LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế HOÀN THIỆN QUẢN lý THU THUẾ đối với DOANH NGHIỆP ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 39

MỞ ĐẦU
1 - Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển đổi từ cơ chế quản lý nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa đòi hỏi phải đổi mới toàn diện nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực tài
chính nói chung và thuế nói riêng. Từ năm 1990 đến nay, Nhà nước đã từng
bước thực hiện cải cách hệ thống chính sách thuế và bộ máy ngành thuế được
tổ chức lại thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến quận huyện. Quản
lý thu thuế đã được dổi mới căn bản, từng bước hiện đại hóa và phát huy được
vai trò tích cực trong việc thực hiện các luật thuế mới và tăng thu cho ngân
sách nhà nước.
Trong quản lý thuế các khu vực kinh tế, thì khu vực doanh nghiệp luôn
được quan tâm hàng đầu vì đây là khu vực đóng góp lớn nhất vào thu ngân
sách nhà nước, mặc dù số doanh nghiệp chỉ chiếm 10% trong tổng số đối
tượng nộp thuế giá trị gia tăng và thu nhập doanh nghiệp và bằng 1% tổng số
đối tượng nộp thuế, nhưng đóng góp gần 2/3 tổng thu nội địa. Số thu của một
đối tượng ở khu vực này thường gấp nhiều lần số thu của đối tượng là hộ cá
thể hoặc cá nhân. Mặt khác, đây là khu vực đòi hỏi trình độ quản lý cao của
cán bộ thuế và là khu vực có nhiều phức tạp nhất trong quá trình chuyển đổi
cơ chế quản lý.
Quá trình thực hiện đổi mới quản lý thuế khu vực doanh nghiêp cũng
bộc lộ nhiều bất cập cả về qui trình quản lý, ứng dụng công nghệ tin học, bố
trí nguồn nhân lực, trình độ cán bộ quản lý của cơ quan thuế, chưa tận dụng
được kinh nghiệm quản lý thu thuế của các nước tiên tiến. Số lượng đối tượng
nộp thuế nói chung và số doanh nghiệp nói riêng tăng lên nhanh chóng; tính


2

tuân thủ, tự nguyện của đối tượng nộp thuế chưa cao, tình trạng trốn thuế, nợ
đọng thuế vẫn còn và diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước.

nghiên cứu từ khi đổi mới đến nay, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện trong
thời gian tới.
3 - Mục đích của luận văn
Mục đích chủ yếu của luận văn là nghiên cứu là rõ cơ sở lý luận và
thực trạng quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp, chỉ ra kết quả, hạn chế và
nguyên nhân, đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh
nghiệp ở nước ta hiện nay.
4 - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề có liên quan đến quản lý thu
thuế đối với doanh nghiệp bao gồm doanh nghiệp thành lập theo luật doanh
nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật Đầu tư nước ngoài,
doanh nghiệp nhà nước theo Luật Doanh nghiệp nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn giới hạn trong lĩnh vực quản lý thu
thuế đối với doanh nghiệp của cơ quan thuế nội địa và trong khoảng thời gian
từ năm 1990 đến nay.
5 - Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật
lịch sử để nghiên cứu và trình bày các nội dung lý luận và thực tiễn. Luận văn
sử dụng một số phương pháp khác nhau như kết hợp lịch sử với lôgíc, tổng
hợp và phân tích để qua đó rút ra kết luận.
- Nghiên cứu lý luận chung có liên quan đến thuế và quản lý thu thuế
đối với đoanh nghiệp; tổng kết quá trình cải cách quản lý thu thuế đối với
doanh nghiệp của Việt Nam. Đồng thời, có kết hợp nêu kinh nghiệm các nước
tiên tiến.
6 - Những đóng góp chủ yếu của luận văn


4

- Hệ thống hoá và có đóng góp bổ sung những vấn đề lý luận cơ bản về

pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định,
nhằm sử dụng cho mục đích công cộng [16].
Thuế không những là một phạm trù kinh tế mà còn là phạm trù tài
chính: nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính.
Những đặc trưng để phân biệt thuế với các công cụ tài chính khác đó là: thuế
mang tính chất bắt buộc, tính không hoàn trả trực tiếp và tính pháp lý cao.
Thuế thực hiện hai chức năng cơ bản: chức năng huy động nguồn lực tài
chính và chức năng điều tiết kinh tế.
Thuế đối với doanh nghiệp (DN) là thuế đánh vào các pháp nhân
kinh doanh bao gồm: doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp liên


6

doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân,
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, hợp tác xã.
* Các sắc thuế thu vào doanh nghiệp
Thuế Giá trị gia tăng: là một loại thuế tiêu dùng, tính trên phần giá trị
tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Giá trị gia tăng (GTGT) là phần giá trị mới được tạo ra trong sản xuất
kinh doanh. Nó được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và
tiêu thụ với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng. Thuế GTGT
phải nộp ở mỗi giai đoạn được tính bằng cách lấy số thuế GTGT đầu ra (tính
được bằng cách lấy thuế suất x giá hàng hoá dịch vụ bán ra) trừ số thuế
GTGT đầu vào (tính được bằng cách lấy thuế suất x giá hàng hoá dịch vụ mua
vào).
Thuế GTGT là công cụ có hiệu quả trong việc động viên nguồn thu cho
ngân sách nhà nước (NSNN). Số thuế GTGT từ sản xuất kinh doanh nội địa
chiếm tỷ trọng cao nhất (so với các loại thuế khác) trong tổng thu NSNN:

Thuế tài nguyên: là loại thuế đánh vào tài nguyên thiên nhiên khai thác
được. Thuế này được tính bằng cách lấy số lượng tài nguyên thực tế khai thác
x Giá tính thuế đơn vị tài nguyên x Thuế suất.
Thuế tài nguyên là công cụ để quản lý, kiểm soát, hướng dẫn, điều tiết
các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệ
môi trường sinh thái và động viên một phần thu nhập cho NSNN. Số thuế tài
nguyên chiếm khoảng 0,7% trong tổng thu NSNN và chiếm 2 % trong tổng
thu từ DN năm 2004.
Thuế môn bài: là thuế đăng ký kinh doanh được tính theo năm. Mức
thuế được áp dụng theo số tuyệt đối và được phân biệt theo 2 nhóm: tổ chức
kinh tế và hộ kinh doanh cá thể. Đối với DN (tổ chức) thì mức môn bài được
qui định từ 1.000.000đ đến 3.000.000đ tuỳ theo vốn đăng ký.


8

Số thuế môn bài chiếm khoảng 0,4% trong tổng thu NSNN và chiếm
0,6% trong tổng thu từ DN năm 2004.
Ngoài ra còn một số khoản thu khác đối với doanh nghiệp như thuế nhà
đất, tiền thuê đất. Những khoản thu này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu
từ doanh nghiệp.
Mỗi sắc thuế nêu trên có phương pháp quản lý cụ thể khác nhau, tuy
nhiên trong phạm vi luận văn không đi sâu vào quản lý của từng sắc thuế cụ
thể mà chỉ đề cập những vấn đề quản lý mang tính chất chung nhất của tất cả
các sắc thuế thu vào DN.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, yêu cầu hoàn thiện quản lý thu thuế đối với
doanh nghiệp
* Khái niệm quản lý thuế và thu thuế đối với doanh nghiệp
- Quản lý thuế là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và có
nhiều quan niệm khác nhau. Mỗi quan niệm đều nhìn nhận quản lý thuế ở một

của quản lý ở đây là kiểm soát sự tuân thủ và áp dụng các khoản phạt theo
luật thuế để răn đe những đối tượng nộp thuế vi phạm. Đồng thời, quản lý thu
thuế cũng đảm bảo bên thứ ba có giao dịch mua bán hay cung cấp dịch vụ với
đối tượng nộp thuế phải báo cáo đầy đủ, trung thực các giao dịch kinh tế có
phát sinh thuế nộp ngân sách nhà nước theo qui định của luật [25, tr. 39].
- Đối với một cơ quan thuế, quản lý thu thuế hay quản lý thu thuế đối
với DN là một quá trình giống như quá trình sản xuất. Trong đó, đầu vào gồm
nhân công (cán bộ thuế), tài liệu và các thông tin, còn đầu ra là số thu cho
Nhà nước và sự công bằng cho người nộp thuế.
- Trên phạm vi cả nước, quản lý thu thuế đối với DN bao gồm các hoạt
động: hoạch định mục tiêu, phân cấp quản lý, xây dựng và ban hành qui trình
thủ tục, đề ra giải pháp tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra, sắp xếp tổ
chức bộ máy và nhân sự để thực hiện các khâu công việc [25, tr. 20-22].
* Đặc điểm quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp


10

- Quản lý thu thuế đối với đối với DN là quản lý thu thuế đối với những
pháp nhân và là những đối tượng nộp thuế (ĐTNT) lớn. Số thu từ DN chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng thu nội địa (như đã nêu trên) do vậy quản lý thu thuế
đối với DN được đặc biệt quan tâm và đặt ưu tiên hàng đầu. Hầu hết cơ quan
thuế các nước cũng tập trung không ngừng và đáng kể các nguồn lực vào việc
quản lý nhóm đối tượng nộp thuế này.
- Quản lý thu thuế trên cơ sở ĐTNT thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn,
chứng từ. Theo chế độ hiện hành, các DN đều phải mở sổ sách kế toán, và
hạch toán kế toán theo chế độ qui định và thực hiện nghĩa vụ thuế theo
phương pháp kê khai thuế.
- Doanh nghiệp có phạm vi kinh doanh rộng hơn và mức độ phức tạp
cao hơn so với đối tượng là hộ cá thể. Ngày nay, nhiều DN có phạm vi kinh

Chức năng quản lý xác định khối lượng các công việc cơ bản và trình
tự các công việc của quá trình quản lý. Chức năng quản lý xác định vị trí, mối
quan hệ giữa các bộ phận, các khâu, các cấp trong hệ thống quản lý [15, tr.52]
Việc hoàn thiện chính sách thuế chính là làm thay đổi khối lượng công
việc và trình tự các công việc trong quá trình quản lý thuế, và làm thay đổi
mạnh mẽ đối tượng quản lý. Ví dụ khi ban hành Luật Thuế GTGT, khối
lượng công việc quản lý thuế thay đổi như phát sinh thêm các công việc về
hoàn thuế, về đối chiếu hóa đơn; đối tượng quản lý thay đổi như một số đối
tượng trước đây chịu thuế doanh thu nay không thuộc đối tượng chịu thuế
GTGT...
Từ năm 1986, đất nước ta bắt đầu chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống
pháp luật thuế mới bắt đầu được xây dựng và không ngừng được bổ sung sửa
đổi. Việc hoàn thiện chính sách thuế nói chung và thuế đối với DN nói riêng
đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện về phương pháp, qui trình và tổ chức quản lý
thuế.


12

Tác động của hội nhập kinh tế và hội nhập về thuế đối với doanh
nghiệp
Xu thế hội nhập, liên kết kinh tế trong khu vực tiến tới toàn cầu hoá
kinh tế là tất yếu khách quan, một mặt tạo cơ hội thuận lợi cho các nước phát
huy lợi thế của mình để phát triển kinh tế. Các nước đang phát triển lợi dụng
khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu mới đồng thời thu hút được nguồn vốn từ nước ngoài để
tạo bước phát triển nhảy vọt về kinh tế, làm cho nền kinh tế có khả năng cạnh
tranh trên thị trường quốc tế, có cơ hội thu hẹp khoảng cách so với các nước
phát triển. Ngược lại, xu hướng hội nhập, liên kết kinh tế trong khu vực, tiến

chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước, do đó xét đến cùng, mục tiêu
của quản lý thuế là nhằm làm cho ĐTNT thực hiện đầy đủ kịp thời các nghĩa
vụ luật định về thuế của mình, đồng thời Nhà nước thực hiện được các mục
tiêu vốn có của mỗi sắc thuế [4].
Mục tiêu cụ thể của quản lý thuế đối với DN, đó là làm cho các DN
thực hiện đầy đủ kịp thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình trên cơ sở
mức độ tuân thủ tự nguyện pháp luật thuế của các DN ngày càng cao. Điều đó
cũng có nghĩa là số thuế thu từ DN sẽ tiến gần đến số thuế tiềm năng, hay thất
thu thuế ngày càng giảm thiểu và tiến dần tới 0; số thu của ngân sách nhà
nước từ DN sẽ là lớn nhất trong điều kiện chính sách thuế ổn định, đồng thời
chi phí của cơ quan thuế giảm khi mức độ tuân thủ của đối tượng nộp thuế
ngày càng tăng. Đồng thời mục tiêu vốn có của mỗi sắc thuế cũng được thực
hiện.
* Thứ hai là phân cấp quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp
Hệ thống quản lý là một hệ thống rất phức tạp, bao gồm nhiều tầng nấc,
mỗi tầng nấc là một hệ thống con có sự độc lập tương đối, có mục tiêu riêng
và điều kiện vận động đặc thù cả về vật chất và thông tin nhưng lại đặt trong


14

sự quản lý thống nhất chung của toàn hệ thống. Như vậy, toàn bộ hệ thống
vừa có một sự quản lý tập trung thống nhất, vừa có sự tự vận động độc lập
tương đối. Do đặc thù quản lý của hệ thống, chủ thể quản lý một mặt phải
đảm bảo sự quản lý tập trung thống nhất trên những mặt cơ bản chính yếu
nhất, mặt khác phân cấp cho cấp dưới xử lý thông tin và ra quyết định với
những quyền hạn và trách nhiệm xác định. Việc phân cấp trong quản lý mang
lại nhiều lợi ích:
- Giải phóng cho chủ thể quản lý cấp cao những công việc sự vụ, tập
trung vào những nhiệm vụ quan trọng, có tầm chiến lược, đảm bảo sự quản lý

loại thuế khác nhau nhưng hầu hết sẽ chỉ chịu sự quản lý của một cơ quan
thuế. Điều này tránh được sự phiền hà cho ĐTNT (chỉ phải liên hệ với một cơ
quan thuế). Trong tổng số đối tượng nộp thuế hiện nay: khoảng hơn 140.000
doanh nghiệp, gần 1,5 triệu hộ kinh doanh cá thể, hơn 10 triệu hộ nộp thuế
nhà đất, hàng trăm nghìn đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế
khác, tất yếu phải được phân cấp quản lý cho từng cấp trong ngành thuế một
cách phù hợp. Có như vậy, mới tạo ra sức mạnh tổng hợp để quản lý thu có
hiệu quả.
Đối với DN, mặc dù số đối tượng nộp thuế không lớn, tuy nhiên số thu
từ đối tượng này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nội địa; qui mô và phạm vi
kinh doanh rộng lớn hơn hộ cá thể rất nhiều, đòi hỏi cán bộ quản lý thuế phải
có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao do đó việc phân cấp quản lý đối tượng
này cũng phải dựa vào qui mô, ngành nghề kinh doanh, đặc điểm của DN, độ
phức tạp của công tác quản lý, cơ sở vật chất và nhân lực của cơ quan thuế.
* Thứ ba là xây dựng, ban hành và thực hiện các qui trình quản lý
thu đối với doanh nghiệp
Qui trình quản lý thu thuế qui định trình tự, thủ tục các bước công việc phải
làm để quản lý thu thuế.


16

Việc ban hành qui trình quản lý giúp cho cơ quan thuế chỉ đạo, điều
hành hoạt động của cả hệ thống một cách thống nhất, khoa học, theo một trình
tự hợp lý, đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật thuế, thực hiện dân chủ hóa, công
khai minh bạch và rõ ràng để các cán bộ thuế, đối tượng nộp thuế dễ thực
hiện và kiểm soát cơ quan thuế.
Việc thực hiện các qui trình quản lý thuế phản ánh chất lượng quản lý
của cơ quan thuế và tác động đến kết quả thu thuế.
Mỗi loại ĐTNT có đặc điểm khác nhau, các sắc thuế áp dụng khác

- Cơ quan thuế cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho DN: nắm bắt nhu cầu và tổ
chức các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ DN sát với yêu cầu, đặc điểm của
từng nhóm ĐTNT với những nội dung, hình thức phù hợp đảm bảo đáp ứng
được yêu cầu của DN nhanh nhất và đầy đủ nhất, nhằm hỗ trợ tối đa để DN
hiểu biết pháp luật thuế và kê khai thuế, nộp thuế đúng qui định của pháp luật
thuế.
Xử lý tờ khai và kế toán thuế:
- Nhận các tờ khai thuế, phát hiện các lỗi kê khai và hướng dẫn ĐTNT
sửa lỗi kịp thời, xác định nghĩa vụ thuế theo kê khai của của DN.
- Theo dõi tình hình thực hiện kê khai của DN và cung cấp thông tin
này cho các khâu quản lý tiếp theo để các khâu quản lý như hỗ trợ, thu nợ,
thanh tra, kiểm tra... có biện pháp xử lý phù hợp như: hướng dẫn người nộp
thuế để tránh các lỗi đã mắc trong kê khai nếu việc mắc lỗi là do chưa hiểu rõ;
hoặc xem xét sửa đổi mẫu tờ khai nếu tờ khai chưa phù hợp; hoặc đó là một
dấu hiệu để xem xét, lựa chọn các trường hợp thanh tra.
- Nhận chứng từ nộp thuế, hạch toán số thuế đã nộp của DN, theo dõi
thanh toán thuế, đảm bảo tính đúng nợ thuế của ĐTNT theo từng khoản thuế
phải nộp, để khâu cưỡng chế thu nợ thuế thực hiện đôn đốc và cưỡng chế DN
nộp thuế vào NSNN.


18

Cưỡng chế thu nợ thuế:
Mục tiêu của công tác cưỡng chế thu nợ thuế là kịp thời phát hiện và xử lý
các đối tượng nộp thuế cố ý chây ỳ, nợ thuế, chiếm đoạt tiền thuế và các
khoản tiền phạt liên quan đến thuế, để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời
các khoản thu vào NSNN, phù hợp với pháp luật thuế.
Nội dung của công tác cưỡng chế thu nợ thuế là:
- Giám sát chặt chẽ việc thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế của DN,

- Làm cho các DN tin rằng mọi vi phạm về thuế, đặc biệt là các trường hợp
trốn thuế sẽ bị cơ quan thuế phát hiện và xử phạt. Từ đó, nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật thuế của ĐTNT.
- Phát hiện những nội dung không phù hợp trong các văn bản pháp qui về
thuế, những điểm bất hợp lý trong qui trình quản lý thuế, cơ cấu tổ chức, từ
đó kiến nghị các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung kịp thời để không ngừng
hoàn thiện chính sách thuế và quản lý thuế.
Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế đối với DN gồm: kiểm tra, thanh tra
việc chấp hành những qui định về đăng ký, kê khai và nộp thuế, việc chấp
hành chế độ sổ sách kế toán và hoá đơn, chứng từ.
Về kỹ thuật thanh tra: có thanh tra theo truyền thống và thanh tra dựa
trên cơ sở phân tích rủi ro (là kỹ thuật thanh tra mà các nước tiến tiến đang áp
dụng.)
Về hình thức thanh tra: nếu xét theo thời gian có thanh tra đột xuất và
thanh tra theo kế hoạch, xét theo phạm vi có thanh tra toàn diện và thanh tra
có trọng điểm. Tuỳ theo yêu cầu cụ thể để áp dụng hình thức thanh tra đối với
DN một cách phù hợp.
* Thứ tư là xây dựng cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
• Về cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức quản lý là một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức
năng, nhiệm vụ quyền hạn khác nhau, có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau,


20

được bố trí thành từng cấp, từng khâu khác nhau, thực hiện các chức năng
quản lý được chuyên môn hoá nhằm đạt mục tiêu xác định [15]. Mỗi cơ cấu
tổ chức quản lý có hai mối quan hệ cơ bản: quan hệ ngang và quan hệ dọc.
Theo quan hệ ngang, cơ cấu tổ chức quản lý chia thành các khâu quản lý khác
nhau. Theo quan hệ dọc, cơ cấu tổ chức quản lý được chia thành các cấp quản

mỗi phòng ban chịu trách nhiệm quản lý theo chức năng được phân công đối
với tất cả các sắc thuế, ví dụ: chịu sự quản lý của phòng Thanh tra về khả
năng thanh tra tất cả các sắc thuế đối với DN.
Mô hình tổ chức bộ máy theo nhóm ĐTNT: Tổ chức các đơn vị (Cục)
theo nhóm đối tượng. Mỗi Cục chịu trách nhiệm cung cấp toàn bộ các chức
năng quản lý thuế cho nhóm đối tượng (như Cục Quản lý thuế các DN lớn,
Cục Quản lý thuế các DN vừa, nhỏ, Cục Quản lý tiền công và lương hưu...
như ở Australia).
Theo mô hình này DN chỉ chịu sự quản lý của một tổ chức (Cục), gồm
các phòng thực hiện các chức năng quản lý thuế.
Mô hình này hiện đang được áp dụng ở một số nước phát triển.
Hiện nay, trên thế giới có 3/4 cơ quan thuế các nước hoạt động với cơ
cấu tổ chức theo chức năng hoặc hỗn hợp giữa các mô hình. Cả 3 mô hình nêu
trên, mỗi mô hình đều có ưu điểm, nhược điểm. Những ưu điểm không phải
tự có và những nhược điểm cũng không phải không hoàn toàn tránh được. Vì
vậy, mỗi quốc gia cần nghiên cứu kỹ những đặc điểm của đất nước mình để tổ
chức cơ quan thuế phù hợp.
• Về cán bộ quản lý
Cán bộ quản lý là người lao động quản lý bao gồm tất cả các cá nhân
thực hiện những chức năng quản lý nhất định trong bộ máy quản lý của một
hệ thống. Đội ngũ cán bộ nói chung gồm 2 loại chính: cán bộ lãnh đạo và cán
bộ chuyên môn nghiệp vụ.


22

Đội ngũ cán bộ quản lý giữ vai trò cực kỳ quan trọng, là nhân tố quyết
định sự thành công hay thất bại của một hệ thống quản lý. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã chỉ rõ "cán bộ là cái gốc của mọi công việc... công việc thành công
hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém".


khai

kiểm tra

thuế

Khác

Canada

8

17

26

17

32

Hoa Kỳ

24

14

27

12

trọng cao thông thường khoảng 80%, tỷ lệ cán bộ làm công tác phục vụ, quản
lý nội bộ ngành khoảng 20%. Đồng thời phải xác định được các khâu trọng
yếu của quản lý thuế và bố trí cán bộ phù hợp.
Chất lượng và số lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp phải được quan
tâm hàng đầu, vì đây là khu vực có số thu lớn nhất, do đó khả năng rủi ro về
thuế cũng lớn nhất.
Cùng với xác định tỷ lệ cán bộ ở các khâu thì cũng cần bố trí cán bộ có
trình độ phù hợp vào quản lý các đối tượng và các khâu công việc. Trong
quản lý đối tượng nộp thuế gồm DN, cá nhân kinh doanh, cá nhân nộp thuế
thu nhập cá nhân, đối tượng nộp phí, lệ phí thì quản lý DN đòi hỏi cán bộ phải
có trình độ cao, có kiến thức đầy đủ về tài chính kế toán, am hiểu hoạt động
kinh doanh của DN. Việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ thuế nói
chung và đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ quản lý thuế đối DN nói riêng phải
được tiến hành thường xuyên, theo hướng chính qui hiện đại.
1.2.2. Các cơ chế quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp
* Cơ chế cơ quan thuế tính thuế
Cơ chế cơ quan thuế tính thuế: là cơ chế quản lý thu trong đó các đối
tượng nộp thuế phải kê khai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế. Cơ quan
thuế nhận tờ khai, kiểm tra tờ khai và tính thuế, thông báo số thuế phải nộp
gửi đối tượng nộp thuế. Trong khoảng thời hạn theo thông báo (qui định trong
luật), ĐTNT phải có trách nhiệm nộp đầy đủ số thuế theo thông báo vào kho
bạc nhà nước.


24

Theo cơ chế này, tất cả các ĐTNT đều được cơ quan thuế kiểm tra, tính
thuế do đó đảm bảo được việc tính toán chính xác số thuế phải nộp trên tờ
khai của các đối tượng, phù hợp với một nền kinh tế trong đó ý thức và trình
độ hiểu biết về luật pháp nói chung và luật thuế của đối tượng nộp thuế chưa

+ Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế: mục đích của cơ chế này là
nhằm nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của đối tượng nộp thuế trên cơ sở tăng
cường tuyên truyền hỗ trợ đối tượng nộp thuế và đẩy mạnh thanh tra và kiểm
tra, do đó tỷ lệ đối tượng nộp thuế tuân thủ tự nguyện luật thuế ngày càng cao,
có nghĩa là số thu ngày càng lớn, thất thu ngày càng giảm. Hiệu quả quản lý
còn được thể hiện ở chỗ: khi đối tượng nộp thuế tăng lên nhanh chóng, sẽ
không gây áp lực cho cơ quan quản lý thuế do cơ quan thuế không phải kiểm
tra và tính thuế đối với tất cả các tờ khai như cơ chế cơ quan thuế tính thuế
mà trách nhiệm kê khai và tính thuế là của ĐTNT, cơ quan thuế chỉ tập trung
tăng cường công tác tuyên truyền hỗ trợ ĐTNT và kiểm tra thanh tra các đối
tượng nộp thuế có dấu hiệu nghi ngờ gian lận thuế, vì vậy có điều kiện phân
bổ nguồn lực có hiệu quả hơn, do đó tiết kiệm được chi phí quản lý. Trường
hợp ĐTNT đã thực hiện nghiêm túc luật thuế, kê khai và tính toán chính xác
số thuế phải nộp thì rõ ràng việc phải tính toán kiểm tra lại của cơ quan thuế
(theo cơ chế cơ quan thuế tính thuế) là thừa và lãng phí thời gian, công sức.
Với số lượng các ĐTNT hiện lên đến gần 140.000 doanh nghiệp, sẽ tiết kiệm
được rất nhiều thời gian và công sức cho cán bộ quản lý thu thuế, tiết kiệm
được nhân lực quản lý để tăng cường cho các khâu trọng yếu trong quản lý
thu đối với DN: thanh tra, kiểm tra và xử lý các đối tượng vi phạm luật thuế.
Ngoài ra, nhờ việc hàng tháng không phải gửi thông báo mà ngành thuế tiết
kiệm được chi phí giấy, mực, in ấn, cước phí bưu điện...đem lại một hiệu quả
kinh tế không nhỏ, giảm chi phí quản lý thu.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status