Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư tại
ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á ( NASB ).
I.Vài nét về công tác thẩm định nói chung và NASB nói riêng
1. Khái niệm dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng thương mại.
1.1. Khái niệm dự án đầu tư
Dự án đầu tư có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau.Nếu xét về mặt hình thức “
dự án đầu tư là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và hệ thống các hoạt
động sẽ được thực hiện với nguồn lực và chi phí được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ “.
Nếu xét về mặt nội dung “ Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với
nhau nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua các nguồn lực đã xác định như các vấn đề
thị trường, sản phẩm, công nghệ,…Nếu đứng trên góc độ quản lý thì dự án đầu tư là một
công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các hiệu quả kinh tế xã hội trong
một thời gian dài. Nếu xét chung đối với giác độ vủa nền kinh tế các dự án đầu tư là những
công cụ để quản lý và sử dụng các tiềm lực xã hội nhằm đạt được các mục tiêu đã định
trước trong một thời gian dài. Tùy theo tính chất, quy mô và hình thức quản lý dự án để
thuận lợi cho công tác quản lý cũng như việc thực hiện triển khai có hiệu quả dự án đầu tư
được phân theo các cấp bậc khác nhau. Các dự án đầu tư lớn càng có ảnh hưởng đến sự ổn
định và phát triển kinh tế xã hội.
1.2. Khái niệm thẩm định dự án đầu tư
Để có thể đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và ra quyết định
thực hiện dự án cần phải trải qua quá trình kiểm tra, đánh giá độc lập, quá trình này gọi là
thẩm định dự án đầu tư.
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan khoa học và
toàn diện các nội dung cơ bản của dự án đầu tư, đồng thời đánh giá tính chính xác những
nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của dự án nhằm đưa ra quyết định cho vay
một cách hiệu quả và an toàn.
Do đó, nếu các ngân hàng thương mại làm tốt công tác này thì sẽ có được các quyết
định đúng đắn, tạo tiền đề cho việc thu hồi cả vốn và lãi đúng hạn, tạo điều kiện cho vốn
tín dụng luân chuyển phù hợp, an toàn và hiệu quả cao.
1.3. Cơ sở thẩm định dự án đầu tư.
Để có các căn cứ thẩm định dự án đầu tư, cán bộ ngân hàng phải điều tra, thu thập, tổng
Làm cơ sở để xác định được số tiền cho vay, thời gian cho vay, kế hoạch trả nợ hợp
lý tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
Thông qua công tác thẩm định, ngân hàng đã tạo ra căn cứ để kiểm tra việc sử
dụng vốn vay đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm vốn.
Thông qua những lần thẩm định sẽ giúp ngân hàng rút ra những kinh nghiệm và bài
học bổ ích để thực hiện việc thẩm định dự án sau được tốt hơn.
Do đó để công tác thẩm định dự án đạt kết quả cao nhất, cán bộ thẩm định cần phải
thu nhập thông tin về dự án vay vốn, về khách hàng vay vốn, các văn bản tài liệu của nhà
nước và các ngành liên quan đến dự án để phục vụ cho công tác thẩm định.
1.4.2. Yêu cầu
Các cán bộ tín dụng thẩm định dự án đầu tư cần phải :
Nắm vững chủ trương, các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước, ngành, địa
phương và quy chế quản lý kinh tế, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước.
Nắm vững tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới, khu vực và của nước có
liên quan đến việc thực hiện dự án đầu tư.
Nghiên cứu và kiểm tra một cách khoa học, khách quan và toàn diện về nội dung
của dự án , tình hình đơn vị vay vốn, phối hợp với các cơ quan chuyên môn, chuyên gia
để đưa ra các nhận xét, kết luận chính xác.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động
của ngân hàng thương mại.
2.1. Khái niệm về chất lượng thẩm định dự án đầu tư.
Chất lượng thẩm định dự án đầu tư là một khái niệm khá trừu tượng, khó có thể định
lượng, nó phụ thuộc vào góc độ đánh giá và mục tiêu của từng chủ thể liên quan đến dự án.
Khi đề cập đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư thì người ta thường quan tâm nhất đến
hiệu quả của nó. Một dự án đầu tư được thẩm định trên nhiều góc độ khác nhau với những
mục tiêu nhất định và thường được thể hiện trên 3 góc độ sau:
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước : Chất lượng thẩm định dự án có thể được hiểu
là mức độ tin cậy trong nội dung thẩm định hiệu quả đối với chủ đầu tư cũng như các lợi
ích kinh tế đối với xã hội, từ đó giúp các cơ quan này có thể xem xét, đánh giá, đưa ra
quyết định chấp nhận, phê duyệt và cấp phép đối với dự án.
Mọi sự biến động của dự án về các dự án đầu vào và đầu ra đều được dự báo, và có
biện pháp xử lý kịp thời.
Đánh giá tổng thể thì nói chung chất lượng thẩm định dự án thể hiện ở ngay tỷ lệ nợ
xấu, nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay theo dự án của ngân hàng. Tất nhiên, trong một
số trường hợp lại xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác như : sự thay đổi không lường
trước được các yếu tố thị trường, công nghệ,…vì vậy, chất lượng thẩm định dự án còn phụ
thuộc vào nhiều nhân tố khác.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng
thương mại.
Bất kì một hoạt động nào khi tiến hành cũng sẽ chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố. Hoạt
động thẩm định dự án cũng vậy, chịu ảnh hưởng của cả những nhân tố khách quan và chủ
quan.
2.3.1. Các nhân tố chủ quan.
2.3.1.1. Trình độ, kinh nghiệm của cán bộ thẩm định dự án.
Nhân tố con người đóng vai trò quan trọng đối với công tác thẩm định dự án.Bởi cũng
chính cán bộ thẩm định đã đưa ra quy trình thẩm định, xác định các phương pháp được sử
dụng trong quá trình đánh giá và ra quyết định. Nhờ vào việc áp dụng những kiến thức đã
được trang bị, cán bộ thẩm định sẽ tiến hành thực hiện các phân tích, đánh giá các chỉ tiêu
tài chính và cuối cùng đưa ra các nhận xét, kết luận. Những đánh giá này có chính xác hay
không phụ thuộc nhiều vào các yếu tố: trình độ nghiệp vụ, kinh nghiệm cá nhân, phẩm chất
đạo đức của cán bộ thẩm định. Vì vậy, để nâng cao chất lượng thẩm định dự án thì các
ngân hàng cần phải lựa chọn những cán bộ thẩm định có trình độ chuyên môn và phẩm
chất tốt, đồng thời phải có chương trình đào tạo nhằm nâng cao trình độ, kiến thức và kinh
nghiệm thực tế cho các cán bộ thẩm định.
2.3.1.2. Xây dựng và thực hiện quy trình, nội dung, phương pháp thẩm định dự án.
Xây dựng quy trình, nội dung, phương pháp thẩm định dự án : Có ảnh hưởng rất lớn đến
chất lượng thẩm định dự án. Một quy trình, nội dung và phương pháp phù hợp, khoa học,
khách quan và đầy đủ là cơ sở đảm bảo chất lượng công tác thẩm định dự án của ngân
hàng.Nó sẽ giúp cho cán bộ thẩm định phân tích, đánh giá cũng như tính toán một cách
nhanh chóng, chính xác và làm cơ sở để cho lãnh đạo ra quyết định đúng đắn. Do đó, khi
được tổ chức độc lập với các bộ phận khác và chịu sự lãnh đạo trực tiếp của ban giám đốc
thì những rủi ro trong việc thẩm định sẽ được hạn chế tối đa, góp phần nâng cao chất lượng
thẩm định dự án đầu tư.
2.3.1.4. Quan hệ khách hàng – ngân hàng.
Chất lượng thẩm định sẽ cao hơn nếu dự án đó là của khách hàng quen thuộc, đã có quan
hệ tín dụng với ngân hàng từ trước. Qua quá trình hoạt động, ngân hàng có thể giảm được
chi phí và thời gian thẩm định mà vẫn đảm bảo được chât lượng thẩm định.
Nếu khách hàng mới, chưa từng có quan hệ tín dụng với ngân hàng thì việc điều tra, thẩm
định sẽ tốn kém và lâu hơn và kết quả thẩm định lại chưa chắc chính xác.
2.3.1.5. Chất lượng thông tin.
Quá trình thẩm định dự án thực chất là quá trình thu nhập,xử lý thông tin.Do vậy, các
thông tin thu nhập được phải chính xác, đầy đủ và kịp thời mới đảm bảo cho kết quả thẩm
định được tốt. Nếu thông tin ban đầu không chính xác sẽ dẫn đến các kết quả thẩm định
không chính xác và từ đó đưa ra các quyết định sai trong việc tài trợ cho dự án.
Hiện nay, đã có hệ thống thông tin của trung tâm thông tin tín dụng của ngân hàng nhà
nước nhưng hiệu quả hoạt động còn rất hạn chế, tính cập nhật chưa cao, vì vậy chỉ mang ý
nghĩa tham khảo, không mang tính pháp lý.
2.3.1.6. Trang thiết bị công nghệ.
Các ngân hàng cần phải trang bị cho mình một hệ thống trang thiết bị công nghệ phù hợp
bởi vì đó là nhân tố phụ trợ, hỗ trợ cho các cán bộ thẩm định trong việc tính toán, lưu trữ,
xử lý thông tin được nhanh chóng hơn, chính xác hơn, tiết kiệm thời gian hơn đồng thời
giảm thiểu được những sai sót không đáng có trong quá trình xử lý.
2.3.2. Các nhân tố khách quan.
2.3.2.1. Môi trường kinh tế và môi trường pháp lý.
Một môi trường kinh tế phát triển với cơ chế chính sách quản lý vĩ mô đồng bộ, hiệu quả
với các chủ thể kinh tế có năng lực, kinh nghiệm, và hệt thống thông tin đầy đủ, chính xác
là điều kiện rất thuận lợi cho công tác thẩm định dự án,, giúp đưa ra được các phân tích dự
đoán chính xác, phục vụ cho việc ra quyết định của ngân hàng. Ngược lại, nếu môi trường
kinh tế kém phát triển, với các cơ chế chính sách kinh tế chưa được hoàn thiện, hoạt động
đầu tư chứa đựng những rủi ro tiềm tàng, sẽ làm cho công tac thẩm định dự án khó có thể
nước cũng như đối với các đối tác khác trên thế giới. Nền kinh tế đang ngày càng phát
triển và hội nhập với khu vực và thế giới khi mà Việt Nam đã là thành viên chính thức của
tổ chức WTO thì NASB đã không ngừng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và hiện là
một trong số các ngân hàng thương mại cổ phần với mạng lưới hoạt động rộng khắp ở các
tỉnh, thành phố kinh tế trọng điểm của các nước .
Một điều không thể thiếu là, ai khi đến với Bắc Á đều không khỏi ngạc nhiên trước thái
độ phục vụ chu đáo đối với khách hàng, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh và cam
kết với khách hàng của mình trước pháp luật. Chính điều đó đã ngày càng làm cho mọi
người tin tưởng và tìm đến vói ngân hàng TMCP Bắc Á nhiều hơn.
Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á là thành viên chính thức của Hiệp hội Thanh
toán Viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu, Hiệp hội các ngân hàng Châu Á, Hiệp hội các
ngân hàng Việt Nam và Phòng thương mại Công nghiệp Việt Nam.
Trong hơn 10 năm hoạt động, Ngân hàng TMCP Bắc Á đã vinh dự được nhận cờ thi
đua của Thủ Tướng Chính phủ, bằng khen của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về thành
tích hoạt động kinh doanh và cờ thi đua của Ủy Ban Nhân dân tỉnh Nghệ An, là một trong
10 ngân hàng được chọn tham gia vào hệ thống thanh toán tự động liên ngân hàng, ngân
hàng Bắc Á còn chính thức đoạt Cúp Bạch Kim “Đỉnh cao chất lượng Việt Nam 2008” vào
ngày 12/12/2008. Giải thưởng tôn vinh những doanh nghiệp thành công trong việc kiểm
soát và nâng cao chất lượng dịch vụ. Đặc biệt, ngân hàng đã lọt vào Top 500 doanh nghiệp
lớn nhất Việt Nam – VNR500, dựa theo các tiêu chí đánh giá của Vietnam Report.
Ngoài các dịch vụ chính của một ngân hàng thương mại như huy động vốn, cho vay,
cung cấp các dịch vụ thanh toán… Ngân hàng TMCP Bắc Á còn tham gia các hoạt động
kinh doanh du lịch và khách sạn. Hiện tại NASB đang trực tiếp đầu tư, quản lí và khai thác
Khách sạn Xanh (Green Hotel) đạt tiêu chuẩn 3 sao tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
2. Ngành nghề kinh doanh
Điều lệ của ngân hàng Bắc Á do đại hội cổ đông của ngân hàng quyết định thông qua
tại cuộc họp đại hội đồng cổ đông tổ chức ngày 20/9/2002.Ngân hàng thương mại cổ phần
Bắc Á được phép hoạt động theo giấy phép thành lập số 004924 GP/TLDN ngày
01/01/1995 do UBND tỉnh Nghệ An cấp và giấy phép hoạt động số 0052/NHGP ngày
01/09/1994 do thống đốc NHNN cấp.
- Đầu tư cho vay (ngắn, trung, dài hạn )
- Bảo lãnh
- Thanh toán trong và ngoài nước
- Tài trợ thương mại
- Chuyển tiền nhanh
- Kinh doanh ngoại hối
- Phát hành và thanh toán thẻ
- Séc du lịch
- Homebanking
- Ngân hàng trực tuyến
Các dịch vụ khác theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
4.Cơ cấu tổ chức hiện tại của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á
Sơ đồ 1 : Cơ cấu tổ chức hiện tại của NASB.
Đại hội cổ đông.
Hội đồng Quản trị
Tổng giám đốc
Ban kiểm soát
Bộ máy giúp việc HĐQT
Các phó Tổng GĐKế toán trưởng
Phòng ban chuyên mônKiểm tra, kiểm soát nội bộ
Phó Tổng GĐ
Phó Tổng GĐ
Văn phòng
Ngân hàng
Văn phòng tín dụng
Ban kiểm soát nội bộ
P. kế hoạch nguồn vốn
P.đầu tư phát triển
Thanh toán quốc tế
Kế toán tin học
đầu tư hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh cho các thành phần kinh tế, thực chất là cung
ứng các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh cho khách hàng.
Công việc của các cán bộ phòng này là: thu nhập, phân tích, thẩm định, ra quyết
định tín dụng, giám sát tình hình sử dụng vốn vay, quản lý hồ sơ tín dụng và đôn đốc thu
hồi nợ vay.
Ngoài ra, phòng còn thực hiện cho vay theo chương trình, dự án phát triển, lập kế
hoạch cân đối vốn, thực hiện chính sách khách hàng, làm tham mưu cho các cấp quản lý
trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng và thực hiện các biện pháp quản lý của
ngân hàng.
Phòng kế toán:
Trực tiếp giao dịch, tiếp xúc với khách hàng thông qua thực hiện các chức năng
thanh toán (séc, uỷ nhiệm chi…), theo dõi công việc, thực hiện thu chi tiền vay và gốc trả
lãi theo kế hoạch của phòng tín dụng, hạch toán các nghiệp vụ phát sinh qua ngân hàng,
vào sổ chi tiết và tổng hợp….
Ngoài ra, phòng kế toán còn thực hiện lập các báo cáo cân đối nguồn vốn, tài sản,
bảng cân đối kế toán… theo ngày, tháng, quý, năm và các báo cáo thông tin tổng hợp cho
các cấp quản lý, cho các phòng ban chức năng có yêu cầu, cung cấp cho khách hàng về số
dư tài khoản của họ.
Phòng ngân quỹ:
Có nhiệm vụ nhận, thu và kiểm đếm tiền mặt VND là ngoại tệ các loại tại trụ sở cho
khách hàng, bảo quản tiền mặt và các giấy tờ có giá, các giấy tờ quan trọng khác trong kho,
thực hiện thu chi trong ngân hàng, điều chuyển tiền mặt với các chi nhánh trực thuộc và
với NHNN.
Phòng tổ chức hành chính :
Thực hiện nhiệm vụ tổ chức quản lý cán bộ, tuyển chọn đào tạo cán bộ ngân hàng
cho phù hợp với yêu cầu. Ngoài ra, phòng hành chính còn thực hiện:
+ Trực tiếp quản lý các bộ phận: Y tế, văn thư, bảo vệ, lái xe..
+ Thực hiện thu, chi các quỹ lương, thưởng và các chế độ khác cho người lao động.
+ Mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của chi nhánh.
+ Làm tham mưu cho các cấp lãnh đạo trong phạm vi và quyền hạn của mình.
quan từ thị trường. Cùng với sự phát triển vượt bậc của thị trường chứng khoán, giới ngân
hàng đã phải chia sẻ nguồn đầu tư, tiền gửi từ dân chúng. Chưa hết, cả doanh nghiệp và
nhà băng đều đã phải chịu sức ép không nhỏ từ những nguồn huy động trực tiếp từ bên
ngoài (thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư…).
Tới giữa năm, tình hình lạm phát đã buộc ngân hàng nhà nước phải vào cuộc, đẩy giới
ngân hàng đối mặt với tình hình cam go về chi phí, lợi nhuận, do tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng
cao. Ngân hàng chưa kịp hoàn hồn, lại tới sự đi xuống ảm đạm của thị trường chứng
khoán, khách hàng ngoảnh mặt làm ngơ với các khoản vay. Có thể nói,việc này đã ảnh
hưởng rất nhiều tới lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần. Nó không chỉ khiến
các ngân hàng thương mại mất đi một dịch vụ tiềm năng hấp dẫn, mà còn làm thay đồi
nhiều kế hoạch của các ngân hàng mới chuyển đổi.Còn năm 2008 liên tục với những biến
động phức tạp những thông tin vĩ mô không thuận lợi (về cán cân thương mại lớn, lạm
phát ); tình hình thanh khoản của các ngân hàng có dấu hiệu căng thẳng, tỷ giá thị trường
biến động mạnh…nên ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các ngân hàng thương
mại nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á nói riêng.
Khó khăn là không ít. Nhưng ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á vẫn tìm ra được
những cách riêng để vượt khó, tạo lợi nhuận và niềm tin cho khách hàng Với sự nỗ lực và
phấn đấu qua từng năm của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc và mỗi cán bộ công nhân
viên trong từng hệ thống, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á
ngày càng đạt hiệu quả cao.
Về huy động vốn của các tổ chức kinh tế, cá nhân:
• Năm 2004, NASB huy động được 2.428 tỷ đồng, trong đó từ nguồn tiền gửi của dân cư và
các tổ chức kinh tế, tín dụng khác là 2.362 tỷ đồng chiếm 97,3% tổng nguồn huy động và
từ nguồn tiền vay là 66 tỷ đồng chiếm 2,7% tổng nguồn huy động.
• Năm 2005, NASB huy động được 2.631 tỷ đồng, trong đó từ nguồn tiền gửi của dân cư và
các tổ chức kinh tế, tín dụng khác là 2.581 tỷ đồng, chiếm 98,1%; từ nguồn tiền vay là 50
tỷ đồng chiếm 1,9% tổng nguồn huy động.
• Năm 2006, tổng số vốn NH huy động được là 3.644 tỷ đồng, trong đó từ nguồn tiền gửi
của dân cư và các tổ chức kinh tế, tín dụng khác là 3.621 tỷ đồng, chiếm 99,36%; từ nguồn
tiền vay là 23 tỷ đồng chiếm 0,64% tổng nguồn huy động.
thấy rằng, hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng Bắc Á là khá cao. Bên cạnh chính sách huy
động vốn thì chính sách cho vay cũng được NH thực hiện một cách có hiệu quả.
6.2. Tình hình hoạt động trong các lĩnh vực khác của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc
Á
6.2.1.Hoạt động tín dụng
CHỈ TIÊU
2004 2005 2006 2007 2008
Số dư Số dư Số dư Số dư Số dư
Tổng vốn huy
động
2.428 2.631 3.644 4.747 5.365
Tổng dư nợ cho
vay
1.663 2.155 3.036 4.056 4.674
Hiệu quả sử
dụng vốn
huy động (%)
68,5% 81,9% 83,2 85,44% 87,12%
Công tác tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á tiếp tục thực hiện với phương
châm “an toàn và hiệu quả”.
Đề mở rộng quan hệ khách hàng và đẩy mạnh công tác tín dụng, đội ngũ cán bộ Ngân
hàng Bắc Á đã chủ động tìm kiếm các khách hàng tiềm năng, các dự án, các phương án sản
xuất kinh doanh khả thi, tạo điều kiện hỗ trợ kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó ngân hàng Bắc Á luôn quan tâm duy trì và củng cố
đội ngũ cán bộ tín dụng. Phong cách giao dịch của cán bộ tín dụng và chất lượng các sản
phẩm tín dụng đã tạo niềm tin và uy tín đối với khách hàng. Tạo điều kiện cùng khách
hàng kinh doanh có hiệu quả. Đồng thời chi ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á cũng
mở rộng loại hình cho vay tiêu dùng với nhiều hình thức cho vay ưu đãi, hấp dẫn.
Về dư nợ tín dụng: Năm 2004 tổng dư nợ của NASB đạt 1.663 tỷ đồng, năm 2005 đạt
2.155 tỷ đồng, tăng 29,6% so với 2004. Năm 2006 đạt 3.036 tỷ, tăng 40,9% so với năm
6.2.3.Công tác kế toán và dịch vụ ngân hàng
Với chính sách đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ ngân hàng, phát triển mạng lưới và
chính sách ưu đãi đối với khách hàng. Ban giám đốc chi nhánh đã tạo điều kiện cho công
tác Marketing các tiện ích dịch vụ ngân hàng, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng
nhằm thu hút được đông đảo khách hàng đến sử dụng các dịch vụ của ngân hàng Bắc Á.
Công tác dịch vụ ngân hàng đa dạng, phong phú, phát triển là một trong những yếu tố
quan trọng tác động đến tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của ngân hàng thương
mại cổ phần Bắc Á .
Đến 31/12/2007 có 1.023 đơn vị mở tài khoản giao dịch tăng 28% và 25.826 tài
khoản cá nhân mở tại ngân hàng Bắc Á tăng 48% so với năm 2006 và tăng 53% so với năm
2005.
Với việc áp dụng công nghệ ngân hàng hiện đại, công tác thanh toán của ngân hàng
đã đảm bảo tính chính xác, kịp thời cho các giao dịch chuyển vốn thanh toán của khách
hàng với thời gian nhanh nhất và chất lượng tốt nhất.
6.2.4. Công tác kinh doanh ngoại tệ
Doanh số mua bán ngoại tệ năm 2007 đạt 96 nghìn USD tăng 125% so với cùng kỳ
năm 2006.
Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á đã chủ động và có nhiều biện pháp tạo nguồn
ngoại tệ đáp ứng đủ nhu cầu cho khách hàng cũng như thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của
ngân hàng Bắc Á đảm bảo hài hoà lợi ích của khách hàng và ngân hàng
6.2.5.Công tác thanh toán xuất nhập khẩu
Do làm tốt công tác khách hàng, có sự phối hợp hỗ trợ của các bộ phận nghiệp vụ có
liên quan với sự cố gắng của cán bộ nên kim ngạch thanh toán xuất nhập khẩu trong năm
2007 đạt kết quả cao, tổng kim ngạch thanh toán xuất nhập khẩu ngân hàng thương mại cổ
phần Bắc Á đạt 123 nghìn USD tăng 65% so với năm 2006. Doanh số thanh toán nhập
khẩu đạt 78 nghìn USD tăng 80% so với năm 2006 và doanh số thanh toán xuất khẩu đạt
47 nghìn USD tăng 52% so với năm 2006.
6.3. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Bảng 1.3 : Báo cáo kết quả kinh doanh.
Đơn vị:Triệu đồng
mua cổ phần
355,740.000 0
VIII. Chi phí hoạt động 50.471,197.862 26.583,991.183
IX. Lợi nhuận thuần từ hoạt
động kinh doanh trước chi phí
dự phòng rủi ro tín dụng
174.743,339.244 84.465,660.578
X. Chi phí dự phòng rủi ro tín
dụng
10.139,420.000 4.836,601.000
XI.Lợi nhuận trước thuế TNDN 164.603,919.244 79.629,059.578
7. Thuế suất thuế TNDN 28% 28%
XII.Thuế TNDN phải nộp 44.848,093.920 22.210,316.681
XIII. Lợi nhuận sau thuế
TNDN.
119.755,825.324 57.418,742.897
XIV. Lãi cơ bản trên cổ phiếu 2,691.142 1,435.469
III. Thực trạng thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á.
1. Thực trạng thẩm định dự án đầu tư tại NASB trong thời gian qua.
Có thể nhận xét tình hình công tác thẩm định dự án đầu tư của NASB qua bảng sau:
Bảng 1.4: Công tác thẩm định dự án đầu tư của NASB trong hai năm.
Chỉ tiêu Đơn vị 2007 2008
Dự án xin vay vốn
Tổng số tiền Triệu đồng 1.502.367 1.965.307
Tổng số dự án 83 121
Dự án được chấp nhận
Tổng số tiền Triệu đồng 1.212.365 1.734.898
Tổng số dự án 68 105
Tỷ lệ được chấp nhận
Số tiền 80,7% 88,3%
Bước 3 : Kiểm tra sự đầy đủ về số lượng các loại giấy tờ, loại giấy tờ phải xuất trình theo
quy định và tính phù hợp giữa các loại giấy tờ trong bộ hồ sơ
Bước 4 : Cho điểm tín dụng và phân loại khách hàng
Bước 5 : thẩm định rủi ro cụ thể
Bước 6 : lập báo cáo thẩm định rủi ro.
3. Quy trình nghiệp vụ thẩm định