83/2010/NĐ-CP
Khoản 3 Điều 6 Nghị định 163/2006/NĐ-CP
20
Hiện nay, quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; quyền đòi nợ và tài sản
hình thành trong tương lai được đem ra để thế chấp vay vốn khá nhiều. Do tính
phức tạp của nó nên tranh chấp thường xuyên diễn ra, vì vậy pháp luật đã có những
quy định riêng để áp dụng đối với những loại tài sản này tại Nghị định
163/2006/NĐ-CP và Thông tư liên tịch 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN.
- Về xử lý TSBĐ là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất:
Trong trường hợp không có thoả thuận về phương thức xử lý TSBĐ là quyền
Ngoài ra, Điều 7 Thông tư 16 đã có những quy định cụ thể việc xử lý tài sản là
quyền đòi nợ về thời hạn, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của bên bảo đảm với ngân
hàng hay các TCTD.
- Về xử lý TSBĐ là tài sản hình thành trong tương lai:
Trước khi Thông tư 16 được ban hành, pháp luật chưa có quy định nào cụ thể
nào về vấn đề này. Việc xử lý tài sản thế chấp hình thành trong tương lai phải tuân
thủ quy định chung về xử lý TSBĐ trong thế chấp và một số quy định riêng áp dụng
cho tài sản hình thành trong tương lai. Trong trường hợp này, bên bảo đảm có
quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ TSBĐ; bên nhận bảo đảm có các quyền đối
với một phần hoặc toàn bộ tài sản đó. Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải
đăng ký quyền sở hữu mà bên bảo đảm chưa đăng ký thì bên nhận bảo đảm vẫn có
quyền xử lý tài sản khi đến hạn xử lý. Điều 7 Thông tư 16 cũng đã có quy định chi
tiết về việc xử lý TSBĐ là tài sản hình thành trong tương lai để tạo cơ sở pháp lý
cho việc xử lý loại tài sản này.
1.2. SỰ HÌNH THÀNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ TÀI
SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY
Khi giao dịch bảo đảm được ký kết sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
tham gia giao dịch. Xử lý TSBĐ tiền vay là một trong những quyền mà bên nhận
TSBĐ được thực hiện đối với bên bảo đảm. Điều này cũng có nghĩa là khi các quy
định pháp luật về giao dịch bảo đảm xuất hiện thì quy định về xử lý TSBĐ cũng ra
đời theo. Quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm được hình thành khá sớm ở
nhiều quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển trên thế giới. Kinh nghiệm của các
nước này cho thấy những quy định này đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn,
vững chắc cho hoạt động tín dụng nói chung và sự phát triển của nền kinh tế nói
riêng; góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ dân sự, kinh tế, tránh
các tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng không
22