MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lúa là cây lương thực chính của hơn 50% dân số thế giới, đặc
biệt đối với người dân Châu Á. Đối với Việt Nam, lúa gạo là nguồn
lương thực chính, ngoài ra lúa gạo còn là nguồn xuất khẩu thu nhiều
ngoại tệ. Tuy nhiên, rầy nâu (Nilarpavata lugens Stal) là tác nhân hại
lúa nghiêm trọng đặc biệt ở các nước Châu Á. Giải pháp cơ bản và lâu
dài mà vẫn an toàn với môi trường và sức khỏe người dân là xác định và
phổ biến các giống lúa kháng rầy nâu đến với người nông dân.
Hiện nay đa số giống lúa đang được trồng chủ yếu ở tỉnh Thừa
Thiên Huế đều nhiễm rầy nâu. Do vậy, việc di nhập giống lúa kháng
rầy nâu từ các vùng miền khác để trồng và đánh giá khả năng kháng
rầy nâu và các đặc điểm nông sinh học tại Thừa Thiên Huế là việc
thiết yếu nhằm tuyển chọn bổ sung nguồn giống lúa kháng rầy nâu,
sinh trưởng phát triển tốt tại điều kiện sinh thái địa phương .
Khả năng kháng rầy nâu của các giống lúa được đánh giá thông
qua phản ứng với quần thể rầy nâu địa phương, đồng thời sử dụng kỹ
thuật của sinh học phân tử trong việc xác định các gen kháng rầy cho kết
quả chính xác và rút ngắn được thời gian thử nghiệm. Ngoài việc chọn
lọc giống lúa kháng rầy nâu và năng suất cao thì chất lượng gạo cũng là
mục tiêu được quan tâm. Những giống lúa có ưu thế về chất lượng gạo
như hàm lượng tinh bột, amylose, độ trở hồ, độ bền gel…làm cho cơm
có vị ngọt, ngon, mềm và dẻo đồng thời có hàm lượng các chất dinh
dưỡng cao là những giống lúa cần được khai thác.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu
khả năng kháng rầy nâu và đặc điểm nông sinh học của một số
giống lúa tại Thừa Thiên Huế”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá khả năng kháng rầy nâu của một số giống
lúa, phân tích các đặc điểm nông sinh học (thời gian sinh trưởng, khả
năng đẻ nhánh, năng suất, chất lượng...) của các giống lúa kháng rầy
25 trang; nguyên liệu, nôi dung và phương pháp nghiên cứu: 14 trang;
kết quả nghiên cứu và thảo luận: 42 trang; kết luận và đề nghị: 2 trang;
những công trình đã công bố: 1 trang, tài liệu tham khảo: 11 trang, phụ
lục: 20 trang.
NỘI DUNG LUẬN ÁN
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu về lúa gạo
Loài lúa trồng quan trọng nhất, thích nghi rộng rãi và chiếm
đại bộ phận diện tích lúa thế giới là Oryza sativa L. Hiện nay có 2
loại lúa chính là nhóm lúa Indica và Japonia. Các bộ phận của một
nhánh lúa bao gồm: rễ, thân, lá và có thể có hoặc không có bông.
2
Các lá mỏng, hẹp bản (2,0-2,5 cm) và dài 50-100 cm. Các hoa nhỏ
thụ phấn nhờ gió, mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ
xuống, dài khoảng 30-50 cm. Hạt lúa là loại quả thóc (hạt nhỏ, cứng
như các loại cây ngũ cốc) dài 5-12 mm và dày 2-3 mm. Sau khi xát
bỏ lớp vỏ ngoài, thu được sản phẩm chính là gạo và các phụ phẩm
là cám và trấu.
1.2. Đặc điểm sinh lý của cây lúa
1.2.1. Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lúa
Thời gian sinh trưởng của cây lúa từ khi nảy mầm cho đến chín
thay đổi từ 90- 180 ngày tùy theo giống và điều kiện ngoại cảnh. Cây
lúa trải qua 2 thời kỳ sinh trưởng, phát triển chính là sinh trưởng dinh
dưỡng và sinh trưởng sinh thực. Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng
được tính từ lúc gieo đến lúc làm đòng, gồm thời kỳ nảy mầm, mạ và
làm đốt, làm đòng. Trong thời kỳ này cây lúa hình thành và phát triển
các cơ quan dinh dưỡng như ra lá, phát triển rễ, đẻ nhánh. Thời kỳ
điều kiện cơ bản để nâng cao năng suất cây trồng và ngược lại.
1.3. Đặc điểm hình thái, đặc tính hóa sinh của hạt gạo
Chất lượng hạt gạo được đánh giá thông qua chất lượng dinh
dưỡng, chất lượng nấu nướng và chất lượng xay chà. Hàm lượng chất
dinh dưỡng có trong hạt gạo bao gồm: hàm lượng protein, tinh bột,
lipid. Độ mềm dẻo của hạt gạo khi nấu thành cơm được đánh giá
thông qua hàm lượng amylose, độ trở hồ, độ bền gel. Ngoài ra chỉ
tiêu hình dạng hạt gạo và độ bạc bụng cũng được sử dụng để đánh
giá chất lượng gạo.
1.4. Rầy nâu gây hại và khả năng kháng rầy nâu của cây lúa
1.4.1. Giới thiệu về rầy nâu
Rầy nâu (Nilarpavata lugens S.) chích hút trực tiếp chất dinh
dưỡng từ cây đang phát triển, làm giảm năng suất, nếu mật độ rầy cao
có thể làm chết cây lúa, gây hiện tượng cháy khô cả đám ruộng.
Ngoài ra, rầy nâu cũng có thể gây hại gián tiếp cho cây lúa bằng cách
truyền virus gây bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá.
1.4.2. Biotype rầy nâu
Rầy nâu hiện nay có 4 biotype: biotype 1 phân bố rộng ở vùng
Đông Á và Đông Nam Á, biotype 2 có nguồn gốc ở Philippin phát
sinh sau khi sử dụng rộng rãi các giống có gen bph1, biotype 3 phát
sinh từ các phòng thí nghiệm ở Nhật Bản và Philippin, biotype 4 chỉ
thấy ở vùng Nam Á. Quần thể rầy nâu ở tỉnh Thừa Thiên Huế thuộc
biotype 1 và biotype 2.
1.4.3. Cơ chế kháng rầy nâu của cây lúa
Tính kháng là một phản ứng tự vệ của cây chống lại sự tấn
công của côn trùng và mầm bệnh. Hiểu rõ cơ chế kháng rầy sẽ là tiền
đề quan trọng cho những biện pháp nhằm hạn chế thiệt hại do rầy nâu
gây ra. Những nghiên cứu dựa vào các kỹ thuật phân tử gần đây cho
thấy có sự thay đổi về mặt di truyền, sinh lý và hóa sinh của cây lúa
khi có sự tấn công của rầy nâu.
và Đông Xuân tại hợp tác xã An Đông, thành phố Huế.
- Các đặc điểm chất lượng hạt gạo (hàm lượng protein,
amylose, độ trải gel, hình dạng hạt, độ bạc bụng...) của các giống lúa
nghiên cứu trong hai vụ Hè Thu và Đông Xuân tại hợp tác xã An
Đông, thành phố Huế.
- Đánh giá tính kháng rầy nâu của các giống lúa nghiên cứu
(trong nhà lưới và ngoài đồng ruộng) trong hai vụ Hè Thu và Đông
Xuân tại hợp tác xã An Đông, thành phố Huế.
- Xác định gen kháng rầy nâu có trong các giống lúa nghiên
cứu bằng kỹ thuật sinh học phân tử.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 5 giống lúa có nguồn gốc và mức độ kháng rầy
nâu khác nhau. Mỗi giống là một công thức thí nghiệm và được bố trí
theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần nhắc lại, mỗi ô thí nghiệm có diện
tích 10 m2 (5 m x 2 m), khoảng cách giữa các ô là 30 cm.
5
2.3.2. Đánh giá các chỉ tiêu nông sinh học: được xác định và
đánh giá dựa theo “Quy phạm khảo nghiệm giống quốc gia 10 TCN
558-2002” (Bộ NN&PTNT, 2002) và "Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá
cây lúa" của IRRI (IRRI, 2002).
2.3.3. Đánh giá chất lượng gạo: hàm lượng protein được xác
định theo phương pháp Bradford (1976), hàm lượng glucose được
xác định được xác định theo phương pháp của Lindsay (Lindsay,
1973), hàm lượng lipid được xác định bằng phương pháp Soxhlet
(Mùi, 2001), hàm lượng amylose được xác định theo phương pháp
của Sadavisam và Manikam (1992), độ bền gel được xác định theo
54 3 4
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm nông sinh học của các giống lúa
3.1.1. Thời gian sinh trưởng và phát triển
Hình 3.2. Diễn biến của các yếu tố thời tiết qua các vụ lúa
vụ Hè Thu (A, B) và vụ Đông Xuân (C, D)
Bảng 3.1. Thời gian sinh trưởng của các giống lúa
Giốn
g
KD
L1
L3
L25
L27
Làm đòng
Đẻ nhánh
Trổ rộ
Chín
HT
ĐX
80,7Ab±0,6
71,7Bb±1,5
79,3Ab±0,6
86,3Cb±1,2
84,3Cb±0,6
77,3Aa±0,6
78,7Aa±1,5
74,3Ba±0,6
77,3Aa±0,6
85,3Ca±0,6
111,7Ab±2,9
104,7Bb±0,6
105,3Bb±1,2
103,3Bb±1,5
94,0Cb±1,7
96,3Aa±0,6
96,3Aa±0,6
94,7Ba±0,6
96,3Aa±0,6
96,7Aa±0,6
137,0Ab±1,7
137,3Ab±1,2
135,3ABb±0,6
132,3Bb±2,5
126,0Cb±1,0
phối bởi điều kiện ngoại cảnh và chế độ canh tác.
3.1.6. Chiều cao cây
Chiều cao cây đo được ở các giống lúa dao động từ 93-107 cm
trong vụ Hè Thu, và từ 94,3-106,7 cm trong vụ Đông Xuân. Theo
thang điểm để đánh giá chiều cao cây của IRRI thì giống phổ biến ở
địa phương Khang Dân và các giống lúa nghiên cứu đều thuộc nhóm
lúa bán lùn (
ĐX
8,4AB±0,4
7,1A±0,2
9,0B±1,0
7,0A±0,5
7,4A±0,5
cao cây (cm)
á đòng (cm2)
HT
ĐX
HT
ĐX
30,9A±4,6 29,7A±4,0 103,7A±7,4 104,3A±0,6
A
A
B
31,2 ±6,4 29,7 ±1,9 93,0 ±2,6 94,3B±1,2
31,4A±4,0 30,7A±0,6 95,3B±1,2 95,7BC±0,6
28,8A±2,7 29,5A±1,2 96,3B±1,5 96,7C±0,6
20,2B±2,3 19,9B±1,4 107,0A±1,0 106,7D±0,6
dài bông (cm)
HT
21,8A±0,3
24,3BC±0,4
21,9A±0,2
23,9B±0,3
24,9C±0,5
5,1Aa±0,1 5,7Ab±0,0
4,1Ba±0,1 5,0ABb±0,4
3,9B±0,1 4,5B±0,7
3,5C±0,1 4,3B±0,5
4,1Ba±0,1 3,9Bb±0,0
Diệp lục b
(mg/g)
HT
ĐX
1,6±0,1 1,9±0,3
1,6±0,3 1,6±0,2
1,7±0,3 1,8±0,3
1,5±0,1 1,6±0,3
1,6±0,2 1,6±0,3
Diệp lục a/b
HT
3,3±0,3
2,6±0,5
2,3±0,3
2,3±0,3
2,7±0,3
ĐX
3,0±0,6
3,1±0,4
2,6±0,8
2,8±1,0
2,5±0,5
HT
346,9Aa±4,6 361,0Ab±1,0
Ba
297,4 ±14,9 350,9ABb±9,4
321,6ABa±12,8 347,2Bb±4,4
293,0B±12,3 294,0C±1,0
346,1A±23,2 342,5B±2,8
Số hạt/bông
ĐX
HT
127,2Aa±1,5 110,5Ab±4,3
B
103,0 ±6,1 105,6AB±2,0
106,3Ba±4,0 98,7Bb±1,7
125,7Ba±3,9 113,2Ab±3,9
102,1Aa±5,4 86,3Cb±2,5
9
Số hạt chắc/bông
ĐX
HT
110,7Aa±7,3 97,5Ab±0,5
B
B
88,1 ±1,2 86,4 ±1,0
90,3B±0,2 88,7B±1,2
106,1A±3,5 111,5C±3,2
87,2B±2,5 87,7B±0,8
69,2AB±6,8
71,4A±2,8
B
64,9 ±3,3
64,5B±1,0
NSTT (tạ/ha)
ĐX
HT
63,8a±1,6
57,8ABb±1,3
58,3±4,5
56,3AB±1,2
57,0±3,7
55,3B±0,7
56,9±1,6
58,7A±1,6
57,1±1,5
56,8AB±0,3
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của giống và mùa vụ đối với các chỉ tiêu
nông sinh học
Chỉ tiêu
Thời gian đẻ nhánh
Thời gian làm đòng
Thời gian trổ rộ
Thời gian chín
Nảy mầm
Chiều cao cây
Diện tích lá
4
4
4
Giá trị F và (giá trị P)
Giống
Mùa vụ
40,53 (
6,47 (
AIC-Mối quan
hệ tối ưu
71,54
69,91
67,74
66,26
65,04
64,60
63,40
61,72
60,59
3.3. Chất lượng hạt gạo của các giống lúa
3.3.1. Hàm lượng protein
Hàm lượng protein từ 7,9-10,6% (Hè Thu), vụ Đông Xuân
hàm lượng protein thay đổi từ 7,8-10,6%. Kết quả phân tích
ANOVA hai yếu tố cho thấy hàm lượng protein trong mỗi giống
lúa được quy định bởi yếu tố di truyền.
3.3.2. Hàm lượng tinh bột
Hàm lượng tinh bột bột trong hạt gạo của các giống nghiên cứu
dao động từ 65,7-73,0% (Vụ Hè Thu) và từ 65,5-74,6% (Đông
Xuân).
11
3.3.3. Hàm lượng amylose
Vụ Hè Thu khoảng dao động là 2,0-26,8%, cao nhất là giống
Khang Dân, thấp nhất là giống IRRI 352. Vụ Đông Xuân từ 2,127,0%. Như vậy, qua cả hai vụ mùa giống IRRI 352 thuộc nhóm gạo
bạc bụng ít hơn 10% ở trong hạt gạo); hạt gạo giống Lốc Nước có
cấp độ bạc bụng 5 (vùng bạc bụng 11-20%). Giống nếp IRRI 352 có
hình dạng hạt mập, tròn, tỷ lệ dài/rộng của hạt gạo là 1,97. Các giống
lúa tẻ còn lại đều có hình dạng hạt thon mức trung bình.
Bảng 3.7. Chỉ tiêu chất lượng gạo của các giống lúa
Giống
KD
L1
L3
L25
L27
Protein (%)
ĐX
HT
7,9A±0,0 7,8A±0,1
9,6B±0,2 9,8B±0,5
10,6C±0,0 10,6C±0,0
9,6B±0,0 9,7B±0,2
10,1D±0,1 10,0BC±0,2
Tinh bột (%)
ĐX
HT
67,4±1,0 68,7A±0,8
66,3±4,4 66,3A±1,8
65,7±1,2 65,5A±3,7
65,9±4,9 66,5A±1,3
73,0±2,0 74,6B±0,4
Protein (%)
Tinh bột (%)
Amylose (%)
Lipid (%)
Chiều dài gel
Df
4
4
4
4
4
Giá trị F và (giá trị P)
Giống
Mùa vụ
150,41 (
Ống nghiệm
4,5A
2,5B
2,2B
2,0B
1,8C
5,5D
Giống
KD
L1
L3
L25
L27
TN1
SLN 7
Hộp mạ
5,2A
2,2B
1,8B
2,3B
1,8C
7,3D
Ống nghiệm
5,8A
4,2B
4,3BC
3,7CD
Aa
Ab
HT
HT
ĐX
Ab
Aa
524,7Aa±9,6
0,0 27,5 ±0,5
3,6 ±0,2 30,4 ±1,4
35,6 ±1,6
150,2 ±2,2 65,4 ±2,4 545,4 ±15,4
52,8Ab±1,8
L1
2,7B±0,4 0,0
1,9A±0,2 0,0
18,6D±0,6
0,0 36,3Da±0,3 2,6Db±0,1 39,4Da±0,4
L27
2,1A±0,2 0,0 18,2CD±0,2 0,0 27,4Aa±0,4 1,7Bb±0,2 31,3Aa±1,3
14
Aa
80 NSG
ĐX
22,4 ±0,4
Ca
Ab
73 NSG
HT
1,7 ±0,1 0,0
C
295,6 ±5,6
27,6BCb±0,6
112,4Ca±4,4 25,5Cb±2,5
186,3Ca±3,3
16,5Db±2,5
109,1Ca±9,1 27,5Cb±1,5
163,0Ca±3,0
22,4Cb±1,4
Bảng 3.10. Mức độ nhiễm rầy nâu của các giống lúa ngoài đồng
ruộng (tiếp tục)
Đơn vị tính: con/m2
87 NSG
Giống
94 NSG
101 NSG
108 NSG
7,5Ba±1,0
218,2Bb±18,2 0,0
L3
Ca
70,2 ±0,2
Bb
30,1 ±0,1
A
43,9 ±6,1
A
47,3 ±0,3
L25
Ca
73,9 ±1,9
Cb
4,5 ±0,5
Da
5,4 ±0,4
Bb
216,2 ±17,9 0,0
Cb
120,2 ±4,8
Cb
150,2 ±2,2
Hình 3.5. Biểu đồ diễn biến mật
độ rầy nâu trên các giống lúa vụ
Hè Thu
15
0,0
0,0
345,6 B±9,6
C
184,2 ±4,2
D
0,0
0,0
ĐX
129 NSG
170,3Aa±10,3
HT
ĐX
122 NSG
KD
Ca
ĐX
115 NSG
HT
20,2B±1,2 0,0
ĐX
9,6B±0,6
Vụ Đông Xuân (từ tháng 1tháng 5) rầy nâu bắt đầu xuất
hiện vào thời điểm 60 ngày
sau gieo.Từ đầu tháng 4 đến
tháng 5, thì lượng rầy xuất
hiện nhiều ở các giống lúa
nghiên cứu và tăng dần mật
độ. Mật độ rầy/m2 tiếp tục
tăng từ tháng giữa tháng 3-giai
đoạn lúa làm đòng và đạt mật
độ cao nhất ở giai đoạn trỗ rộ.
Mật độ rầy/m2 cao nhất ở
Hình 3.6. Biểu đồ diễn biến mật độ
rầy nâu trên các giống lúa vụ Đông
Xuân
Chúng tôi nhận thấy có sự tương đối đồng nhất giữa kết quả lây
nhiễm nhân tạo trong phòng thí nghiệm và mật độ rầy nâu ngoài đồng
ruộng của các giống. Các giống BG 367-2, Sài Đường Kiến An và Lốc
Nước có biểu hiện kháng trong phòng thí nghiệm thì mật độ rầy nâu trên
đồng ruộng cũng thấp hơn so với các giống khác.
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của giống và mùa vụ đối
với khả năng kháng rầy
Giá trị F và (giá trị P)
Chỉ tiêu
SLN 5 (ống nghiệm)
SLN 7 (ống nghiệm)
Số rầy/cây (45 NSG)
Số rầy/cây (52 NSG)
207,47 (
ngày, 108 ngày và 129 ngày ảnh hưởng đến 62% năng suất lúa ở mức
ý nghĩa P = 0,0015.
Bảng 3.11. Mô hình tối ưu ảnh hưởng của thời gian nhiễm
bệnh năng suất lúa
Stt
Mô hình
1
Năng suất ~ 45NSG + 52NSG + 59NSG + 66NSG + 73NSG +
80NSG + 87NSG + 94NSG + 101NSG + 108NSG + 115NSG +
122NSG + 129NSG
Năng suất ~ 45NSG + 59NSG + 66NSG + 73NSG + 80NSG +
87NSG + 94NSG + 101NSG + 108NSG + 115NSG + 122NSG +
129NSG
Năng suất ~ 45NSG + 59NSG + 66NSG + 73NSG + 80NSG + 87NSG +
94NSG + 101NSG + 108NSG + 122NSG + 129NSG
Năng suất ~ 45NSG + 59NSG + 66NSG + 73NSG + 80NSG +
87NSG + 94NSG + 101NSG + 108NSG + 129NSG
Năng suất ~ 45NSG + 59NSG + 66NSG + 73NSG + 80NSG +
87NSG + 101NSG + 108NSG + 129NSG
Năng suất ~ 45NSG + 59NSG + 66NSG + 73NSG + 80NSG +
87NSG + 108NSG + 129NSG
Năng suất ~ 45NSG + 66NSG + 73NSG + 80NSG + 87NSG +
108NSG + 129NSG
Hệ số:
(Intercept)
45d
66d
54,39
52,84
51,57
51,45
51,68
49,26
0,01 * 80d + 0,05 * 87d – 0,04 * 108d + 1,05 * 129d
3.4.2. Đặc điểm sinh học phân tử liên quan đến khả năng
kháng rầy * Xác định gen kháng rầy nâu bph1
+ Phản ứng PCR
Khuếch đại PCR trên DNA tổng số
của các giống lúa IRRI 352, BG
367-2, Sài Đường Kiến An và Lốc
Nước với cặp mồi BpE18-3. Kết
quả hình 3.7 cho thấy tất cả các
giống lúa nghiên cứu đều xuất hiện
băng DNA khuếch đại với kích
thước khoảng 500 bp. Các băng
DNA khá rõ chứng tỏ gen kháng
rầy bph1 có mặt trong các giống sử
Hình 3.7. Kết quả điện di sản
phẩm PCR với cặp mồi BpE18-3
SM: Chuẩn kích thước DNA
(1kb DNA Ladder)
+ Trình tự nucleotide của chỉ thị phân tử liên kết với gen bph1
(http://gramene.org,
internal
marker
accession: RM589).
Kết quả so sánh cho
Hình 3.10. So sánh trình tự nucleotide của
chỉ thị RM589 với RM589-L3
Ghi chú: RM589 là trình tự nucleotide
trên ngân hàng gen; RM589-L3 là trình tự
nucleotide của giống nghiên cứu
19
* Xác định gen kháng rầy nâu bph4
Hình 3.11 là kết quả điện di
sản phẩm PCR của chỉ thị RM586
liên kết chặt với gen bph4. Giống L1
không có băng khuếch đại, các giống
lúa L3, L25, L27 xuất hiện băng
DNA ở kích thước khoảng 300 bp.
Từ kết quả trên, chúng tôi nhận thấy
giống lúa BG 367-2, Sài Đường
Kiến An và Lốc Nước có gen bph4.
Hình 3.11. Kết quả điện di sản
phẩm PCR với cặp mồi RM586
* Trình tự nucleotide của chỉ thị phân tử liên kết với gen bph4
Trình
tự
nucleotide của giống
trong khi đó giống BG 367-2 có 3 băng (kích thước xấp xỉ 300, 250
và 200 bp). Dựa vào kết quả thu được chúng tôi có thể kết luận BG
367-2 là giống lúa có mang gen bph10.
Hình 3.13. Kết quả điện di sản
Hình 3.14. Kết quả điện di
phẩm PCR với cặp mồi
sản phẩm PCR được cắt bằng
RG457FL/RL
enzyme HinfI
* Xác định gen kháng rầy nâu bph14
+ Khuếch đại gen bph14
Kết quả PCR với cặp mồi M1, các giống BG 367-2, Sài Đường
Kiến An và Lốc Nước có băng DNA khuếch đại với kích thước
khoảng 1500 bp, giống IRRI 352 không có băng DNA. Kích thước
này tương đồng với kích thước của sản phẩm PCR dự kiến khi thiết
kế cặp mồi M1 (Hình 3.15 A).
Trong khi đó, phản ứng PCR với cặp mồi M2 cho kết quả thể hiện
ở hình 3.15 B: giống Sài Đường Kiến An và Lốc Nước có băng DNA
được khuếch đại với kích thước khoảng 1500 bp, xấp xỉ với kích thước
dự kiến. Hai giống IRRI 352 và BG 367-2 không xuất hiện băng.
Kết quả PCR với cặp mồi M3 cho kết quả ở hình 3.15 C, băng
khuếch đại có kích thước 1000 bp xuất hiện ở cả 4 giống lúa nghiên
cứu. Các băng DNA khá rõ chứng tỏ tính đặc hiệu cao của mồi.
Kết quả PCR với cặp mồi M4 cho băng khuếch đại ở 3 giống
lúa BG 367-2, Sài Đường Kiến An và Lốc Nước với kích thước
khoảng 1000 bp. Còn giống IRRI 352 không có băng khuếch đại với
cặp mồi này (Hình 3.15 D).
Như vậy, qua phân tích hình ảnh điện di cho thấy trong 4 giống
Kết quả giải trình tự của mẫu nghiên cứu được so sánh với trình tự
tương ứng trên cơ sở dữ liệu của GenBank (http://www.ncbi.nlm.nih.gov,
accession number: FJ941067.1) cho thấy chúng tương đồng nhau 90%.
Từ kết quả này ta có thể khẳng định giống lúa Sài Đường Kiến An và Lốc
Nước có gen bph14.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận
1. Các giống lúa nghiên cứu có các đặc điểm hình thái-sinh lý khá
phù hợp với nhiều vùng trồng lúa như: thời gian sinh trưởng-phát triển vụ
Hè Thu (94 đến 97 ngày), vụ Đông Xuân (126-137 ngày); tỷ lệ nảy mầm
cao (>95%); chiều cao cây thuộc nhóm bán lùn (