NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
----------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
SẢN PHẨM BẢO HIỂM CON NGƯỜI PHI NHÂN THỌ
TẠI CÔNG TY PVI ĐÔNG ĐÔ
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Thanh Mai
Mã sinh viên
: 14A4030076
Lớp
: QTDN B
Khóa
: 14
Khoa
: Quản trị kinh doanh
Hà Nội – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong chuyên đề thực tập này là do tôi tự thu thập, trích dẫn, tuyệt đối không
sao chép từ bất kỳ một tài liệu nào.
BHCN
BHYT
BHXH
BHCN PNT
BHPNT
BHNT
DNBH
DNBH PNT
NLCT
STBH
STBT
BH TS – KT
: Bảo hiểm con người
: Bảo hiểm y tế
: Bảo hiểm xã hội
: Bảo hiểm con người phi nhân thọ
: Bảo hiểm phi nhân thọ
: Bảo hiểm nhân thọ
: Doanh nghiệp bảo hiểm
: Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
: Năng lực cạnh tranh
: Số tiền bảo hiểm
: Số tiền bồi thường
: Bảo hiểm tài sản kỹ thuật
1
LỜI MỞ ĐẦU
các chỉ tiêu và đóng góp một phần doanh thu đáng kể trong tổng doanh thu của
2
Tổng công ty. Bảo hiểm con người phi nhân thọ là một trong những nghiệp vụ đạt
được doanh thu cao, có đóng góp nhất định vào tổng doanh thu phí bảo hiểm của
công ty. Tuy nhiên, thực tế những năm gần đây cho thấy vẫn tồn tại nhiều hạn chế
như tỷ lệ bồi thường cao, vấn đề trục lợi bảo hiểm còn diễn ra khá nhiều…
Trong thời gian thực tập tại công ty, nhận thức được tầm quan trọng của
nghiệp vụ, vì thế em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
của sản phẩm bảo hiểm con người phi nhân thọ tại công ty PVI Đông Đô”.
Kết cấu đề tài được chia thảnh 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm con người phi nhân thọ và năng lực cạnh
tranh sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm bảo hiểm con người
phi nhân thọ tại Công ty PVI Đông Đô
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm bảo
hiểm con người phi nhân thọ tại Công ty PVI Đông Đô
Để có thể hoàn thành bài viết này, em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ,
nhân viên Công ty PVI Đông Đô đã hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi giúp em
trong quá trình tìm hiểu về nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ tại công ty.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, song do hạn chế về thời gian, kiến thức và kinh
nghiệm thực tế nên bài viết này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía thầy cô và bạn đọc để bài viết được hoàn
thiện hơn.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM CON NGƯỜI
cuộc sống cho người tham gia bảo hiểm trước những rủi ro hay tai nạn bất ngờ đối
với thân thể, tính mạng cũng như sự suy giảm hay mất thu nhập do rủi ro gây ra và
4
đáp ứng một số nhu cầu khác của người tham gia. Tuy nhiên, BHCN có đối tượng
tham gia rộng hơn so với loại hình BHXH ra đời trước đó, quỹ bảo hiểm được hình
thành từ sự đóng góp của người tham gia bảo hiểm, số tiền chi trả bảo hiểm phụ
thuộc vào các điều khoản trong hợp đồng hay tùy thuộc vào sản phảm cụ thể mà
người tham gia chọn lựa.
Theo tính chất của rủi ro bảo hiểm thì BHCN được chia làm 2 loại là Bảo
hiểm nhân thọ (BHNT) và Bảo hiểm con người Phi nhân thọ (BHCN PNT). BHNT
là loại hình bảo hiểm bảo đảm cho các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống
và tuổi thọ của con người. BHCN PNT là loại hình bảo hiểm chỉ liên quan đến các
rủi ro như bệnh tật, tai nạn, mất khả năng lao động và tử vong mà không liên quan
đến tuổi thọ của con người, ví dụ như Bảo hiểm tai nạn 24/24, Bảo hiểm tai nạn
hành khách, Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật… Các rủi ro được bảo hiểm của
BHCN PNT mang tính chất cấp thiết hơn trong đời sống hằng ngày của người dân
so với 2 sự kiện “sống” và “chết” trong BHNT vì chúng có liên quan trực tiếp tới
thân thể và sức khỏe của con người. BHDN PNT thường được triển khai sớm hơn
BHNT ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, BHCN PNT được coi là
loại hình bảo hiểm bổ sung hữu hiệu nhất cho BHXH và BHYT.
Như vậy, BHCN PNT đã thể hiện vai trò khá quan trọng của nó trong đời sống
xã hội, giúp cho con người chống lại những khó khăn bấp bênh trong cuộc sống
trước sự đa dạng và mức độ phức tạp của rủi ro để có được một cuộc sống tốt đẹp
hơn. Qua đó có thể thấy được sự cần thiết khách quan của BHCN PNT trong đời
sống xã hội hiện nay.
1.1.2. Tác dụng của bảo hiểm con người phi nhân thọ
Xem xét mối quan hệ tương quan giữa sự phát triển của ngành bảo hiểm với sự
phát triển của toàn nền kinh tế ở nhiều nước, nhiều nhà kinh tế học đã khẳng định tác
hiểm, quỹ này được sử dụng vào mục đích chi trả bồi thường, dự phòng và là nguồn
vốn đầu tư hữu ích góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế.
BHCN PNT ra đời mang tính xã hội, nhân văn cao cả. Nó góp phần làm cho
xã hội trở nên tốt đẹp hơn, văn minh hơn. Vì mục đích của BHCN PNT là chia
sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm, khó khăn của một số người
không may gặp phải rủi ro tổn thất sẽ được san sẻ cho tát cả mọi người. Vô
hình chung đó chính là đùm bọc lẫn nhau giữa các thành viên trong một cộng
đồng. Hơn thế nữa sự ra đời và phát triển của BHCN PNT còn góp phần giải
quyết một số vấn đề xã hội như tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao
động, tạo ra nếp sống đẹp…
1.1.3. Đặc điểm của bảo hiểm con người phi nhân thọ
Trong khi các nghiệp vụ BHNT chỉ ra đời và phát triển khi nền kinh tế - xã hội
đã hội tụ đủ những điều kiện nhất định thì BHCN PNT đã ra đời sớm hơn, với mục
đích chủ yếu là góp phần khắc phục hậu quả khi người tham gia bảo hiểm gặp phải
rủi ro, từ đó góp phần ổn định tài chính cho họ. Bởi vậy BHCN PNT có những đặc
điểm cơ bản sau:
BHCN PNT chỉ mang tính rủi ro không mang tính tiết kiệm. Vì những rủi
6
ro thuộc phạm vi bảo hiểm chỉ liên quan tới thân thể và sức khỏe của con người như
tai nạn, ốm đau, bệnh tật, thai sản… nên tính chất rủi ro bộc lộ khá rõ còn tính chất
tiết kiệm không thể hiện. Do vậy mức phí bảo hiểm thường là khá thấp và phù hợp
với những hợp đồng bảo hiểm nhóm.
Thời hạn của BHCN PNT ngắn (thường dưới 1 năm) thậm chí có nghiệp
vụ bảo hiểm thời hạn chỉ có vài ngày vài giờ như bảo hiểm tai nạn hành khách…
nên phí bảo hiểm thường nộp một lần khi kí hợp đồng và quỹ bảo hiểm được quản
lý theo kĩ thuật phân chia tổn tích. Nghĩa là sau khi thu phí bảo hiểm, hình thành
quỹ, quỹ này sẽ được phân chia thành các quỹ khác nhau như quỹ dự phòng, quỹ
hạn chế tổn thất… Vào cuối năm tài chính có thể hạch toán được lỗ lãi của từng
để có được một định nghĩa thống nhất thì rất khó. Ở mỗi thời kì lịch sử khác nhau,
quan niệm và nhận thức về vấn đề cạnh tranh, phạm vi và các cấp độ áp dụng nó
cũng khác nhau. C.Mác khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản đã đề cập đến cạnh
tranh và vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Theo C.Mác: “Cạnh
tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những
điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu
ngạch”. Trong ngôn ngữ học, khái niệm cạnh tranh được hiểu là “cố gắng giành
phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi
ích như nhau”. Theo đại từ điển tiếng Việt thì cạnh tranh là “sự tranh đua giữa
những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, giành phần hơn, phần thắng về
mình”. Theo từ điển thuật ngũ kinh tế học “cạnh tranh là sự đấu tranh đối lập giữa
các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên
cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được”. Như vậy nếu hình
dung toàn bộ nền kinh tế như một trường đua trong thể thao, ai tham gia vào đó cũng
đều mong muốn đạt giải bằng sự cố gắng hết mình, thì cạnh tranh là động lực cho sự
phát triển của nền kinh tế - xã hội, nó làm cho mỗi thành viên trong xã hội đều phải
luôn tự hoàn thiện mình để đạt được kết quả cao nhất có thể.
Từ thực tế đã cho thấy, có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về cạnh
tranh. Tuy nhiên, xét theo quan điểm tổng hợp thì có thể hiểu khác niệm cạnh tranh
như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau
tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt mục tiêu kinh tế
của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như
các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể
kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với người sản xuất kinh
doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
Xét trên phương diện doanh nghiệp, theo định nghĩa của CIEM (Viện Nghiên
cứu Quản lý Kinh tế Trung ương) và UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hợp
Quốc) thì “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và
mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
trong nước và ngoài nước”. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể
Việc nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới suy cho cùng là nhằm mục tiêu
đáp ứng các nhu cầu rất đa dạng của khách hàng.
Giữa ba cấp độ năng lực cạnh tranh nói trên có mối quan hệ mật thiết với
nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh
quốc gia cao thì đòi hỏi phải có nhiều doanh nghiệp phải có năng lực cạnh tranh. Và
ngược lại các doanh nghiệp chỉ có thể cạnh tranh tốt trong một quốc gia có nền kinh
tế thuận lợi, chính sách kinh tế vĩ mô rõ ràng, môi trường đầu tư ổn định và kết cấu
cơ sở hạ tầng đảm bảo… Mặt khác, tính năng động, nhạy bén trong quản lý doanh
nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng, vì trong cùng một môi trường kinh doanh có
doanh nghiệp thành công nhưng cũng có doanh nghiệp bị thất bại. Bên cạnh đó
9
doanh nghiệp chỉ có sức cạnh tranh cao khi cản phẩm của mình có năng lực cạnh
tranh cao so với đối thủ cạnh tranh và được xã hội chấp nhận. Năng lực cạnh tranh
của sản phẩm dịch vụ ngoài chất lượng nội tại còn phụ thuộc nhiều vào danh tiếng
và uy tín của doanh nghiệp.
Vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ là cơ sở, điều kiện
để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế đất nước.
Hiện nay nước ta đang tiến sau vào quá trình hội nhập thì yêu cầu nâng cao năng
lực cạnh tranh trên cả ba cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ ngày
càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trong đó tính chủ động tích cực, sáng tạo
của các doanh nghiệp nắm giữ vai trò quyết định.
1.2.2.
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm bảo hiểm
của doanh nghiệp bảo hiểm
1.2.2.1. Quy mô và năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm
Năng lực tài chính không chỉ là yếu tố quyết định tới NLCT của DNBH mà
tiện vận tải… mà còn chủ yếu tồn tại dưới các hình thức như: các quỹ đầu tư tài
chính ngắn hạn, bất động sản hay tiền gửi ngân hàng… Trong đó các tài sản dưới
dạng các khoản đầu tư thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cơ cấu tài ản và có vai
trò vô cùng quan trọng đối với các công ty vì tài sản của DNBH chủ yếu hình thành
doanh nghiệp sẽ sử dụng nguồn vốn này đem đầu tư sinh lời. Đầu tư chính là cách
hữu hiệu để phát triển quỹ tài chính và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nguồn tài
sản của doanh nghiệp càng lớn càng chứng tỏ doanh nghiệp có nền tảng tài chính
tốt nên sức cạnh tranh doanh nghiệp cũng như sức cạnh tranh của các sản phẩm bảo
hiểm sẽ cao.
c. Dự phòng nghiệp vụ
Dự phòng nghiệp vụ là khoản dự trữ liên quan đến từng nghiệp vụ bảo hiểm,
được trích lập và hạch toán vào chi phí kinh doanh nhằm mục đích thanh toán các
trách nhiệm đã được xác định trước và phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm đã được ký
kết. Thực chất đây là nguồn vốn vay của nhà bảo hiểm vì sau khi ký kết hợp đồng
bảo hiểm, DNBH đã có trong tay một khoản lớn phí nhưng nếu trong thời hạn bảo
hiểm có sự kiện bảo hiểm xảy ra DNBH phải tiến hành bồi thường, chi trả tiền bảo
hiểm. Nhưng nhiều khi số tiền phải chi trả lớn hơn nhiều lần so với phí bảo hiểm
thu được và rủi ro xảy ra trên quy mô lớn, do đó để đảm bảo nghĩa vụ của mình đối
với khách hàng, doanh nghiệp buộc phải thiết lập các khoản dự phòng nghiệp vụ.
Đối với DNBH PNT, các quỹ dự phòng bao gồm 3 loại quỹ quan trọng nhất là
dự phòng phí, dự phòng bồi thường và dự phòng dao động lớn.
Việc trích lập các quỹ dự phòng không chỉ là yêu cầu có tính chất kỹ thuật mà
còn là bắt buộc và có tính pháp lý cao đối với DNBH.
Nếu các khoản dự phòng phí được thực hiện một cách chính xác, hợp lý thì
doanh nghiệp có khả năng đảm bảo được quyền lợi đối với khách hàng, góp phần
nâng cao uy tín của doanh nghiệp, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và nâng cao được
11
sức cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường.
nghiệp vụ cao lại có đạo đức nghề nghiệp tốt, vì trong bảo hiểm dễ xảy ra trục lợi
khi có sự phối hợp giữa cán bộ của DNBH và khách hàng.
a. Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của một DNBH
12
Việc đánh giá được thực hiện thông qua đánh giá các chỉ tiêu sau:
+ Số lượng và trình độ của đội ngũ cán bộ nhân viên của công ty nói chung và
cán bộ nhân viên phụ trách về nghiệp vụ BHCN PNT nói riêng.
+ Năng suất lao động bình quân trong doanh nghiệp:
=
Trong đó:
là năng suất lao động bình quân trong kỳ 1 lao động
D là doanh thu của DNBH trong kỳ
là số lượng lao động bình quân trong kỳ của DNBH
+ Thu nhập bình quân và các chính sách đãi ngộ đối với các nhân viên
b. Đánh giá năng lực quản lý của doanh nghiệp
Đánh giá thông qua các tiêu chí:
+ Cơ cấu tổ chức bộ máy của doanh nghiệp: Một mô hình bộ máy tổ chức gọn
nhẹ vừa mang tính chuyên biệt nhưng lại hoạt động hiệu quả và linh hoạt sẽ góp
phần nâng cao năng lực quản lý điều hành cũng như đáp ứng được các yêu cầu
trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Trình độ chuyên môn và trình độ quản lý của ban điều hành công ty sẽ giúp
đưa ra được các quyết định, các chiến lược kinh doanh đúng đắn trong từng giai
đoạn phát triển của công ty.
+ Tính linh hoạt và thích nghi của DNBH: Do thị trường bảo hiểm thường
xuyên biến động và các đối thủ cạnh tranh của DNBH cũng không ngừng thay đổi
chiến lược kinh doanh của mình nên để có thể tồn tại và chiến thắng trong cạnh
tranh thì buộc các DNBH phải tự làm mới mình. Để đánh giá tính đổi mới của
Thị phần của SPBH =
Việc xác định thị phần của DNBH cũng như SPBH chính là xác định chỗ
đứng của DNBH trên thị trường. Do vậy, thị phần luôn được coi là chỉ tiêu hàng
đầu khi đánh giá NLCT của doanh nghiệp hoặc của SPBH. Thị phần của doanh
nghiệp càng lớn chứng tỏ vị thế của doanh nghiệp trên thị trường càng cao, sự tín
nhiệm của khách hàng đối với doanh nghiệp càng tăng, doanh nghiệp càng có điều
kiện mở rộng và phát triển nên NLCT của các SPBH mà doanh nghiệp đang triển
khai sẽ có NLCT càng cao vì khách hàng đã biết nhiều đến uy tín của doanh nghiệp.
Ngược lại, NLCT đó càng mạnh mẽ thì có nhiều khách hàng sẽ chọn SPBH
của doanh nghiệp, càng góp phần giúp doanh nghiệp gia tăng thị phần.
b. Thương hiệu của DNBH về sản phẩm BHCN PNT
Theo tâm lý chung của đại đa số khách hàng, họ thường có xu hướng tiêu
dùng những sản phẩm thông qua việc biết tới thương hiệu của doanh nghiệp sản
xuất ra chúng, vì chỉ khi có một thương hiệu mạnh mới mang tới cho khách hàng sự
14
an tâm về chất lượng và giá cả của sản phẩm, dịch vụ mà họ chọn mua. Một thương
hiệu được nhiều người biết tới sẽ có tác dụng lớn thu hút khách hàng tới tiêu dùng
sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường nhưng ngược lại chính
niềm tin và sự tín nhiệm của khách hàng cũng góp phần không nhỏ tạo dựng thương
hiệu, uy tín của doanh nghiệp. Thương hiệu không chỉ tạo sự phát triển bền vững
cho doanh nghiệp mà nó còn là một rào cản vô hình vô cùng lợi hại hạn chế sự gia
nhập thị trường của các đối thủ cạnh tranh trong tương lai. Chính vì vậy, có thể
khẳng định rằng việc xây dựng thương hiệu có thể coi là vấn đề mang tính sống còn
đối với mỗi doanh nghiệp mà đặc biệt là những doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm
bảo hiểm trên thương trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay.
Kinh nghiệm của rất nhiều công ty hàng đầu trên thế giới đã chứng minh,
thương hiệu là một tiêu chí hàng đầu về đánh giá NLCT của DNBH và NLCT về
sản phẩm của doanh nghiệp đó. Việc đánh giá thương hiệu chính là việc đánh giá
Chi phí của DNBH là toàn bộ số tiền DNBH chi ra trong kỳ phục vụ quá trình
hoạt động kinh doanh trong vòng 1 năm.
Dựa vào kết quả thu chi sẽ tính được lợi nhuận mà DNBH thu được trong 1
năm. Có 2 chỉ tiêu lợi nhuận:
Lợi nhuận trước thuế = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp
Các chỉ tiêu doanh thu, chi phí và lợi nhuận cũng có thể tính riêng cho từng
nghiệp vụ bảo hiểm. Khi đó, cần đảm bảo nguyên tắc: những khoản thu, chi nào có
liên quan trực tiếp đến nghiệp vụ phải được tính trực tiếp cho nghiệp vụ đó (như:
phí bảo hiểm, chi bồi thường, STBH chi trả…), những khoản thu gián tiếp (chi quản
lý doanh nghiệp, thu nhập đầu tư…) phải được phân bổ theo tỷ lệ giữa doanh thu
phí bảo hiểm nghiệp vụ so với tổng doanh thu phí bảo hiểm nói chung.
b. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
Hiệu quả kinh doanh của DNBH là thước đo sự phát triển của bản thân doanh
nghiệp và phản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả kinh
doanh nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Hiệu quả kinh doanh của DNBH luôn gắn với những mục tiêu kinh tế - xã hội.
Trước hết là những mục tiêu của DNBH, sau đó là của ngành bảo hiểm và toàn bộ
nền kinh tế - xã hội. Bởi vì bảo hiểm không chỉ mang tính kinh tế, mà còn mang
tính xã hội. Cho nên khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của một DNBH không chỉ
xét trên góc độ kinh tế mà còn phải xét trên góc độ phục vụ xã hội.
+ Đứng trên góc độ kinh tế: Hiệu quả kinh doanh của DNBH được đo bằng tỷ
số giữa doanh thu hoặc lợi nhuận với tổng chi phí chi ra trong kỳ:
Hd = D/C (1)
Hc = L/C (2)
Trong đó:
Hd, Hc: Hiệu quả kinh doanh của DNBH tính theo doanh thu và lợi nhuận
D: Doanh thu trong kỳ
C: Tổng chi phí chi ra trong kỳ
L: Lợi nhuận thu được trong kỳ
=
* 100%
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
=
* 100%
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là một tỷ số tài chính dùng để theo dõi tình
hình sinh lợi của doanh nghiệp. Nó phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng dành cho
cổ đông và doanh thu của công ty. Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu
phần trăm trong doanh thu. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh
doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là càng lãi lớn. Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là
công ty kinh doanh thua lỗ.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu – ROE là tỷ số tài chính để đo khả năng
sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ phần ở một công ty cổ phần. Tỷ số này cho biết cứ
100 đồng vốn chủ sở hữu của công ty cổ phần này tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là công ty làm ăn có lãi; nếu mang giá trị âm là
công ty làm ăn thua lỗ.
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản – ROA là một tỷ số tài chính dùng để đo lường
khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. Nếu tỷ số này lớn hơn 0,
thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm
ăn càng hiệu quả. Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp lầm ăn thua lỗ. Mức
17
lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh
nghiệp. Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của
quảng cáo, điều kiện mua bán…
Với mỗi sản phầm bảo hiểm nói chung và các sản phẩm BHCN PNT nói
riêng, mỗi DNBH khi triển khai sản phẩm của mình trên thị trường đều phải cân
nhắc về NLCT của sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh. Về cơ bản, các DNBH
thường quan tâm đến các tiêu chí đánh giá NLCT của sản phẩm như sau:
1.2.3.1. Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm bảo hiểm nói chung và BHCN PNT nói riêng được đánh
giá thông qua mức độ thỏa mãn yêu cầu của khách hàng cùng với các dịch vụ sau
18
bán hàng như giám định, bồi thường…
Mỗi sản phẩm bảo hiểm đều được biểu hiện trên hợp đồng bảo hiểm (trong
quy tắc, điều khoản, biểu phí). Nội dung cơ bản của một hợp đồng bảo hiểm thường
bao gồm:
Đối tượng bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm
Rủi ro được bảo hiểm và rủi ro loại trừ
Thời hạn bảo hiểm
Mức phí bảo hiển và phương thức nộp phí
Các quy định về việc giải quyết bồi thường và xử lý tranh chấp nếu có
Có thể thấy chính những yếu tố này kết hợp với nhau tạo nên chất lượng của
mỗi sản phẩm bảo hiểm. Bên cạnh đó, còn phải kể đến chất lượng của khâu giám
định tổn thất và giải quyết bồi thường, chi trả. Thực hiện tốt khâu này một cách chủ
động, nhanh chóng, chính xác, hợp lý chính là sự biểu hiện cụ thể trách nhiệm và
nghĩa vụ của DNBH đối với khách hàng của mình.
1.2.3.2. Giá cả sản phẩm
Cạnh tranh bằng giá phải được đảm bảo về mặt luật pháp thông qua các quy
định về quản lý phí bảo hiểm. Sau đó phí bảo hiểm phải đảm bảo yêu cầu về mặt tài
chính của doanh nghiệp, bao gồm khả năng chi trả bồi thường, các chi phí hoạt
giúp tiết kiệm chi phí khai thác ban đầu, tăng thêm kinh nghiệm phòng tránh rủi ro.
Hơn thế, khách hàng cũ còn có khả năng lôi kéo khách hàng mới về với DNBH.
Công tác dịch vụ khách hàng còn tạo ra sự khác biệt so với các đối thủ
cạnh tranh (nhất là trong giao tiếp, chăm sóc, dẫn dụ khách hàng), từ đó nhiều
khách hàng sẽ chung thủy hơn với DNBH. Đồng thời còn tạo cảm giác cho họ về
những quyền lợi mà họ được hưởng không chỉ có giá trị của sản phẩm bảo hiểm mà
cả chất lượng phục vụ.
Thực hiện tốt công tác dịch vụ khách hàng cũng góp phần cải thiện môi
trường làm việc, nâng cao uy tín của DNBH.
Một khi đã giữ được khách hàng cũ và lôi kéo thêm nhiều khách hàng mới
nhờ công tác dịch vị khách hàng không chỉ góp phần tăng doanh thu mà còn tiết
kiệm được nhiều khoản chi khác.
Công tác dịch vụ khách hàng thường được xem xét dưới 2 nội dung: dịch vụ
chăm sóc khách hàng và dịch vụ hỗ trợ khách hàng.
Dịch vụ chăm sóc khách hàng được thực hiện sau khi giao kết hợp đồng bảo
hiểm, thông qua những lời thăm hỏi, tặng quà trong các dịp lễ tết, sinh nhật, trong
tư vấn đề phòng và hạn chế tổn thất…
Đối với các DNBH PNT, dịch vụ hỗ trợ khách hàng thường được thực hiện
dưới hình thức tổ chức các “Hội nghị khách hàng”, nhằm mục đích duy trì mối liên
hệ thường xuyên với họ. Qua hội nghị khách hàng, DNBH sẽ nắm bắt được nhu cầu
của khách hàng về các loại sản phẩm và dịch vụ bảo hiểm, những ý kiến đóng góp
của họ về mỗi loại sản phẩm bảo hiểm mà doanh nghiệp đã tung ra thị trường,
những vấn đề còn tồn tại trong các khâu dịch vụ…
1.2.3.4. Hệ thống phân phối
Hình thức cạnh tranh này biểu hiện rất phong phú và đa dạng, gồm: phân phối
trực tiếp (gặp gỡ trực tiếp, điện thoại, thư tín, mail…), phân phối gián tiếp (công ty môi
giới, đại lý bán buôn, đại lý bán lẻ). Việc lựa chọn kênh phân phối của DNBH có mối
20