1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn
khẳng định dân chủ là bản chất, là mục tiêu và là động lực của cách mạng Việt
Nam. Thực tiễn cách mạng nước ta qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã chứng minh rằng: Thực hiện và mở rộng dân
chủ, tập hợp được sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân là yếu tố quyết
định để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mục tiêu chiến lược của đất nước.
Trong thời kỳ đổi mới, đất nước ta đứng trước những thời cơ và thách thức của
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế là
nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cũng hết sức khó khăn đặt ra đối với Đảng,
Nhà nước và nhân dân ta. Cũng như bất kỳ một quốc gia nào khác, để thực hiện
thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi chúng ta
phải có một hệ thống doanh nghiệp năng động, làm ăn có hiệu quả, có sức cạnh
tranh cao và phát triển bền vững. Ở nước ta, hệ thống doanh nghiệp nhà nước
(DNNN) đã thực sự đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là nguồn lực quan
trọng phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội (CNXH),
là công cụ quan trọng để nhà nước điều tiết vĩ mô, định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN) nền kinh tế. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, DNNN đã bộc lộ
những điểm yếu khá rõ ràng, đó là sự kém năng động trong sản xuất kinh
doanh, năng lực cạnh tranh yếu, hiệu quả kinh doanh thấp. Nhiều doanh nghiệp
làm ăn thua lỗ, không có lãi hoặc lãi ở mức độ không đáng kể vẫn đang tồn tại
bởi cơ chế quản lý, cơ chế ưu đãi, bảo hộ, đang thực sự trở thành rào cản kìm
hãm sức mạnh nội lực của nền kinh tế. Chính vì vậy, sắp xếp, đổi mới để phát
triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN là một yêu cầu khách quan, một
nhiệm vụ bức thiết của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hiện nay.
Một trong những giải pháp đổi mới DNNN đã được thực hiện và bước
đầu phát huy hiệu quả đó là cổ phần hóa (CPH) DNNN. Tuy nhiên, do nhiều lý
CPH trước mắt là hết sức nặng nề, việc mở rộng và phát huy dân chủ trong
CPH DNNN là yêu cầu có tính chất cấp bách trong thực tiễn, vì vậy việc triển
3
khai nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay" là hết sức cần thiết,
đáp ứng yêu cầu dân chủ hóa trong lĩnh vực kinh tế, nâng cao chất lượng và
hiệu quả CPH DNNN ở nước ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cổ phần hóa DNNN là một đề tài được nhiều nhà khoa học nghiên
cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Dưới góc độ pháp lý có nhiều công trình
nghiên cứu về CPH DNNN, tiêu biểu như:
- PGS.TS Lê Hồng Hạnh: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - những
vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. Đây là công
trình có nội dung đề cập tương đối toàn diện những khía cạnh pháp lý về CPH
DNNN, đánh giá thực trạng pháp luật về CPH DNNN, đưa ra những kiến nghị
có tính chất bao quát cao, góp phần hoàn thiện chính sách và pháp luật về CPH
DNNN.
- Nguyễn Thị Vân Anh: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - cơ sở
lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Hà Nội,
1997.
- Phan Vũ Anh: Hoàn thiện khung pháp luật về cổ phần hóa tổng công
ty nhà nước ở Việt Nam, Luật văn thạc sĩ luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
- Hoàng Thị Quỳnh Chi: Cơ sở pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997.
- Võ Thị Thùy Dương: Cổ phần hóa hình thức chủ đạo trong việc sắp
xếp lại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật,
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003.
5
- Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về CPH DNNN,
vấn đề dân chủ trong CPH DNNN và pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH
DNNN.
- Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật đảm bảo dân chủ
trong CPH DNNN, làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại, kiến nghị
một số giải pháp pháp lý cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ
trong CPH DNNN ở nước ta hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận văn:
Từ mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ: Làm rõ nội dung dân chủ
trong CPH DNNN, xác định khái niệm, nội dung pháp luật đảm bảo dân chủ
trong CPH DNNN, đề ra các tiêu chí và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN ở nước ta hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà
nước về dân chủ và kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu, viết luận văn, tác giả sử dụng tổng hợp
các phương pháp: Phân tích, tổng hợp; quy nạp, diễn giải; lịch sử cụ thể,
thống kê, so sánh...
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn làm rõ nội dung dân chủ trong CPH DNNN, đưa ra khái
niệm và tiêu chí hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN.
- Phân tích, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện các quy định của pháp
luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN, làm rõ thực trạng hạn chế, tồn tại.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp pháp lý cụ thể nhằm hoàn
thiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN ở nước ta hiện nay.
6
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO): Doanh
nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước hoặc do nhà nước
kiểm soát, có thu nhập chủ yếu từ việc tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ.
Ở nước ta, khái niệm DNNN được hình thành và thay đổi qua từng
thời kỳ tương ứng với sự thay đổi về cơ chế quản lý kinh tế và đặc biệt là sự
thay đổi nhận thức về vấn đề sở hữu. Trước khi Luật DNNN năm 1995 được
ban hành, DNNN ở nước ta tồn tại dưới tên gọi xí nghiệp quốc doanh, nông
trường quốc doanh và các công ty (thương mại). Khái niệm DNNN ở giai
đoạn này chủ yếu khẳng định vai trò chủ đạo, vị trí then chốt của DNNN
trong nền kinh tế, khẳng định quyền sở hữu tuyệt đối của Nhà nước đối với
doanh nghiệp và xác định nhiệm vụ thực hiện hoạt động sản xuất và kinh
8
doanh theo kế hoạch nhà nước của doanh nghiệp. Khái niệm DNNN chỉ được
chính thức ghi nhận trong các quy định của pháp luật ở nước ta khi Luật
DNNN năm 1995 được ban hành, theo quy định tại Điều 1: Doanh nghiệp nhà
nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý,
hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu
kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền
và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh
trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý, DNNN có tên gọi, có con dấu
riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam. Theo định nghĩa này, các tiêu
chí quyền sở hữu và quyền kiểm soát của Nhà nước đối với doanh nghiệp là
tuyệt đối, điểm tiến bộ quan trọng ở đây là sự dỡ bỏ yếu tố kế hoạch áp đặt
của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là
sự dỡ bỏ cơ bản những trói buộc của cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung đối với
DNNN, tạo cho DNNN quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh theo cơ
chế thị trường. Tuy nhiên, trong thực tiễn vận dụng, Luật DNNN 1995 nói
nguồn lực quan trọng khác của nền kinh tế.
Thứ hai, DNNN đang là một nguồn lực to lớn và quan trọng tạo ra sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội
nói chung và nhu cầu của sản xuất kinh doanh trong nước. Trong suốt thập kỷ 90
của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, DNNN luôn đóng góp một tỷ
trọng lớn vào tổng sản phẩm trong nước (chiếm từ 36% đến 40% GDP), đóng
góp trong tổng thu ngân sách tới hơn 50% (2003: 60%) và chiếm đến hơn 50%
kim ngạch xuất khẩu [35, tr. 104].
Với tiềm lực vượt trội về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực, DNNN
đang là lực lượng xung kích đảm đương nhiệm vụ thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, là lực lượng đi đầu trong ứng dụng khoa học kỹ thuật
tiên tiến, đổi mới công nghệ, đảm đương các nhiệm vụ nặng nề như xây dựng
cơ sở hạ tầng, phát triển các ngành sản xuất đòi hỏi có vốn đầu tư lớn, chu kỳ
thu hồi vốn dài... mà với thực lực hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân khó có
thể đảm đương được.
10
Thứ ba, DNNN là một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước
thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khắc phục những khuyết tật của kinh tế
thị trường, đảm bảo phát triển bền vững nền kinh tế theo định hướng XHCN,
DNNN còn là công cụ quan trọng để Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội
như cung cấp dịch vụ công ích, giải quyết việc làm, hỗ trợ phát triển kinh tế
và đời sống của nhân dân các vùng, miền có điều kiện sản xuất và sinh hoạt
khó khăn, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền góp phần xóa đói giảm
nghèo. Ngoài ra, trong điều kiện một đất nước phải chịu những hậu quả nặng
nề của chiến tranh, nền kinh tế có xuất phát điểm thấp cả về cơ sở vật chất và
nguồn nhân lực, phải đương đầu với những thách thức lớn của hội nhập kinh
tế quốc tế, DNNN đang đóng vai trò là đối tác chính trong các mối quan hệ
dẫn tới tình trạng giá thành sản phẩm của DNNN thường cao hơn giá thành sản
phẩm của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, tỷ suất lợi nhuận
trên vốn của DNNN là rất thấp, hạn chế khả năng tích lũy cho việc tái đầu tư.
Ba là, về vấn đề quản trị doanh nghiệp.
Theo Giáo sư Nguyễn Văn Thường:
Chúng ta vẫn còn lúng túng trong việc xác định loại hình
pháp lý phù hợp để "chứa đựng" doanh nghiệp 100% sở hữu nhà
nước bởi quản trị doanh nghiệp 100% vốn nhà nước không được
thiết kế trên những nguyên tắc và thông lệ đã được quốc tế thừa
nhận. Vừa thiếu giám sát đối với người quản lý, người thực hiện
quyền sở hữu và những người có liên quan của họ; vừa gò bó áp đặt
không phù hợp đẩy họ vào thế "thủ thân" hơn là phát huy sáng tạo,
sáng kiến và dám chấp nhận rủi ro trong kinh doanh [88, tr. 217].
Một điều dễ nhận thấy là chưa có sự tương thích giữa lợi ích cá nhân
xuất phát từ vai trò quản lý điều hành doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp, do đó năng lực quản trị doanh nghiệp không được khuyến
khích phát huy và kéo theo một tình trạng phổ biến ở các DNNN, đó là buông
lỏng công tác quản lý lao động, sử dụng tuyển chọn lao động xuất phát từ
quan hệ tình cảm, nể nang... mà không xuất phát từ yêu cầu của sản xuất, kinh
12
doanh, dẫn đến tính kỷ luật, tính sáng tạo của người lao động trong các
DNNN là không cao, không được phát huy.
Ngoài các nguyên nhân nêu trên, trong quản lý nhà nước đối với DNNN
chúng ta chưa có được cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp thực sự linh hoạt và khoa học. Vẫn còn sự chi phối tác động mang tính
mệnh lệnh hành chính đối với hoạt động của doanh nghiệp, vấn đề ưu đãi, bảo
hộ, độc quyền trong kinh doanh dành cho các DNNN ở một mức độ nào đó
huy động vốn [5, tr. 13-14].
So sánh với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty hợp doanh,
công ty trách nhiệm hữu hạn... công ty cổ phần có những ưu điểm có tính
vượt trội đó là:
Thứ nhất, công ty cổ phần có khả năng huy động vốn, điều chỉnh cơ
cấu vốn - tài chính linh hoạt có được từ quyền phát hành chứng khoán huy
động vốn của công ty và quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của các cổ
đông. Đây là ưu điểm cho phép công ty cổ phần có thể huy động vốn ở một
phạm vi chủ thể đầu tư rộng lớn và đa dạng, có thể huy động vốn từ những
nguồn nhỏ lẻ, thậm chí chỉ bằng mệnh giá cổ phần - rất phù hợp và thuận lợi cho
các doanh nghiệp hoạt động trong các nền kinh tế có nhiều nguồn lực nhỏ lẻ
phân tán như ở nước ta. Ưu điểm này cũng cho phép các công ty cổ phần có
thể điều chỉnh cơ cấu vốn, cơ cấu sở hữu vốn giữa các cổ đông một cách linh
hoạt theo cơ chế thị trường mà không gây ảnh hưởng đến hoạt động bình
thường của công ty.
Thứ hai, công ty cổ phần có nguyên tắc tổ chức và hoạt động nội tại
theo cơ chế của "nền dân chủ cổ phần". Quyền biểu quyết, lợi ích vật chất và
trách nhiệm của cổ đông được qui định bởi số cổ phần mà cổ đông đó sở hữu
theo nguyên tắc mỗi cổ phần cùng loại có quyền biểu quyết, được hưởng lợi
tức cũng như chịu trách nhiệm rủi ro như nhau đối với các vấn đề về tổ chức
và hoạt động của công ty cổ phần. Việc quyết định các vấn đề quan trọng đối
với sự tồn tại, phát triển của công ty, việc thiết lập cơ quan quản lý công ty
14
(Hội đồng quản trị) và cơ quan giám sát của công ty (Ban kiểm soát), đều do
Đại hội đồng cổ đông - cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty quyết định trên cơ sở quyền tự do ý chí, tự do lựa chọn của các cổ đông thông
qua hình thức biểu quyết theo phiếu, tương ứng với số cổ phần mà họ sở hữu.
Trong công ty cổ phần, quyền điều hành công việc kinh doanh của
nhất định vốn Nhà nước tại DNNN cho các chủ đầu tư khác, đồng thời DNNN
đó được đăng ký thành lập và hoạt động dưới hình thức pháp lý mới đó là công
ty cổ phần, toàn bộ quá trình đó được gọi là cổ phần DNNN.
Như vậy, CPH DNNN là giải pháp đổi mới DNNN được thực hiện
bằng hình thức DNNN phát hành cổ phần để bán một tỷ lệ vốn nhà nước tại
DNNN cho các chủ đầu tư, nhằm chuyển đổi DNNN từ doanh nghiệp một chủ
sở hữu (sở hữu nhà nước) thành doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu hoạt động
dưới hình thức công ty cổ phần.
Ở nước ta, cải cách DNNN luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, trở
thành một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Trải qua
hơn 15 năm thực hiện, cơ sở pháp lý cho hoạt động CPH luôn được nghiên
cứu, điều chỉnh và ngày càng được hoàn thiện. Sau khi Luật DNNN 2003
được ban hành qui định hình thức duy nhất của DNNN là các loại hình công ty
bao gồm: Công ty nhà nước; công ty cổ phần; công ty trách nhiệm hữu hạn.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về
việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (thay thế Nghị định số
64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 về việc chuyển DNNN thành công ty cổ
phần), đây là văn bản pháp luật qui định cụ thể trình tự thủ tục về CPH
DNNN có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật về
CPH DNNN ở nước ta hiện nay.
Theo qui định tại Điều 1 Nghị định 187/2004/NĐ-CP: CPH DNNN là
việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.
- Đối tượng CPH là các DNNN không thuộc diện Nhà nước cần nắm
giữ 100% vốn.
- Mục tiêu của việc CPH DNNN bao gồm:
16
+ Chuyển DNNN sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu.
doanh nghiệp theo Luật DNNN bằng các cơ chế tương ứng theo qui định của
Luật doanh nghiệp đối với công ty cổ phần.
Căn cứ vào tính chất, vai trò, cách thức của các chủ thể tham gia vào
quá trình CPH DNNN, CPH DNNN là một hiện tượng kinh tế pháp lý có các
đặc điểm chủ yếu như sau:
Thứ nhất, CPH DNNN là hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực
kinh tế.
Nội dung quản lý nhà nước trong CPH bao gồm:
- Việc ban hành các văn bản qui phạm pháp luật qui định cơ chế,
chính sách về CPH, trình tự thủ tục, nội dung CPH, tạo cơ sở pháp lý cho việc
thực hiện CPH DNNN; xây dựng các chương trình kế hoạch CPH DNNN.
- Tổ chức thực hiện các chương trình kế hoạch CPH DNNN, các qui
định của pháp luật về CPH đã được ban hành.
- Kiểm tra, giám sát đối với hoạt động chấp hành pháp luật của các chủ
thể tham gia quá trình CPH và xử lý các vi phạm pháp luật về CPH DNNN.
Thứ hai, CPH DNNN là hoạt động định đoạt tài sản thuộc sở hữu
toàn dân.
Theo qui định tại Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10
ngày 25/12/2001) "vốn, tài sản do Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp là tài
sản thuộc sở hữu toàn dân". Chính phủ thực hiện chức năng chủ sở hữu phần
vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo qui định của luật tổ chức
Chính phủ. Trong quá trình CPH DNNN, dù thực hiện theo hình thức bán một
phần vốn nhà nước hay giữ nguyên vốn nhà nước phát hành cổ phiếu để thu
hút vốn đầu tư, DNNN CPH đều phải phát hành cổ phiếu, bán cổ phần cho các
18
chủ sở hữu khác, thông qua các giao dịch này tỷ trọng vốn thuộc sở hữu nhà
của từ, dân chủ là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân.
Với ý nghĩa là quyền lực của nhân dân, quyền lực trong nội dung dân
chủ có các đặc điểm:
Thứ nhất, chủ thể của quyền lực là nhân dân.
Nhân dân ở đây, theo chúng tôi là khái niệm dùng để chỉ một tập hợp
các cá thể con người, tồn tại và hoạt động tạo thành một chỉnh thể thống nhất
với những biểu hiện đa dạng về các mặt tự nhiên, xã hội vốn có của đời sống
xã hội loài người. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, không thể
chấp nhận một khái niệm nhân dân nếu loại khỏi nội hàm của nó một bộ phận
đa số là những người lao động đang hằng ngày lao động sản xuất, trực tiếp tạo
ra của cải vật chất đảm bảo cho sự tồn tại của đời sống xã hội. Cũng không
thể gọi là nhân dân với một tập hợp cá thể hình thành bởi một lý do riêng biệt
(thể thao, giải trí, ẩm thực...) hoặc ở một lĩnh vực hoạt động riêng biệt (như
văn học, nghiên cứu khoa học, kinh doanh...) mà biểu hiện của nó hoàn toàn
phiến diện so với tính đa dạng, toàn diện về các mặt của đời sống xã hội.
Thứ hai, sức mạnh của quyền lực đó là sức mạnh của nhân dân.
Sức mạnh của nhân dân có thể được hiểu là sức mạnh có được từ khả
năng cùng tiến hành hoạt động của tất cả các cá thể nhân dân, là sức mạnh của
các thiết chế do nhân dân tổ chức nên hoặc sức mạnh từ các thiết chế hiện có
phù hợp với ý chí của nhân dân và nhân dân có thể điều chỉnh, quy định, định
hướng được sự phát tác của nó.
Thứ ba, ý chí quy định, điều khiển sức mạnh quyền lực đó là ý chí của
nhân dân.
Ý chí của nhân dân ở đây không thể là gì khác hơn là nội dung có được
từ sự thống nhất nội dung ý chí của các cá thể nhân dân chiếm đa số hoặc
20
tuyệt đại bộ phận nhân dân trong xã hội, ý chí đó được hình thành trong các
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, theo quan điểm của
C.Mác và Ph.Ăngghen: Để trở thành giai cấp thống trị với ý nghĩa trực tiếp là
giành lấy dân chủ, "giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính
quyền, phải tự vươn lên trở thành giai cấp dân tộc" [66, tr. 623 ].
Vị trí, vai trò quyết định của ý chí của nhân dân trong vấn đề dân chủ
cũng được V.I. Lênin nhấn mạnh một cách đặc biệt khi Người bàn về vấn đề
thiết lập chính quyền Xô viết:
Dân chủ là sự thống trị của đa số chừng nào mà ý chí của đa
số vẫn còn mờ tối, chừng nào mà vẫn có thể, dù chỉ là hơi giống
như thế thôi cho ý chí đó là còn mờ tối thì chừng đó người ta vẫn
còn đưa ra cho nhân dân một chính phủ của bọn tư sản phản cách
mạng dưới chiêu bài chính phủ "dân chủ". Nhưng tình trạng đó
không thể kéo dài được. Trong vài tháng đã trôi qua kể từ ngày 27/2
trở đi, ý chí của đa số công nhân và nông dân, tức là của tuyệt đại
đa số dân cư trong nước, đã thể hiện ra rõ rệt, nhưng không phải chỉ
dưới một hình thức chung chung mà thôi, ý chí đó đã biểu hiện
trong các tổ chức có tính chất quần chúng - các Xô-viết đại biểu,
công nhân binh sĩ và nông dân. Vậy làm sao người ta lại có thể phản
đối việc chuyển toàn bộ chính quyền nhà nước về tay các xô viết ấy
được? Như thế không có nghĩa khác hơn là từ bỏ dân chủ [28, tr.
515-516].
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân chủ chỉ có
thể có được khi quyền lực nhà nước được đặt vào các thiết chế đại diện cho ý
chí của nhân dân, hay nói khác hơn, quyền lực nhà nước được thực hiện trên
cơ sở ý chí của nhân dân.
Là quyền lực của nhân dân, quyền lực nhà nước phải phục tùng ý chí
của nhân dân, thực hiện nội dung ý chí của nhân dân. Các nội dung, yêu cầu,
22
23
nhân dân, thực sự là nội dung dân chủ thì "dân chủ đại diện" mới thực sự là
một phương thức thực hiện dân chủ.
Với tư cách là chủ thể của quyền lực, nội dung ý chí nhân dân - nội
dung dân chủ - là sự định hướng, quy định, yêu cầu đặt ra đối với hoạt động
của các chủ thể hiện đang tồn tại và hoạt động trong xã hội. Đó là sự cho phép
tiến hành các hoạt động (quyền), yêu cầu thực hiện hoặc cấm thực hiện các
hoạt động (nghĩa vụ, trách nhiệm), của các chủ thể, để đảm bảo cho sự vận
động có trật tự của xã hội, đảm bảo cho sự phát triển tốt nhất của mỗi công
dân và của toàn xã hội. Chính vì vậy, theo tác giả có thể phân chia nội dung
dân chủ theo các nhóm, gắn liền với tính tương đồng của nhóm chủ thể là đối
tượng tác động bởi quyền lực của nhân dân cụ thể như sau:
Thứ nhất, các nội dung dân chủ đối với các chủ thể nhà nước.
- Nội dung dân chủ ở đây là các cơ chế dân chủ trong việc thiết lập,
thực thi quyền lực nhà nước, các nguyên tắc dân chủ trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước như cơ chế bầu cử, cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt
động của các cơ quan nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc
thiểu số phục tùng đa số, nguyên tắc công khai minh bạch...
- Một nội dung dân chủ về vấn đề nhà nước có ý nghĩa thực tiễn hết
sức quan trọng đó là: nội dung, phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ
quan nhà nước với tư cách là đại diện thực thi quyền lực của nhân dân và đại
diện ủy quyền của nhân dân tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc
phòng, đối ngoại,... xuất phát từ đặc điểm đa dạng luôn chuyển biến, thay đổi,
phát sinh của các vấn đề thực tiễn, nội dung dân chủ ở đây thường thể hiện
dưới dạng cơ chế thực hiện, cơ chế kiểm tra giám sát; giới hạn nội dung,
phạm vi quyền hạn, trách nhiệm và xác lập các mục tiêu tổng thể đối với các
cơ quan, tổ chức nhà nước thừa hành. Như vậy yêu cầu của dân chủ ở đây là
25
thực tế, mà không bị các chủ thể khác (kể cả Nhà nước) ngăn cản, cấm đoán.
Các quyền đó là cơ sở pháp lý để mỗi công dân tham gia vào các quan hệ xã
hội, là cơ sở pháp lý tạo lập vị thế làm chủ xã hội của mỗi công dân, các
quyền đó được gọi là quyền dân chủ.
Trong mỗi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, mỗi công dân có
các quyền dân chủ cụ thể. Có thể nêu một số quyền dân chủ cơ bản của nhân
dân ta trong một số lĩnh vực chủ yếu sau đây:
- Các quyền dân chủ trong lĩnh vực chính trị.
Đó là các quyền cho phép công dân tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp
vào các hoạt động thiết lập quyền lực nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước,
kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và các quyền khác của
công dân liên quan trực tiếp đến vấn đề quyền lực nhà nước. Cụ thể như: quyền
bầu cử, quyền ứng cử, quyền có quốc tịch, quyền thông tin, quyền khiếu nại
tố cáo, quyền chất vấn đối với đại biểu của cơ quan dân cử...
- Các quyền dân chủ trong lĩnh vực kinh tế.
Đó là các quyền cho phép công dân được trực tiếp tiến hành các hoạt
động sản xuất kinh doanh, các hoạt động thương mại, nhằm mục đích thu lợi
nhuận cụ thể như: quyền kinh doanh, quyền sở hữu tư liệu sản xuất, quyền
được lao động, quyền sử dụng lao động, quyền được hưởng thu nhập, các lợi
ích có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Quyền dân chủ trong lĩnh vực văn hóa xã hội.
Đó là các quyền cho phép nhân dân được tham gia vào các lĩnh vực
văn hóa - xã hội như: quyền học tập, quyền sáng tác văn học, nghệ thuật;
quyền thưởng thức, phổ biến các giá trị văn hóa, quyền tham gia các hoạt
động từ thiện xã hội, cứu trợ xã hội, quyền được đảm bảo các điều kiện vật