Sáng kiến kinh nghiệm SKKN môn ngữ văn THPT nghệ thuật trào phúng trong thơ tú xương - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"MÔN NGỮ VĂN THPT: NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG TRONG
THƠ TÚ XƯƠNG"

1


A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở khoa học
Tú Xương sinh ra và lớn lên trong giai đoạn lịch sử đầy bi thương của dân tộc. Mọi
giá trị thuần phong mĩ tục của một đất nước thuần phong kiến đã bị đảo lộn. Bằng tài
năng nhạy bén, bút lực dồi dào của một nhà trào phúng xuất sắc, Tú Xương đã kịp thời
phản ánh những cái xấu xa, rởm đời của xã hội đang trên đà hãnh tiến. Để thể hiện sự suy
vong đó ông sử dụng linh hoạt sáng tạo các thủ pháp nghệ thuật trào phúng tạo tiếng cười
với giọng đùa cợt, tếu táo, trào lộng trong thơ. Tú Xương đã đóng góp vào dòng văn học
trào phúng một tiếng cười mới mẻ, độc đáo.
Đánh giá về biệt tài trào phúng của Tú Xương nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu trong
bài viết “Thơ văn Tú Xương” đã nhận xét: “Tú Xương là nhà thơ trào phúng có biệt tài.
Ông ghi lại những cảnh đời lố lăng bằng ngọn bút hiện thực sâu sắc, bằng những hình
ảnh góc cạnh, ngôn ngữ sắc bén” .
Trên thực tế đã có nhiều nhà phê bình, nghiên cứu tham gia vào quá trình tìm hiểu về
nghệ thuật thơ văn Tú Xương. Song chưa có công trình nào đề cập một cách toàn diện và
có hệ thống về nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Xương. Đây là gợi ý để người viết đi
tìm hiểu và triển khai đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.
2. Về thực tiễn
Trong phạm vi nhà trường từ cấp phổ thông cho đến bậc cao đẳng, đại học. Tú
Xương là một trong những tác giả được dạy và học nhiều. Đặc biệt trong chương trình
Ngữ Văn có nhiều tác phẩm tiêu biểu của Tú Xương được giảng dạy như: “Thương vợ”,

dào, nhạy bén của mình, vận dụng kho tàng tục ngữ, ngôn ngữ hình tượng phong phú tinh
vi của mình phê phán tố cáo”.
Đồng thời hai tác giả cũng chỉ ra: “Nghệ thuật trào phúng của Tú Xương còn bao
gồm một khía cạnh đặc biệt là bao giờ nhà thơ cũng cố tìm ra những nét hình dáng xấu,
một cố tật, một dị tướng của người ông định đả kích, do đó làm cho người này càng trở
nên đáng khinh ghét”.
Trong thơ Tú Xương, ông sử dụng tiếng cười như một biện pháp để trào phúng. Sự
phong phú của tiếng cười: “Nó biến đổi từ bài này sang bài khác, từ đối tượng này sang
đối tượng khác. Khi thì nhẹ nhàng, thân mật, dí dỏm, hóm hỉnh, khi thì mỉa mai chua
chát, khi thì nó cay độc ác liệt, và khi thì nó cảm động đau xót, nhuốm đầy nước mắt”.
Điều đặc biệt là Tú Xương đã đưa chính mình vào thơ như một nhân vật chủ thể:
“Nhân vật số một được nhà thơ Tú Xương vẽ lên khá toàn diện và cực kì đậm nét lại là
chính bản thân Tú Xương, một điển hình sống của tầng lớp nhà nho hiện đại. Nhân vật
điển hình này hiện lên với đầy đủ những chi tiết cụ thể nhiều loại, cả về sinh hoạt vật chất
lẫn sinh hoạt tinh thần… Tất cả tập trung dựng nên hình tượng sinh hoạt sống động của
một con người bất đắc trí, bất mãn với xã hội, với thời đại, cụ thể là một nhà nho thất thế
sinh ở cái thời đại nho học thất thế sinh ở cái thời đại nho học về chiều, bút sắt bắt đầu
thay thế bút lông”.

3


Nói như tác giả Chu Văn: “Văn chương của Tú Xương nôm na, trong sáng, không
cầu kì, ít sử dụng điển tích, điển cố, ít mượn tiếng nước ngoài, duyên dáng và hóm hỉnh.
Đọc thơ Tú Xương thấy bốc lên một vị mộc mạc mà trau chuốt, cả một nền học vấn uyên
thâm pha trộn với vốn dân gian cổ truyền. Thơ ông không phải là loại thù hứng du
dương, ngâm nga trong lúc trà dư tửu hậu, mà đọc lên thấy hiện rõ mồn một những cảnh
vật, người rất sinh động, rất quen thuộc… nhiều câu, nhiều bài có giá trị như ca dao, ngạn
ngữ về nội dung đã trở thành nếp suy nghĩ, thành phương châm để nhận xét đời và người,
là thành ngữ kết luận vấn đề trong cuộc sống’’.

VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, bình giảng
- Phương pháp so sánh
Trong quá trình tìm hiểu và triển khai đề tài sáng kiến người viết không tuyệt đối hoá
phương pháp nào. Khi cần thiết có thể sử dụng tổng hợp tất cả các phương pháp trên.
VII. BỐ CỤC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Sáng kiến gồm các phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
Chương I: Những vấn đề chung
Chương II: Nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Xương
- Phần kết luận và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Mục lục
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. KHÁI NIỆM TRÀO PHÚNG:
Khi tiến hành tìm hiểu nội dung khái niệm trào phúng người viết nhận thấy có nhiều
cách định nghĩa khác nhau, có thể kể đến những khái niệm sau:
Theo “Từ điển tiếng Việt” định nghĩa như sau: trào phúng “Có tính chất gây cười để
châm biếm, phê phán” .
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Trào phúng là một loại đặc biệt của sáng tác văn
học và đồng thời cũng là một nguyên tắc nghệ thuật, trong đó các yếu tố của tiếng cười
mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước… những cái xấu xa tiêu cực, lỗi
thời, lạc hậu trong xã hội. Trào phúng theo từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy để cười

5


con người, cá tính và phong cách nghệ thuật Tú Xương.
Về kinh tế:
Năm 1897, sau khi kết thúc giai đoạn vũ lực để chiếm đoạt đất nước ta thực dân
Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa. Chính cuộc khai thác này đã đẻ ra một phương

6


thức sản xuất mới – phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Xã hội phong kiến Việt Nam
trở thành xã hội thực dân bán phong kiến.
Gắn liền với sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế là sự thay đổi về cơ cấu giai tầng trong
xã hội. Nhiều tầng lớp giai cấp mới xuất hiện. Bắt đầu là sự xuất hiện trong các công sở
và tư sở của bọn chủ mới những thông ngôn, kí lục, thầu khoán, tổng đốc, y tá, bên cạnh
đó là những bồi, những bếp, nhà thổ, me Tây, đĩ điếm,… phương thức sản xuất mới, sự
thay đổi trong đời sống nhân dân đã dần hình thành các đô thị và làm xuất hiện những
giai tầng mới đặc biệt là giai tầng tư sản thành thị. Điều này đã được tác giả Trần Thanh
Mại ghi nhận “tình hình biến chuyển đó của xã hội Việt Nam không đâu dễ nhận thấy, dễ
nhận bằng Nam Định. Nam Định chính là hình ảnh thu nhỏ lại rõ nét hơn của xã hội Việt
Nam trong giai đoạn đầu của thực dân Pháp”.
Đi đôi với sự chuyển biến về kinh tế, bộ mặt bên ngoài cũng như cơ cấu bên trong
của xã hội đều trải qua sự biến đổi sâu sắc. Đây là lúc phong hoá suy đồi, thời thế điên
đảo, là lúc nho phong tàn bạo, sĩ khí tiêu điều, bút lông thất thế, bút chì gặp thời. Sự
chuyển biến này có ảnh hưởng lớn đến Tú Xương và hình tượng nghệ thuật mà ông phản
ánh.
Về văn hoá xã hội:
Cùng với cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp còn thi hành những chính sách văn
hoá nhằm cai trị và thuần hoá nhân dân ta. Khi Tú Xương bước vào tuổi trưởng thành
cũng là lúc nền văn hoá Việt Nam đã có sự biến chuyển to lớn, từ một nền văn hoá thuần
phong kiến, Pháp đã thi hành chính sách duy trì nền nho học và chế độ phong kiến để kìm
kẹp nước ta trong vòng tăm tối, lạc hậu, không phát triển và giao lưu với các luồng tư

Tú Xương lập gia đình năm 16 tuổi, vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn người Hải Dương.
Bà Tú là một mẫu người tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam xưa kia với bản tính đảm
đang, tháo vát, thương chồng, thương con, nhẫn nại quên mình. Bà đã trở thành nhân vật
điển hình trong sáng tác thơ ca của Tú Xương.
Tú Xương đi học sớm và nổi tiếng thông minh giỏi thơ phú nhưng suốt đời lận đận
trong thi cử. Năm 15 tuổi ông bắt đầu đi thi, cuộc đời thi cử của Tú Xương trải qua tám
lần, đó là các khoa Bính Tuất (1885), Mậu Tý (1888), Tân Mão (1891), Giáp Ngọ (1894),
Đinh Dậu (1897), Canh Tý (1900), Quý Mão(1903), Bính Ngọ (1906), đều đặn ba năm
một lần người ta đều thấy có mặt Tú Xương ở trường thi không sót một khoa nào. Mãi
đến năm 24 tuổi Tú Xương mới đỗ tú tài khoa Giáp Ngọ (1894). Song với mảnh bằng tú
tài Tú Xương cũng không làm được quan chức gì, nhà thơ lại cậy cục vác lều chõng đi
thi.
Đối với Tú Xương, thi cử đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ trong cuộc đời
ngắn ngủi của ông. Nhà thơ đã tự phản ánh trong thơ mình nhiều chuyện về thi cử của cá
nhân ông. Tú Xương hỏng thi “tám năm chưa khỏi phạm trường quy” là do “văn chương
ngoại hạng không quan chấm” nhưng thực chất đó là do sự phá vỡ, kèn cựa của chế độ xã
hội đương thời với cá tính của một nghệ sĩ phóng khoáng, tài hoa. Những thứ phép tắc gò
bó của trường thi thực dân bán phong kiến đã khiến cho tài năng nhà thơ bị vùi lấp. Thi
cử không đỗ đạt đã ảnh hưởng lớn đến cuộc đời và tâm lí của nhà thơ tạo ra sự chán nản,
trào lộng ngông nghênh với đời.

8


Mặt khác, cuộc sống sinh hoạt của gia đình ông cũng gặp nhiều khó khăn, nghèo
túng. Sống ở giữa thành thị nhưng gia đình Tú Xương quanh năm sống trong cảnh túng
thiếu. Tú Xương là một trí thức nhưng lại thất nghiệp không giúp được gì cho gia đình,
nguồn sống chỉ trông cậy vào sự đảm đang, tháo vát của bà Tú. Cuộc sống “ăn bám” vợ,
không lo nổi cho gia đình luôn ám ảnh trong ông và có lúc nhà thơ đã tếu táo, trào lộng mình
một cách chua xót.


những bậc vua quan phong kiến, học trò, sĩ tử, me Tây, những kẻ tha hoá về đạo đức…
hiện lên sinh động, nhiều vẻ. Bên cạnh đó còn là hình tượng tác giả qua những sáng tác
tự trào. Bằng giọng cười trào phúng, mỉa mai, trào lộng Tú Xương hướng đến các đối
tượng với tất cả sự phong phú của nó. Mỗi đối tượng trong thơ ông lại được biểu hiện qua
những cung bậc khác nhau tạo nên tiếng cười đặc sắc Tú Xương.
1. Nghệ thuật xây dựng hình tượng khách thể:
Hình tượng khách thể là những đối tượng bên ngoài tác giả. Đối tượng này chiếm số
lượng lớn trong hầu hết sáng tác thơ ca của Tú Xương. Trước mỗi đối tượng trào lộng
khác nhau, tiếng cười lại mang sắc thái, cấp độ riêng nhằm thể hiện thái độ, tâm trạng
khác nhau của tác giả.
a. Hình tượng thực dân Pháp
Sau khi chiếm được toàn bộ đất nước ta, thực dân Pháp đã tiến hành cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ nhất. Chính cuộc khai thác này đã làm cho xã hội Việt Nam có sự
chuyển biến mạnh mẽ, trong xã hội xuất hiện nhiều tầng lớp mới. Bằng cảm quan nhạy
bén của người cầm bút và tấm lòng của một nhà nho phong kiến thất thế, Tú Xương đã
“thâu tóm” rất sinh động những người, những cảnh,… trong xã hội buổi giao thời ấy vào
thơ.
Trong thơ ông thực dân Pháp hiện lên với bộ mặt hống hách ngang ngược:
Hà Nam danh giá nhất ông Cò
Trông thấy ai ai chẳng dám ho
Hai mái trống toang đành chịu dột
Tám giờ chuông đánh phải nằm co
Người quên mất thẻ âu trời cãi
Chó chạy ra đường có chủ lo.
(Ông Cò)
“Ông Cò” hiện ra với uy quyền lớn lao của mình, ai thấy cũng phải sợ. Nhưng mạch
ngầm mà Tú Xương kín đáo muốn gửi gắm qua đây là thái độ lên án sự hà khắc cùng
những thiết chế quân luật ngặt nghèo, hết sức vô lí của bọn thực dân Pháp. Cấm nhân dân
nghèo lợp lại nhà để buộc dân phải di cư đi nơi khác, hơn nữa việc đi lại của người dân

Tơ tóc nỗi riêng thì xét nét
Giang sơn nghĩa cả nỡ mần thinh !
Cổ cong mặt lệch người đâu thế?
Cái cóc bôi vôi khéo dại hình.
(Cô hầu trách quan lớn)

11


Câu chuyện tưởng như là riêng tư giữa hai người nhưng dưới ngòi bút sắc sảo của Tú
Xương, bài thơ không chỉ là chuyện bạc tình, bạc nghĩa thông thường mà phê phán
chuyện theo giặc, chuyện “giang sơn nghĩa cả nỡ mần thinh”. Một viên quan ăn bổng lộc
của triều đình phong kiến mà có thái độ thờ ơ trước giang sơn đang dần rơi vào tay giặc,
hơn nữa còn làm tay sai cho chúng. Những câu thơ sắc đanh trong bài thơ có thể coi là
tiêu biểu cho tinh thần phê phán nghiêm chỉnh của nhà thơ.
Nếu như Nguyễn Khuyến mượn lời vợ người hát chèo để tước đi vẻ uy nghiêm vốn
có của vị vua mang sứ mệnh “trị quốc an dân” nhưng hoá ra bọn quan này chỉ là những
tên rối, vai hề lố bịch:
Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề.
(Lời vợ anh phường chèo – Nguyễn Khuyến)
Thì Tú Xương trong bài “Hát tuồng” đã lợi dụng đặc điểm của loại hình nghệ thuật
này khi diễn viên lên sân khấu phải vẽ mặt, đội mũ, nhà thơ đả kích tính chất bịp bợm,
giả dối làm tay sai của bọn quan lại trên sân khấu chính trị bấy giờ:
Nào có ra chi lũ hát tuồng
Cũng hò cũng hát cũng y uông
Dẫu rằng dối được đàn con trẻ
Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn !
(Hát tuồng)
Đối với bọn quan lại, Tú Xương ghét và khinh bỉ. Ông ghét vì chúng chỉ giỏi luồn lót

đáng là bậc thầy của thiên hạ mà chỉ là một kẻ truỵ lạc, lấy ăn chơi làm mục đích sống
của cuộc đời:
Ông về đốc học đã bao lâu
Cờ bạc ăn chơi rặt một màu
Học trò chúng nó tội gì thế
Để đến cho ông vớ được đầu.
(Chế ông đốc học)
Phê phán quan lại ăn tiền thực ra không có gì mới, cái mới là ở cách phê phán của Tú
Xương có cá tính hơn, sắc sảo hơn.
Ngoài những đối tượng được chỉ mặt, đặt tên, Tú Xương còn đả kích một tên tri
huyện dốt chữ nghĩa, một ông ấm, một ông Hàn, những quý phu nhân, các cậu công tử có

13


quan hệ với quan lại. Với đối tượng này, nhà thơ không chỉ dừng lại ở những nét cá tính
bên ngoài mà dường như qua cá tính của chúng, ông muốn gọi tên một nét cá tính của
thời đại. Những cá tính chưa rõ nét nhưng nó không hoàn toàn là tính cách của bọn quan
lại trong xã hội phong kiến thuần tuý nữa mà có cái gì phảng phất hình bóng của bọn
quan lại sống dưới chế độ thực dân. Nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hoàn “thơ
châm biếm đả kích của Tú Xương cứ như một ngọn roi quất thẳng vào mặt đối phương
không thương tiếc” .
Dựng lên bức chân dung của những kẻ thuộc giới quan lại mỗi người một vẻ, đầy sắc
cạnh. Tú Xương đã lột trần được bản chất làm tay sai của chúng. Đồng thời vạch ra bản
chất tham ô của những kẻ chuyên đi lừa lọc bóc lột nhân dân để “vinh thân phì gia”.
Không cần kín đáo, dè dặt Tú Xương vạch mặt, chỉ thẳng từng tên, từng đối tượng cụ thể,
rõ ràng đích danh để tố cáo. Qua hình tượng quan lại phong kiến chúng ta thấy được bức
tranh sinh động của xã hội Việt Nam trong cơn cựa mình, chuyển giao từ giai đoạn phong
kiến sang giai đoạn thực dân bán phong kiến. Tú Xương đã đem đến cho văn học dân tộc
những bức hí hoạ đầu tiên về đời sống của giới quan lại cuối thế kỉ XIX.

có thơ Tú Xương thực không tìm đâu thấy một cách cụ thể, sinh động hình bóng và
không khí buổi ban đầu của xã hội thực dân trên đất nước ta.
2. Nghệ thuật xây dựng hình tượng chủ thể:
Không chỉ cười cợt, phê phán người khác, Tú Xương còn lấy bản thân mình ra làm
đối tượng trào lộng. Tú Xương tự hoạ bức chân dung của mình từ ngoại hình đến tính
cách, lối sống. Trong cuộc sống ít ai đem vẻ bề ngoài của mình ra để khoe, nhất là những
người có ngoại hình có phần kém duyên, kém sắc. Vậy mà, Tú Xương đã tự hoạ bức chân
dung của mình bằng lối hí hoạ, bằng lời tự giễu bôi xấu mình:
Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành
Mắt thời lơ láo, mặt thời xanh
Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó
Quắc mắt khinh đời cái bộ anh
Bài bạc kiệu cờ cao nhất sứ
Rượu chè trai gái đủ tam khoanh.
(Tự cười mình)
Cũng có khi ta bắt gặp một Tú Xương hào hoa phong nhã trong dáng vẻ:
Quanh năm phong vận, áo hàng Tàu,
khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh.
Ra phố nghênh ngang quần tố nữ,
bít tất tơ, giầy Gia Định bóng.
(Phú hỏng thi khoa Canh Tý)

15


Sinh ra và lớn lên trong thời đại nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt đầu manh nha, Tú
Xương đã nếm trải mọi thói đời đen bạc. Nhà thơ không hề giấu giếm khi viết về sự ăn
chơi của mình:
Vị Xuyên có Tú Xương
Dở dở lại ương ương

Một tuồng rách rưới con như bố
Ba chữ nghêu ngao, vợ chán chồng.
(Mùa nực mặc áo bông)
Mặc dù nghèo nhưng với bản tính hay bông đùa, tếu táo, trào lộng Tú Xương vẫn lên
giọng tự đùa cợt cái nghèo của mình:
Lúc túng toan lên bán cả trời
Trời cười: thằng bé nó hay chơi
Cho hay công nợ là như thế
Mà vẫn phong lưu suốt cả đời.
(Tự cười mình 2)
Tết đến không có gì, Tú Xương vẫn nói dóc:
Anh em đừng nghĩ tết tôi nghèo
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu.
(Cảm tết)
Nhà thơ đưa chính hình ảnh của mình vào trong thơ để mà cười với “mong muốn làm cho
cuộc sống ngặt nghèo này đỡ cay cực hơn, nhẹ nhàng thoải mái hơn”. Tiếng cười ấy là
tiếng cười nén nước mắt vào trong, càng đọc ta càng nhận thấy chất hiện thực thấm đẫm
trong từng câu thơ.
Tóm lại, qua những vần thơ tự trào, đã cho chúng ta thấy được nhân cách phẩm chất
của Tú Xương, đồng thời qua đó Tú Xương đã gián tiếp phản ánh được thực trạng xã hội
đương thời. Hiện lên trong thơ là bức chân dung một con người có vẻ ăn chơi, tài hoa
phóng khoáng nhưng ẩn đằng sau đó là một con người đời thường giản dị, gắn bó với
cuộc đời. Chính hai bức chân dung ấy đã tạo nên một Tú Xương tài năng đặc biệt của
thời đại.
II. NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRÀO PHÚNG:
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc
trưng của văn học, là yếu tố có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày. Nói như M.
Gorki “yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với sự
vật, hiện tượng của cuộc sống là chất liệu của văn học”.


Bản thân Tú Xương cũng là một người nghèo, hơn ai hết nhà thơ thấu hiểu và đồng
cảm với cảnh ngộ của người ăn mày, không có gì để cho, bởi “người đói ta đây cũng
chẳng no”, nhà thơ bật ra tiếng chửi mà gói gọn cả tấm lòng của một người nghèo khi
đứng trước một người nghèo hơn mình nhưng không giúp gì được. Sống trong cảnh khốn
khó ấy, Tú Xương càng cố lăn vào trường ốc để thoát khỏi cảnh nghèo. Trong bài “Than
thân chưa đạt” nhà thơ xưng “ta”:

18


Ta phải trả xong cái nợ ta
Lẽ đâu chịu nợ mãi ru mà…
Đây là sự ý thức của bản thân nhà thơ về món nợ công danh. Phần lớn các bậc nhà
nho xưa thì lí tưởng gần như duy nhất là thi đỗ và làm quan, Tú Xương cũng không nằm
ngoài thông lệ ấy. Suốt cuộc đời ôm ấp giấc mộng đỗ đạt nhưng nhìn lại cả cuộc đời Tú
Xương là tấn bi kịch chốn trường thi. Tú Xương nhiều lần thi hỏng xong sự háo hức, lòng
quyết tâm vẫn thôi thúc ý chí của nhà thơ “ta phải trả xong cái nợ ta”.
Và mặc dù “tám năm chưa phạm khỏi trường quy” nhà thơ vẫn tiếp tục đi thi nhưng
không còn cái háo hức buổi ban đầu:
Tấp tểnh người đi tớ cũng đi
Cũng lều cũng chõng cũng đi thi.
(Đi thi)
Đấy là cái dáng mệt mỏi, chán nản của nhưng anh học trò đi thi với mong ước được
xướng danh khoa bảng. Tú Xương đi thi nhưng đi như một quán tính, mội thói quen
“người đi tớ cũng đi”. Thi mãi mà vẫn trượt, nhà thơ đau buồn nghĩ đến cái chết:
Hễ mai tớ hỏng tớ đi ngay
Giỗ chết từ đây nhớ lấy ngày.
(Hễ mai tớ thi hỏng)
Nhà thơ còn tự xưng mình là “ông” với nhiều cung bậc sắc thái khác nhau nhưng chủ
yếu là để đùa mình. Đó là cái cười “ngông nghênh” của buổi đầu hỏng thi:

Nó đỗ khoa này có sướng không.
(Giễu người thi đỗ)
- Hai đứa tranh nhau cái thủ khoa.
(Khoa Canh Tý)
- Ấm kỷ này đây tớ bảo mày
Cha con mày phải cái này cay.
(Chửi cậu Ấm)
Nói tóm lại, Tú Xương sử dụng gần như tối đa các đại từ nhân xưng. Có những đại
từ dùng để xưng danh, gọi tên mình một cách hài hước, hóm hỉnh của một con người tự
trào, lại có những đại từ dùng để chế giễu phê phán những đối tượng khác. Việc sử dụng
có hiệu quả đại từ nhân xưng đã giúp Tú Xương làm nổi bật lên các đối tượng trào lộng,
qua đó gián tiếp bày tỏ thái độ của tác giả trước hiện thực xã hội đương thời.
b. Từ tượng thanh, tượng hình

20


Trong thơ, Tú Xương đã sử dụng có hiệu quả hệ thống những từ láy tượng thanh,
tượng hình. Những từ ngữ này có tác dụng gợi ra những ấn tượng mạnh về hình dáng,
tính chất của sự vật, sự việc hoặc gợi ra những cảm giác vui đùa, trào lộng, chế giễu.
Tú Xương miêu tả không khí tết khi mùa xuân về với hàng loạt những âm thanh vui
nhộn:
Đì đẹt trước sân hàng pháo chuột
Loẹt lòe trên vách bức tranh gà
Chí cha chí chát khua giày dép
Đen thủi đen thui cũng lượt là.
(Xuân)
Trong xã hội buổi giao thời ấy thì những kẻ “đạo đức giả” xuất hiện ngày càng
nhiều:
Hỏi lão đâu ta? Lão ở Liêm

Miêu tả sự suy vi xuống dốc của đạo học, nhà thơ tập trung làm nổi bật bóng dáng
của cô hàng sách “lim dim” ngủ và thế đứng “nhấp nhổm” của thầy khoá khi không còn
người thuê dạy học nữa:
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi
(Than đạo học)
Thái độ của Tú Xương càng kịch liệt hơn khi miêu tả bức tranh về cảnh trường thi:
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm oẹ quan trường miệng thét loa
(Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu)
Với từ láy tượng thanh “ậm oẹ”, từ tượng hình “lôi thôi” đã đủ vẽ ra trước mặt
chúng ta cảnh tượng nơi trường thi năm Đinh Dậu thật thảm hại. Sĩ tử thì nhếch nhác với
đủ mọi thứ gồng gánh trên vai còn quan trường thì “ậm oẹ” gào thét vừa như cố giương
uy với lũ học trò, vừa mang vẻ khúm núm e sợ trước bọn thực dân. Khung cảnh trường
thi phong kiến với uy nghiêm là thế nay trở thành nơi phường hội nhốn nháo.
Với việc sử dụng hàng loạt những từ láy tượng thanh, tượng hình giàu sức biểu cảm
Tú Xương đã làm nổi bật lên đối tượng trào lộng, khi thì đả kích, phê phán, khi thì đùa
vui, hóm hỉnh. “mỗi bài thơ của Tú Xương như một bức hí hoạ ông khéo vận dụng
những tiếng có sắc cạnh, có màu sắc âm thanh để diễn tả một sự vật, một hoàn cảnh” .
c. Khẩu ngữ

22


Khẩu ngữ là những lời ăn, tiếng nói trong đời sống hằng ngày của nhân dân. Với
truyền thống lâu đời, trải qua biết bao thăng trầm biến cố của lịch sử nhân dân ta vẫn giữ
được những nét đặc sắc của vốn ngôn ngữ dân tộc.
Vận dụng vốn ngôn ngữ mang tính khẩu ngữ của dân tộc, Tú Xương đã bày tỏ thái
độ mỉa mai, trào phúng của mình đối với những kẻ “vừa dốt lại vừa ngu”, những kẻ dốt
nát dựa vào bóng của người khác để đỗ đạt. Nhà thơ bật lên tiếng chửi:

Để phê phán thực trạng xã hội đương thời đã đẻ ra loại người gian ngoan, xảo quyệt
ông mượn những câu mang ý nghĩa triết lí, răn dạy. Từ hai câu tục ngữ, “ai giàu ba họ, ai
khó ba đời” và “đười ươi giữ ống” thành:
- Ai đấy ai ơi khéo hợm mình
Giàu thì ai trọng, khó ai khinh.
(Con buôn)
- Thả quýt nhiều anh mong mắm ngấu
Lên rừng mà hỏi chú đười ươi.
(Nước buôn)
Trong xã hội lai căng thì chuyện mẹ vợ và chàng rể tư tình với nhau để xảy ra
chuyện “ẵm con so” là điều có thể xảy ra:
Chép miệng bà nuôi to cái dại
Phờ râu ông rể ẵm con so
Cắm sào sâu quá nên thêm khổ
Néo chặt dây vào hoá phải lo.
(Mẹ vợ và chàng rể)
Nếu như đặc điểm của tục ngữ là sự diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm
sống, kinh nghiệm xã hội lịch sử của nhân dân lao động thì tục ngữ trong thơ trào phúng
Tú Xương đã tạo nên tiếng cười mang ý nghĩa răn dạy, phê phán. Tú Xương đã góp thêm
tiếng nói của mình vào sự phát triển chung của thơ ca tiếng Việt và sự phát triển của dòng
văn học phê phán Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.
Thành ngữ, tục ngữ được dùng trong nghệ thuật trào phúng đã đem lại cho văn
chương Tú Xương những tiếng cười lúc thâm thuý, sâu cay, lúc nhẹ nhàng khuyên bảo
với nhiều sắc thái. Bên cạnh đó là những âm điệu trữ tình ngọt ngào say đắm.
Tú Xương đã đạt đến đỉnh cao trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc. Nếu như ở giai
đoạn trước Nguyễn Du là mốc lớn trong sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc bằng cách
hướng sự phát triển của ngôn ngữ văn học vào ngôn ngữ bình dân, vào lời ăn tiếng nói
hàng ngày, vào ca dao, tục ngữ tạo ra sự kết hợp hài hoà giữa dòng bác học và dòng bình

24

Với nụ cười hài hước, hóm hỉnh, Tú Xương đã “đùa bạn ở tù”:
…Một ngày hai bữa cơm kề cửa
Nửa bước ra đi, lính phải hầu

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status