Luận văn Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần xây dựng 79 - Pdf 39

Luận văn
Giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn tại Công ty cổ phần
xây dựng 79

1


PHẦN MỞ ĐẦU
Kinh tế thị trường tạo môi trường để các doanh nghiệp phát triển
trong mối quan hệ kinh tế đa dạng. Điều đó đã và đang diễn ra trong nền
kinh tế nước ta; ngày nay doanh nghiệp không chỉ tồn tại trong khu vực
kinh tế quốc doanh với hình thức doanh nghiệp Nhà nước, nó còn tồn tại và
phát triển với các hình thức: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu
hạn, Công ty tư nhân, Công ty liên doanh… thuộc sở hữu các thành phần
kinh tế. Doanh nghiệp Nhà nước không những phải giữ vai trò điều chỉnh
vĩ mô nền kinh tế xã hội, tiến hành các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong
các lĩnh vực, ngành nghề có sự cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác.
Khi điều kiện cơ chế quản lý thay đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở
thành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì khu vực kinh tế quốc
doanh đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, mà biểu hiện tập
trung nhất là cuộc khủng hoảng về vốn. Để thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng
này và tồn tại được trong môi trường cạnh tranh với các thành phần kinh tế
khác, các doanh nghiệp Nhà nước phải vượt qua hai thử thách mới là: Đổi
mới phương thức tạo vốn và đổi mới cơ chế quản lý vốn để sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn huy động. Việc giải quyết hai vấn đề trên thực chất là đi tìm
giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong những mô hình tổ chức
doanh nghiệp có khả năng thu hút và quản lý vốn thích ứng với cơ chế thị
trường.
Công ty cổ phần xây dựng 79 là một trong những mô hình doanh
nghiệp có những ưu thế về tạo vốn và quản lý sử dụng vốn phù hợp với cơ

Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, thực

hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích tối
đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu.
Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? là ba câu hỏi đặt
ra mà bất cứ doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế thị trường cần phải
quan tâm. Trong nền kinh tế thị trường, dưới áp lực của sự cạnh tranh gay gắt,
cùng với sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp, nhiều thành phần kinh
tế, các doanh nghiệp đều nhằm tìm ra lời giải đáp cho ba câu hỏi cơ bản trên
với mục đích thu được lợi nhuận cao nhất. Nền kinh tế thị trường cho phép
mọi doanh nghiệp được tự do kinh doanh theo khuôn khổ của pháp luật.
Chính sự tự do ấy đã tạo nên các quan hệ kinh doanh, biểu hiện thông qua
quan hệ mua bán trên thị trường và thái độ cư sử của từng thành viên nhằm
dẫn dắt thị trường tới mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Việc quyết định sản xuất cái gì phụ thuộc vào quan hệ giữa người
mua và người bán. Họ gặp nhau trên thị trường để tìm hiểu xem một bên
thị trường cần gì và một bên là thị trường đáp ứng gì cho mình. Từ thị hiếu
nhu cầu trên thị trường và dựa vào khả năng cung ứng của bản thân, các
doanh nghiệp tự quyết định mình sản xuất cái gì.
Sản xuất bằng phương thức nào được quyết định bởi sự canh tranh
giữa các nhà sản xuất. Cách duy nhất để doanh nghiệp được về giá cả và
thu được nhiều lợi nhuận là giảm chi phí đến mức tối thiểu thông qua áp

4


dụng phương thức sản xuất có hiệu quả, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng
suất và đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Để giải quyết câu hỏi thứ ba, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu
kỹ các chỉ tiêu về cung cầu giá cả, số lượng, chất lượng cũng như hình thức


Trong định nghĩa của mình, tác giả đã đồng nhất vốn với tài sản của
doanh nghiệp. Thực chất vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất
cả tài sản của doanh nghiệp dùng trong sản xuất kinh doanh. Vốn của doanh
nghiệp được phản ánh trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp.. Bất cứ
doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định để thực hiện
những khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp, mua sắm
nguyên vật liệu, trả lãi vay, nộp thuế…đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp được liên tục, chi phí mua công nghệ và máy móc
thiết bị mới… để tái sản xuất mở rộng. Do vậy vốn đưa vào sản xuất kinh
doanh có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm hàng
hóa, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường. Số tiền mà doanh nghiệp thu về sau quá
trình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí đã bỏ ra và có lãi. Số tiền ban đầu đã
được tăng thêm nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh. Quá trình này diễn ra
liên tục bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Còn trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hóa.
Nó giống các hàng hóa khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc
điểm khác vì người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một
thời gian nhất định. Cái giá của quyền sử dụng vốn chính là lãi suất. Chính
nhờ có sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng nên vốn có thể lưu
chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật
chất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho
quá trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong
quá trình sản xuất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản
xuất liên tục, suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá
trình sản xuất dầu tiên đến chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Tóm lại, do có rất nhiều quan niệm về vốn nên rất khó có một định
nghĩa chính xác va hoàn chỉnh về vốn. Tuy nhiên có thể hiểu mọt cách khái
quát về vốn như sau:

kinh doanh, sự vận động của vốn cố định gắn liền với hình thái biểu hiện
vật chất của nó – tài sản cố định và được tuân theo tính quy luật nhất định.
7


Vì vậy để quản lý, sử dụng có hiệu quả vốn cố định trước hết cần nghiên
cứu tính chất và đặc điểm của tài sản cố định trong doanh nghiệp.
Trong nền sản xuất hành hóa, để tiến hành sản xuất sản phẩm, bao giờ
cũng có các yếu tố: sức lao động, tư liệu sản xuất và tiền. Căn cứ vào tính
chất và tác dụng tham gia vào quá trình sản xuất, tư liệu sản xuất được chia
làm hai bộ phận: đối tượng lao động và tư liệu lao động. Tài sản cố định là
những tư liệu lao động chủ yếu dược tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị, nhà
xưởng, phương tiện vận tải, các công trình kiến trúc, các chi phí mua bằng
phát minh sáng chế…
Khác với đối tượng lao động, đặc điểm cơ bản của tài sản cố định-những
tư liệu lao động chủ yếu là chúng có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào
nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, mặc dù tài sản cố định bị hao mòn
song chúnhg vẫn giữ nguyên hình thái biểu hiện vật chất ban đầu. Vhỉ khi nào
chúng đã bị hao mòn, hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về mặt
kinh tế thì khi đó chúng mới cần được thay thế đổi mới.
Bên cạnh những đặc điểm nêu trên, một tư liệu lao động chỉ đượccoi là
tài sản khi nó là sản phẩm của lao động. Do đó, tài sản cố định không chỉ có
giá trị sử dụng mà còn có giá trị. Nói cách khác tài sản cố định phải là một
hàng hóa như mọi hàng hóa thông thường khác. Thông qua mua bán trao đổi
nó có thể chuyển quyền sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thể
khác trên thị trường tư liệu sản xuất. Việc quản lý tài sản cố định trên thực tế
là một công việc phức tạp. Để giảm nhẹ khối lượng quản lý về tài chính kế
toán, người ta có những quy định thống nhất về tiêu chuẩn giới hạn của một
tài sản cố định. Thông thường một tư liệu lao động phải được đồng thời thỏa

- Vốn cố định được luân chuyển từng phần. Khi tham gia vào quá
trình sản xuất, giá trị sử dụng của tài sản giảm dần. Theo đó vốn cố định
cũng được tách ra làm hai phần: một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất
sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng giảm dần giá trị sử
dụng tài sản cố định. Kết thúc sự biến thiên nghịch chiều đó, cũng là lúc tài
sản cố định cũng hoàn thành một vòng luân chuyển.
9


Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm về vốn cố định:
Vốn cố định của một doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư
ứng trước về tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng
phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài
sản cố định hết thời gian sử dụng.
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng của
vốn đầu tư nói riêng, của vốn sản xuất nói chung. Quy mô của vốn cố định
và trình độ quản lý, sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng đến trình độ trang bị
kỹ thuật. Do ở vị trí then chốt và đặc điểm vận động của nó lại tuân theo
tính quy luật riêng nên việc quản lý vốn cố định được coi là một trọng điểm
của công tác tài chính doanh nghiệp.
 Vốn lưu động:
Trong phần trên ta đã biết rằng, tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao
động và tư liệu lao động Đúng vậy, mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành
sản xuất kinh doanh, ngoài tư liệu lao động ra còn phải có đối tượng lao
động. Đối tượng lao động khi tham gia quá trình sản xuất không giữ
nguyên hình thái vật chất ban đầu, bộ phận chủ yếu của đối tượng lao động
sẽ thông qua quá trình chế biến hợp thành thực thể của sản phẩm và được
bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện.
Đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện thành hai bộ
phận. Một bộ phận là những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản

trình tái sản xuất. Muốn cho qua trình tái sản xuất được diễn ra liên tục,
doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau
đó, khiến cho các hình thái mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Như
vậy sẽ khiến cho chuyển hóa của vốn được thuận lợi. Nếu như doanh
nghiệp nào đó không đủ vốn thì tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp khó khăn, và
do đó quá trình sản xuất cũng gặp trở ngại hoặc gián đoạn..
Việc tổ chức và quản lý vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh
doanh là rất quan trọng. Người quản lý phải biết phân phối nguồn vốn lưu
động trong từng khâu dự trữ, sản xuất, lưu thông một cách hài hòa, không
để vốn lưu động ứ thừa quá nhiều ở bất kỳ khâu nào. Doanh nghiệp sử
11


dụng vốn lưu động càng có hiệu quả thì càng sản xuất ra được nhiều sản
phẩm, điều đó thể hiện tốt sự kết hợp hài hòa quá trình mua sắm, sản xuất
và tiêu thụ.

1.3. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh
tế thị trường.
1.3.1.Khái niệm
Mục tiêu chủ yếu của hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường là tối đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu. Vì vậy,
sử dụng vốn một cách có hiệu quả có nghĩa là kinh doanh có hiệu quả, đạt
lợi nhuận cao.
Hiệu quả sử dụng vốn được hiểu như sau:
- Với một số vốn nhất định, doanh nghiệp phải đạt được lợi nhuận.
- Ngoài khả năng của mình, doanh nghiệp phải năng động tìm nguồn
tài trợ để tăng số vốn hiện có nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh, gia tăng
mức lợi nhuận so với khả năng ban đầu.
Ngoài ra hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp còn thể hiện ở các

đến thừa hoặc thiếu một loại tài sản nào đó sẽ có ảnh hưởng không tốt tới
doanh nghiệp.
 Vòng quay toàn bộ vốn:
Đây là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn trong kỳ, nó phản ánh
một đồng vốn doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh mang lại
mấy đồng doanh thu.
Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ vốn = ---------------------------------Tổng số vốn
 Kỳ thu tiền bình quân.
Trong quá trình hoạt động, việc phát sinh ra các khoản phải thu, phải
trả là tất yếu. Khi các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ vốn của doanh
nghiệp bị ứng đọng trong khâu thanh toán càng nhiều, có ảnh hưởng không
tốt tới doanh nghiệp. Vì vậy, các nhà phân tích tài chính rất quan tâm tới
thới gian thu hồi và chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân với mục đích thông tin về
khả năng thu hồi vốn trong thanh toán. Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân = -----------------------------------Doanh thu bình quân ngày
Các hoản phải thu x 360
Hoặc = ------------------------------Doanh thu

13


Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Lợi nhuận sau thuế
- Mức doanh lợi của vốn cố định = --------------------------------Vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định đem lại mấy đồng lợi
nhuận.
Trong đó vốn cố định được tính như sau:
Giá trị còn lại đầu kỳ + giá trị còn lại cuối kỳ

Tổng VLĐ sử dụng bình quân 3 tháng
VLĐ bình quân quý = ------------------------------------------------3
Tổng VLĐ sử dụng bình quân 4 quý
VLĐ bình quân năm = ------------------------------------------------4
V1/2 + V2 + V3 +…..+Vn/2
= --------------------------------------n-1
( V1, V2, V3…là vốn lưu động hiện có vào đầu các tháng)
Doanh thu thuần
- Số vòng quay của vốn lưu động = --------------------------------Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này đánh giá tốc độ luân chuyển vốn lưu động và cho biết
trong một năm vốn lưu động quay được mấy vòng. Nếu số vòng quay càng
nhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tăng và ngược lại.
15


- Thời gian một vòng luân chuyển:
360
Thời gian một vòng luân chuyển = -------------------------------------Số vòng luân chuyển vốn lưu động
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để vốn lưu động quay được
một vòng. Thời gian luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển vốn càng
lớn, đảm bảo nguồn vốn lưu động tránh bị hao hụt mất mát trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động:
Vốn lưu động bình quân
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động = ---------------------------------Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu
đồng vốn lưu động.
Ngoài việc xem xét hiệu quả kinh doanh dưới góc độ TSCĐ và
TSLĐ thì khi phân tích cần xem xét hiệu quả sử dụng vốn dưới góc độ sinh
lời. Đây là một trong những nội dung phân tích được các nhà đầu tư, tín

trượt giá của tiền tệ
- Môi trường pháp lý:
Là hệ thống các chủ trương, chính sách, hệ thống pháp luật tác động
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế, nhà nước tạo
môi trường điều hành cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh
và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch vĩ mô. Với bất kỳ sự thay đổi nào
trong chế độ chính sách hiện hành đều chi phối các mảng hoạt động của
doanh nghiệp. Các văn bản pháp luật về tài chính, về quy chế đầu tư như

17


các quy định về trích khấu hao, về tỷ lệ trích lập các quỹ, các văn bản về
thuế … đều ảnh hưởng lớn tới hoạt động của doanh nghiệp.
- Môi trường chính trị, văn hóa:
Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp đều hướng tới khách hàng. Do
đó các phong tục tập quán của khách hàng sẽ ảnh hưởng trưc tiếp tới hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp hoạt động trong môi
trường văn hóa lành mạnh, chính trị ổn định thì hiệu quả sản xuất kinh
doanh sẽ được nâng cao.
- Môi trường khoa học công nghệ: Là sự tác động của các yếu tố như
trình độ tiến bộ của KHKT, công nghệ.
Trong điều kiện hiện nay, chênh lệch về trình độ công nghệ giữa các
nước rất lớn. Doanh nghiệp muốn kinh doanh có hiệu quả thì cần phải nắm
bắt được công nghệ hiện đại vì công nghệ hiện đại sẽ giúp doanh nghiệp
tăng năng suất, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao tính
cạnh tranh…
- Môi trường cạnh tranh:
Cơ chế thị trường là cơ chế có sự cạnh tranh gay gắt. Bất cứ doanh

+ Chi phí vốn của công ty bao nhiêu là hợp lý để giữ không làm thay
đổi số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu công ty.
+ Cơ cấu tài sản được đầu tư như thế nào thì hợp lý, mức độ hiện đại
so với đối thủ cạnh tranh đến đâu.
+ Nguồn tài trợ được huy động từ đâu, có bảo đảm lâu dài và an toàn
không.
+ Ngoài ra, qua ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp còn có thể tự
xác định được mức độ lợi nhuận đạt được, khả năng chiếm lĩnh và phát
triển thị trường trong tương lai, sự đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm kinh
doanh… để có kế hoạch bố trí nguồn lực cho phù hợp.
- Lao động:
+ Trình độ quản lý của lãnh đạo: Vai trò của người lãnh đạo trong sản
xuất kinh doanh là rất quan trọng, thể hiện ở sự kết hợp một cách tối ưu và
hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm giảm
19


những chi phí không cần thiết, đồng thời nắm bắt những cơ hội kinh doanh,
đem lại cho doanh nghiệp sự tăng trưởng và phát triển.
+ Trình độ tay nghề của người lao động:
Thể hiện ở khả năng tìm tòi sáng tạo trong công việc, tăng năng suất
lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
+ Cung ứng hàng hóa:là quá trình tổ chức nguồn hàng cho hoạt động
bán ra bao gồm hoạt động mua và dự trữ.
Để đảm bảo việc kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn, mua hàng phải
đảm bảo chi phí tối ưu tức là phải hạ thấp giá thành sản phẩm đầu vào. Mục
tiêu chất lượng trong mua hàng là phải phù hợp với chi phí bỏ ra và nhu
cầu của thị trường vói khả năng thanh toán của khách hàng.
Do hoạt động bán hàng phụ thuộc vào tính thời vụ của tiêu dùng và sự
biến động của sức mua, đồng thời trong hoạt động sản xuất kinh doanh

làm ra được tiêu thụ hết. Để được vậy, doanh nghiệp cần phải có kế hoạch
cụ thể để duy trì những bạn hàng lâu năm lại vừa tăng cường thêm những
bạn hàng mới. Biện pháp mà mỗi doanh nghiệp đề ra không giống nhau mà
còn phụ thuộc vào tình hình hiện tại của từng doanh nghiệp. Nhưng chủ
yếu là các biện pháp như: đổi mới quy trình thanh toán thuận tiện, mở rộng
mạng lưới bán hàngvà thu mua nguyên vật liệu, đa dạng hóa sản phẩm…
Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng tới hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra còn có thể có nhiều nguyên nhân
khác tuỳ thuộc vào ngành nghề kinh doanh cụ thể của mỗi doanh nghiệp.
các doanh nghiệp cần nghiên cứu, xem xét từng nguyên nhân để hạn chế
một cách tối đa những hậu quả xấu có thể xảy ra, đảm bảo cho việc tổ chức
huy động đầy đủ kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh đồng thời
làm cho hiệu quả sử dụng vốn ngày càng tăng.

21


CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY
CỔ PHÀN XÂY DỰNG 79
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG 79
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.

Công ty Cổ phần Xây dựng 79 là một doanh nghiệp nhà nước, tiền
thân là đội công trình 11- Công ty cầu 12- thuộc Tổng Công ty Xây dựng
công trình giao thông 1-Bộ giao thông vận tải. Công ty có trụ sở chính tại :
số 16 – Phố Sài Đồng- Phường Sài Đồng- Quận Long Biên- TP Hà Nội.
Điện thoại: (04). 8.276.566, (04). 8.289.071- Fax: (04)- 8.289.071. Được
thành lập vào ngày 02/03/1997 theo quyết định số 112/QĐ/TCCB ngày
15/1/1995 của Bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải.

động cán bộ cộng nhân viên đóng góp, các khoản tiền nhàn rỗi trong và
ngoài doanh nghiệp thì còn rất ít và không đáng kể. Với thị trường vốn
thiếu hụt như hiện nay nó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiêu quả hoạt động
tài chính của công ty khi xác định một cơ cấu vốn tối ưu và lựa chọn nguồn
tài chính thích hợp.
Việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã biến tài sản trong doanh
nghiệp trở thành sở hữu hỗn hợp của nhiều chủ thể, trong đó bao gồm sở hữu
Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu của nhiều cá nhân. trên cơ sở chế độ góp
vốn như vậy, đòi hỏi tổ chức bộ máy quản lý của Công ty phải được thiết kế
một cách tối ưu nhất để bảo toàn và phát triển nguồn vốn này.
2. Cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Xây dựng 79

23


MÔ HÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY ĐƯỢC TỔ CHỨC
THEO SƠ ĐỒ SAU:

Ban giám đốc
Ban quản lý dự án
(Đ/D chủ đầu tư)

Cán bộ giám sát
của ban QLDA
Chỉ huy trưởng công
trường

Phòng Tài chính
– Kế toán


- Theo dõi các chế độ lao động, khen thưởng, kỷ luật và an toàn lao
động công trường.
* Phòng tài chính - kế toán
- Báo cáo Giám đốc phụ trách kế hoạch vốn cho công trường.
- Kiểm tra quản lý các chứng từ thanh toán công trình.
- Làm thủ tục đăng ký thuế của công trường với chi cục thuế tại địa
phận thi công.
- Thanh quyết toán công trình đã được nghiệm thu bàn giao.
* Ban chỉ huy công trường
Chỉ huy trưởng công trường:
- Báo cáo Giám đốc quản lý, các phòng chức năng về :
+ Tiến độ thi công.
+ Biện pháp thi công.
+ Tổ chức nhân sự, lao động .
+ Kế hoạch vốn thi công.
- Làm việc, quan hệ với Chủ đầu tư và các cơ quan liên quan đến
công trình .
- Chịu trách nhiệm và giải quyết các vấn đề liên quan đến công trình
ngay cả khi công trình đã hoàn thành như:
+ Bảo hành.
+ Thanh quyết toán.
+ Thanh tra, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền.
* Các đội thi công
- Các đội thi công trực thuộc ban chỉ huy công trường chịu sự quản
lý, giám sát trực tiếp của Ban chỉ huy.
* Bộ máy kế toán của Công ty Cổ phần xây dựng 79

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status