THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH GIAO DỊCH MỘT CỬA TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM VIỆT
1. Sơ lược lịch sử hình thành Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt
Được thành lập vào ngày 28 tháng 9 năm 1995, trải qua hơn 10 năm hoạt động,
Ngân hàng TMCP Nam Việt (Navibank) đã khẳng định được vị trí của mình trên thị
trường tài chính – tiền tệ thể hiện qua sự tăng trưởng nhanh chóng và ổn định cả về quy
mô tổng tài sản, vốn điều lệ lẫn hiệu quả kinh doanh.. Trong môi trường cạnh tranh như
hiện nay, để đón đầu xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Navibank xác định mũi nhọn
chiến lược là nâng cao năng lực kinh doanh của mình thông qua năng lực tài chính,
công nghệ thông tin và thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro. Bên cạnh đó, việc tập trung
đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin vào việc nâng cao
tính tiện ích cho các sản phẩm dịch vụ tài chính của Ngân hàng cũng được quan tâm
một cách đặc biệt. Đối với ngân hàng, sự phát triển ổn định và bền vững của một tổ
chức chỉ có thể có được nếu tổ chức đó tạo dựng được uy tín và lòng tin đối với công
chúng. Ý thức được điều này, toàn bộ các mảng hoạt động nghiệp vụ của Navibank đều
được chuẩn hóa trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế thông qua việc triển khai vận dụng
Hệ thống quản trị ngân hàng cốt lõi (core banking) Microbank. Với hệ thống này,
Navibank sẵn sàng cung cấp cho khách hàng các sản phẩm dịch vụ chính xác, an toàn,
nhanh chóng và hiệu quả. Navibank tự hào là điểm tựa tài chính vững chắc để hỗ trợ
quý khách hàng của mình đạt được những thành công ngày càng rực rỡ hơn trong cuộc
sống.
Navibank - điểm tựa tài chính, nâng bước thành công: Là đơn vị hoạt động
trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, Navibank cam kết sự phát triển bền vững nhằm đem
lại sự an toàn tuyệt đối cho người gửi tiền và các đối tác có liên quan. Là một doanh
nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, Navibank cam kết tuân thủ tuyệt đối các quy định
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, của Chính phủ và các quy định khác có liên quan.
Là nhà cung cấp dịch vụ tài chính Ngân hàng, Navibank cam kết mang lại cho các
khách hàng của mình những sản phẩm dịch vụ hòan hảo, tiện ích và đa dạng. Là thành
viên tích cực của cộng đồng, Navibank cam kết sẵn sàng tham gia các hoạt động mang
tính xã hội, các chương trình từ thiện nhằm xây dựng một cộng đồng văn minh, tiến bộ.
Là một doanh nghiệp cổ phần, Navibank cam kết không ngừng nỗ lực mang kại lợi
Cho vay đầu tư xe ôtô đối với doanh nghiệp vận tải
Cho vay đầu tư tàu biển đối với các doanh nghiệp vận tải
Thấu chi tài khoản tiền gửi
Chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu
2.3 Sản phẩm thanh toán
Thanh toán trong nước
Thanh toán nước ngoài
2.4 Sản phẩm khác
Ngoài việc cung cấp các Sản Phẩm Ngân hàng truyền thống, Navibank xứng
đáng là đối tác đáng tin cậy khi sẵn sàng đáp ứng tất cả các nhu cầu đa dạng của Quý
khách bắng hàng loạt các Sản Phẩm hỗ trợ đa dạng, chất lượng cao
Sản phẩm mua bán ngoại tệ
Navibank cung cấp các dịch vụ ngoại hối nhằm đáp ứng mọi nhu cầu mua/bán
ngoại tệ hợp pháp của Quý Doanh nghiệp với thủ tục nhanh gọn, thuận tiện và tỷ giá
giao dịch hợp lý
Sản phẩm chi hộ lương
Navibank giúp Quý Doanh nghiệp giảm bớt áp lực không cần thiết của việc
thanh toán lương/thưởng cho nhân viên bằng tiền mặt. Sử dụng dịch vụ này, Ngân hàng
sẽ trích tiền từ tài khoản của Quý Doanh nghiệp để chuyển vào tài khoản của từng nhân
viên theo danh sách chi lương của Doanh nghiệp. Nhân viên của Doanh nghiệp sẽ rút
tiền mặt tại quầy ở bất kỳ chi nhánh nào của Navibank.
Sản phẩm thu chi hộ tiền mặt
Quý Doanh nghiệp có nhu cầu thu/chi tiền mặt tại một địa điểm xác định có thể
liên hệ với Navibank để được cung cấp dịch vụ.
3. Tình hình hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt
Tính đến ngày 29 tháng 2 năm 2008 vốn điều lệ của Nam Việt đạt 1000 tỷ đồng,
chiếm 11.37% tổng tài sản của Ngân hàng. Nguồn vốn huy động của Ngân hàng tính
đến tháng 2 năm 2008 đạt 9,465,543,000,000 và tổng tài sản của Ngân hàng là
10,789,453,000,000. Cả năm 2007 Nam Việt chỉ lãi 8 tỷ đồng nhưng trong 2 tháng đầu
năm 2008 số lãi đã là 29,445,000,000 đồng. Đây là dấu hiệu đáng mừng trong xu thế
tiền đầu và cuối ngày nói trên.
Nghiêm cấm quỹ phụ và giao dịch viên có tồn quỹ tiền mặt vào cuối ngày.
4.1.1.2. Phương thức giao nhận tiền mặt giữa quỹ chính và các giao dịch viên.
Trong phương thức này, quy trình giao nhận tiền mặt được thực hiện trực tiếp từ
quỹ chính đến các giao dịch viên.
Đầu ngày, quỹ chính giao tiền mặt trực tiếp cho các giao dịch viên.
Cuối ngày khi kết thúc giao dịch với khách hàng, các giao dịch viên nộp hết tiền mặt
về cho quỹ chính.
Trong quá trình giao dịch với khách hàng nếu giao dịch viên hoặc quỹ phụ nào thừa
hoặc thiếu tiền mặt thì cũng tiến hành việc giao và nhận tiền như quá trình giao nhận
tiền đầu và cuối ngày nói trên.
Nghiêm cấm giao dịch viên có tồn quỹ tiền mặt vào cuối ngày.
4.1.1.3. Phương thức quỹ chính giao dịch trực tiếp với khách hàng.
Trong phương thức này, Quỹ chính thực hiện giao dịch trực tiếp với khách hàng.
Quỹ chính thực hiện các giao dịch thu chi tiền mặt vượt hạn mức giao dịch của quỹ phụ
và giao dịch viên, và các giao dịch thu chi khác theo nhiệm vụ được phân công (thu chi
nội bộ…).
4.1.2. Hạn mức giao dịch với khách hàng
NamViệt (Navibank) quy định hạn mức giao dịch đối với một khách hàng của
từng giao dịch viên, kiểm soát viên, bộ phận quỹ.
Hạn mức giao dịch của giao dịch viên đối với một khách hàng là hạn mức mà tại đó
khi số tiền phát sinh trong giao dịch nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức đó thì các giao dịch
viên có quyền tự duyệt cho giao dịch của mình mà không phải qua kiểm soát viên.
Hạn mức của kiểm soát viên là hạn mức mà tại đó khi phát sinh giao dịch với số tiền
lớn hơn hạn mức của giao dịch viên và nhỏ hơn hạn mức mà kiểm soát viên thì kiểm
soát viên được duyệt. Còn nếu lớn hơn hạn mức của kiểm soát viên thì phải qua trưởng
phòng dịch vụ khách hàng duyệt.
4.1.2.1 Giao dịch viên
Mỗi giao dịch viên được ủy quyền thực hiện giao dịch với một hạn mức nhất
định theo sự phê duyệt của Tổng Giám đốc/Giám đốc và tuân thủ theo các quy trình
In chứng từ
Khách hàng, các kênh thanh toán
Kế toán viên
Khách hàng
Không đạt
1
2
3
Chi
tiền mặt
Chi tiền
Có
Không
6
4
5
Đạt
7
Phân phối chứng từ Công việc cuối ngày
Thu
tiền mặt
Thu tiền
Có
Không
Đạt
8
Lưu đồ
Người thực hiện
GDV
GDV
phát hiện tiền giả.
Chuyển sang bước 4
4.2.4. Xử lý giao dịch
Người thực hiện: Giao dịch viên.
Tiến hành việc nhập dữ liệu theo từng màn hình giao dịch tuỳ theo nghiệp vụ vào Hệ
thống điện toán.
Nếu trong hạn mức giao dịch của Giao dịch viên, chuyển thực hiện bước 6.
Nếu vượt hạn mức giao dịch của Giao dịch viên, chuyển thực hiện bước 5.
4.2.5. Kiểm soát và duyệt giao dịch
Người thực hiện: Kiểm soát viên.
Căn cứ các chứng từ kiểm tra các chi tiết giao dịch trên màn hình.
Nếu chấp nhận, ký duyệt giao dịch, chuyển sang bước 6.
Trường hợp không chấp nhận giao dịch, trả lại chứng từ cho GDV làm lại kèm lý do.
4.2.6. In chứng từ
Người thực hiện: Giao dịch viên.
In các thông tin lên chứng từ của khách hàng .
Ký chứng từ giao dịch.
Chuyển các chứng từ thanh toán cho bộ phận thực hiện đi các kênh thanh toán
Nếu giao dịch liên quan đến chi tiền mặt thì chuyển sang bước 7.
4.2.7. Chi tiền mặt
Người thực hiện: Giao dịch viên.
Tiến hành chi tiền mặt theo từng quy trình nghiệp vụ (tiền gửi, tiền vay, chuyển
tiền…).
Chuyển sang bước 8
4.2.8. Phân phối chứng từ và công việc cuối ngày
Người thực hiện: Giao dịch viên.
Trả khách hàng liên thứ 2, chuyển chứng từ cho bộ phận thanh toán (nếu có)
Cuối ngày thực hiện :
+ Thực hiện các công việc cuối ngày, in các báo cáo giao dịch trong ngày, kiểm tra
đối chiếu giữa chứng từ giao dịch và báo cáo khớp đúng – thực hiện theo quy trình
− Sắp xếp và chuyển chứng từ cho chuyên viên hậu kiểm để thực hiện kiểm soát, đối
chiếu.
− Tập hợp chứng từ sau khi đã kiểm soát để nộp kho chứng từ.
4.3.5. Trách nhiệm của bộ phận hậu kiểm
− Thực hiện kiểm soát lại tính hợp lệ hợp pháp của chứng từ, kiểm tra tính chính xác
của các giao dịch đã được các phòng nghiệp vụ xử lý; kiểm tra tính chính xác của các
bút toán hạch toán tự động.
− Phát hiện kịp thời những sai sót, những điểm chưa phù hợp trong quá trình xử lý giao
dịch.
− Phối hợp với các thành viên, bộ phận nghiệp vụ khác trong việc tìm rõ nguyên nhân,
đề xuất biện pháp khắc phục.
4.3.6. Trách nhiệm của trưởng phòng Tài chính - kế toán
− Trợ giúp Tổng Giám đốc (Giám đốc) trong việc tổ chức, chỉ đạo và điều hành việc
thực hiện quy trình này.
− Trực tiếp giám sát việc tuân thủ quy trình và thực hiện chế độ chứng từ của đơn vị.
− Phân công, chỉ đạo các chuyên viên Phòng Tài chính − Kế toán thực hiện nghiệp vụ
của phòng và các bước của quy trình.
− Chịu trách nhiệm về tính kịp thời và đầy đủ của các báo cáo kế toán;
− Tham mưu hoặc trực tiếp ra quyết định các biện pháp khắc phục sai sót trong phạm
vi được ủy quyền.
− Báo cáo kịp thời các trường hợp sai sót, vi phạm các quy định trong xử lý giao dịch
làm sai lệch về tài sản, công nợ vốn quĩ của đơn vị.
4. 1. Luân chuyển và kiểm soát chứng từ
4.4.1. Luân chuyển và kiểm soát chứng từ của giao dịch viên
Luân chuyển chứng từ
Khi tiếp nhận chứng từ để xử lý giao dịch, Giao dịch viên thực hiện:
− Kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của các chứng từ, đặc biệt đối chiếu mẫu chữ ký, mẫu
dấu của khách hàng);
− Xác định và thực hiện đúng các thao tác trên máy theo đúng hướng dẫn trong qui
trình nghiệp vụ và hướng dẫn sử dụng màn hình.
+ Kiểm tra tính pháp lý của chứng từ: chữ ký khách hàng, chữ ký Giao dịch viên,
chữ ký kiểm soát và chữ ký phê duyệt của cấp có thẩm quyền đối với các giao dịch
vượt hạn mức của Kiểm soát viên.
+ Đối chiếu tổng số tiền trên các chứng từ theo từng nghiệp vụ với số trên Báo cáo
tổng hợp các giao dịch theo mã nghiệp vụ được cập nhật máy chủ trung tâm.
+ Trường hợp các giao dịch có sử dụng các tài khoản trung gian của kế toán tổng
hợp, Giao dịch viên phải có trách nhiệm kiểm tra lại việc hạch toán vào các tài
khoản trung gian này bảo đảm khớp đúng giữa các giao dịch, nếu còn số dư phải báo
cáo với Kiểm soát viên để tổng hợp báo cáo theo qui định.
− Trường hợp phát sinh sai sót giao dịch viên xử lý như sau:
+ Nếu giao dịch sai có thể điều chỉnh lại bằng cách thực hiện chức năng Hủy giao
dịch thì sau khi hủy giao dịch, Giao dịch viên phải thực hiện lại giao dịch đúng và
phải bảo đảm lập đầy đủ các chứng từ, kể cả chứng từ của giao dịch hủy. Chứng từ in
từ máy của giao dịch sai được đính kèm chứng từ của giao dịch hủy, được kiểm soát
và lưu trữ như các chứng từ kế toán khác.
+ Nếu việc điều chỉnh các giao dịch sai không thể thực hiện bằng chức năng trên
mà phải thực hiện bằng các giao dịch điều chỉnh thì diễn giải của giao dịch điều
chỉnh phải ghi rõ “Điều chỉnh cho giao dịch số ..... ngày ........Nguyên nhân điều
chỉnh:….”. Trường hợp giao dịch sai có liên quan đến các bộ phận khác đặc biệt là
các giao dịch chuyển tiền thì phải thông báo ngay lập tức cho các bộ phận này và lập
đề nghị xin điều chỉnh để các bộ phận liên quan kịp thời có biện pháp khắc phục.
− Trường hợp khớp đúng các nội dung kiểm tra - kiểm soát
Giao dịch viên ký xác nhận trên các báo cáo, chuyển Trưởng phòng hoặc
chuyên viên phụ trách kiểm tra lại và ký xác nhận.
+ Sắp xếp chứng từ giao dịch.
Chứng từ trên phân hệ giao dịch chi nhánh
Các chứng từ gốc do khách hàng lập phải được ghim cùng với các chứng từ in
từ hệ thống.
Các chứng từ của giao dịch sai và của giao dịch hủy được ghim cùng với Nhật
ký giao dịch.
Chứng từ phân hệ quản lý nội bộ
Các chứng từ của Phân hệ quản lý nội bộ như quản lý tài sản cố định, các khoản
phải thu/ phải trả…được sắp xếp và đóng theo Báo cáo liệt kê giao dịch của Phân hệ
quản lý nội bộ.
+ Đánh số chứng từ:
Chứng từ và báo cáo sau khi được sắp xếp thành tập phải được đánh số chứng từ
trong tập.
Giao dịch viên không được đánh số chứng từ bằng bút chì, bút phủ hay các loại
mực dễ phai và phải ghi rõ số lượng tờ trên góc phải tờ đầu tiên của tập chứng từ.
Giao nộp tập chứng từ
Tập chứng từ được giao nộp cho chuyên viên tập hợp chứng từ của phòng và
phải bảo đảm các thủ tục ký nhận giữa 2 bên.
4.4.2. Luân chuyển và kiểm soát chứng từ của bộ phận tập hợp chứng từ phòng nghiệp
vụ
Chuyên viên tập hợp chứng từ phòng nghiệp vụ thực hiện tiếp nhận toàn bộ
chứng từ và báo cáo của các Giao dịch viên đã được kiểm tra và sắp xếp.
Kiểm tra chứng từ: