1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
KHOA
TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả Sử dụng vốn tại Sở giao
dịch I NHNo&PTNT Việt Nam
2
Lời nói đầu
Sau nhiều thập kỷ xây dựng và phát triển kinh tế, Việt Nam đang trong
quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế đang dần dần khởi sắc: Tốc
độ tăng trưởng ngày càng cao, lạm phát được kiềm chế, sản xuất phát triển, đời
sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
pháp nâng cao hiệu quả Sử dụng vốn tại Sở giao dịch I NHNo&PTNT Việt
Nam ”.
Nội dung gồm ba phần chính:
Chương I. Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng
Thương mại.
Chương II. Thực trạng hiệu quả Sử dụng vốn tại Sở giao dịch I
NHNo&PTNT.
Chương III. Giải pháp nâng cao hiệu quả Sử dụng vốn tại Sở giao dịch I
NHNo&PTNT.
4
Chương I
Cơ sở lí luận về hiệu quả sử dụng vốn
của Ngân hàng thương mại .
1.1. Khái quát về Ngân hàng Thương mại.
1.1.1. Khái niệm - Đặc điểm của Ngân hàng thương mại.
1.1.1.1. Khái niệm.
Ngân hàng thương mại đã có một quá trình hình thành và phát triển lâu
dài. Ngay nửa đầu thế kỷ 16, ở Châu Âu đã ra đời một số ngân hàng đầu tiên mà
tiền thân là những tổ chức cho vay nặng lãi. Vào thời điểm này, ngân hàng phát
triển ở trình độ thấp, hoạt động của ngân hàng chỉ gói gọn trong lĩnh vực giữ hộ
tiền và cho vay. Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, hoạt động
của ngân hàng thương mại cũng được từng bước được củng cố và hoàn thiện,
Hai là, hoạt động ngân hàng thương mại phải tuân thủ theo quy định của
pháp luật, nghĩa là chỉ khi ngân hàng thương mại thoả mãn đầy đủ các điều kiện
khắt khe do pháp luật qui định như điều kiện về vốn, phương án kinh doanh thì
mới được phép hoạt động trên thị trường.
Ba là, hoạt động ngân hàng thương mại là hình thức kinh doanh có độ rủi
ro cao hơn nhiều so với các hình thức kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng
sâu sắc tới các ngành khác và cả nền kinh tế. Sở dĩ như vậy là do trong hoạt động
ngân hàng đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ do các ngân hàng tiến hành
huy động vốn của người khác rồi đem vốn đó để cấp tín dụng cho khách hàng
theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi trong một thời gian nhất định, nên đã tạo rủi
ro cho các hoạt động ngân hàng thương mại. Rủi ro đến từ phía ngân hàng,
khách hàng vay tiền, rủi ro đến từ những yếu tố khách quan. Bởi vậy, ngân hàng
thương mại phải đối mặt với rủi ro cao, kéo theo là rủi ro đối với những người
gửi tiền ở ngân hàng thương mại cũng như rủi ro đối với nền kinh tế. Để tránh
rủi ro đáng tiếc xảy ra, nhằm kiểm soát, làm giảm nhẹ những tổn hại do ngân
6
hàng vỡ nợ gây ra, chính phủ các quốc gia dặt ra những đạo luật riêng, nhằm
đẩm bảo cho hoạt động này được vận hành an toàn, hiệu quả trong nền kinh tế
thị trường.
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Tầm quan trọng của Ngân hàng thương mại được thể hiện qua các chức
năng của nó. Các nhà kinh tế học đã ví ngân hàng thương mại là trái tim của nền
kinh tế. Ngân hàng hút tiền về, bơm tiền đi vì thế các nguồn vốn nhàn rỗi được
khơi thông đưa tiền từ nơi thừa đến nơi thiếu, giúp cho quá trình lưu chuyển tiền
tệ một cách hiệu quả. Các chức năng của ngân hàng thương mại có thể được nêu
ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng bao gồm ba chức năng chủ yếu: chức
năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, chức năng tạo tiền của ngân
hàng thương mại.
nguồn vốn thúc đẩy tiến bộ khoa học kĩ thuật, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất.
Chức năng tín dụng của Ngân hàng Thương mại được hình thành rất sớm,
ngay từ lúc hình thành các Ngân hàng Thương mại. Ngày nay, thông qua chức
năng trung gian tín dụng, Ngân hàng Thương mại đã và đang thực hiện chức
năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên, vốn đầu tư được
mở rộng và từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, cải thiện đời sống
nhân dân.
1.1.2.2. Ngân hàng Thương mại-trung gian thanh toán.
Việc làm trung gian thanh toán của Ngân hàng ngày nay đã phát triển đến
tầm mức rất đa dạng, không chỉ là trung gian truyền thống như trước, mà còn
quản lý các phương tiện thanh toán. Đây là vai trò ngày càng chiếm vị trí rất
quan trọng, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật. ở các
nước phát triển, phần lớn các công tác thanh toán ở trong nước được thực hiện
thông qua séc và phần lớn séc thanh toán ở trong nước được thực hiện bằng
8
thanh toán bù trừ thông qua hệ thống Ngân hàng Thương mại. Với phương pháp
công nghệ hiện đại hơn, các NHTM từng bước trang bị đầy đủ các máy vi tính
và các phương tiện kỹ thuật khác tạo điều kiện, thanh toán bù trừ được nhanh
chóng giảm bớt chi phí và có độ chính xác cao. Quá trình lưu thông chuyển vốn
từ tài khoản người mua sang tài khoản người bán có một đặc điểm phi vật chất.
Bằng chứng là ở các nước, công nghiệp phát triển sử dụng hình thức chuyển tiền
bằng điện tử là chuyện bình thường. Họ thanh toán bằng nối mang các máy vi
tính của các Ngân hàng Thương mại trong nước nhằm thực hiện chuyển vốn từ
tài khoản người mua sang tài khoản người bán một cách nhanh chóng tiện lợi.
Như vậy Ngân hàng đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu thông,
đẩy nhanh tốc luận chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá.
1.1.2.3. Chức năng tạo ra tiền Ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng hai
Tiền gửi mở rộng =
r
b
a
1
x tiền gửi ban đầu.
Tóm lại, khả năng tạo tiền là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một
Ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần,
thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, tín dụng nhiều Ngân hàng.
Khả năng này tạo ra "bội số mức cung tiền tệ" liên quan chặt chẽ với việc công
cụ dự trữ bắt buộc, của Ngân hàng trung ương. Chính vì vậy các bút tệ thực sự
thúc đẩy sự phát triển kinh tế mà cũng có thể gây nên những tai hoạ lớn. Đây là
nhân tố cơ bản trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng Thương mại.
Từ ba chức năng cơ bản trên ta cũng có thể thấy được vai trò to lớn của
Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế. Hoạt động của Ngân hàng Thương
mại đẩy nhanh quá trình thanh toán, giảm chi phí giao dịch và tạo môi trường
thuận lợi cho quá trình lưu chuyển vốn của nền kinh tế, nâng cao chất lượng của
quá trình tập trung và phân phối nguồn vốn. Ngân hàng Thương mại còn là bộ
máy tạo tiền, nó có vai trò quan trọng trong việc thực thi chính sách tiền tệ và
10
góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô dưới sự tác động của Ngân hàng Trung
ương và các chính sách của Nhà nước.
1.1.3. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương mại.
Cùng với sự phát triển của Ngân hàng Thương mại, hoạt động và các dịch
vụ của Ngân hàng Thương mại ngày càng được mở rộng. Nhưng nhìn chung,
hoạt động của Ngân hàng Thương mại gồm ba hoạt động chính là hoạt động
chẽ và bổ sung cho nhau. Vì vậy đối với các nhà quản trị ngân hàng, không được
coi nhẹ hoạt động nào mà phải luôn đặt mối quan hệ giữa chúng trong khi đề ra
chiến lược cũng như lập kế hoạch kinh doanh để đạt được hiệu quả trong hoạt
động.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng Thương mại .
Để hiểu xem một Ngân hàng Thương mại (NHTM) hoạt động như thế nào
chúng ta phải xem xét đến bản quyết toán tài sản của Ngân hàng đó, là bản kê tài
sản có và tài sản nợ cuả nó. Bảng quyết toán này liệt kê các kết số, tức là nó có
đặc trưng.
Tổng tài sản có = Tổng tài sản nợ + vốn.
Hơn nữa, bảng quyết toán tài sản một Ngân hàng liệt kê các nguồn vốn
của Ngân hàng (tài sản nợ) và sử dụng vốn (tài sản có). Các Ngân hàng bằng
nhiều cách để huy động vốn. Sau đó họ dùng vốn này có được tài sản có.
- Bảng quyết toán của tất cả các Ngân hàng Thương mại thường có kết cấu
dưới dạng sau:
12
Tài sản có (sử dụng vốn) Tài sản nợ (nguồn vốn)
1. Khoản mục dự trữ 1. Khoản mục tiền gửi
2. Khoản mục CK ngắn hạn 2. Khoản mục đi vay
3. Khoản mục cho vay 3. Các loại vốn uỷ thác
4. Khoản mục đầu tư 4. Vốn sở hữu của Ngân hàng
5. Các tài sản có khác
6. TSCĐ tích lũy
1.2.1. Nguồn vốn tại Ngân hàng Thương mại
NHNN có thể cho vay. Khi NHNN cho Ngân hàng Thương mại vay dựa vào các
chứng khoán (chứng khoán cầm cố, chứng khoán chiết khấu), và chỉ cho vay tối
đa 70% giá trị thực tế của chứng khoán đó. Chi phí để có khoản vốn này là khá
lớn, ảnh hưởng đến kế hoạch của Ngân hàng, nhất là lợi nhuận, nên đây là giải
pháp cuối cùng Ngân hàng mới huy động.
Các Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín dụng luôn là người bạn
đồng hành, người bạn hàng của nhau. Khi một Ngân hàng cần một nguồn vốn
trung và dài hạn hay một dự án lớn đem lại lợi nhuận cao Ngân hàng Thương
mại thường đi vay tức thời với lãi suất trên thị trường liên Ngân hàng. Hoặc hai
Ngân hàng Thương mại thuộc hai nước có, thời gian làm việc ngược nhau
thường ký kết hợp đồng tín dụng qua đêm để tận dụng nguồn vốn tuy nhiên cách
làm này chi phí hơi cao vì lãi suất tín dụng qua đêm là lãi suất nóng.
14
Ngoài ra Ngân hàng Thương mại có thể vay vốn trên thị trường vốn và thị
trường tiền tệ thông qua phát hành các kỳ phiếu ngắn hạn, trái phiếu trung và dài
hạn.
Đặc điểm của nguồn vốn đi vay là ổn định hơn, nguồn vốn tiền gửi nhưng
chi phí vốn cao hơn. Tỷ lệ nguồn vốn đi vay đang có xu hướng chiếm khoản 15 -
20% tổng nguồn vốn Ngân hàng Thương mại. Việc huy động vốn còn phụ thuộc
chính sách tiền tệ của NHNN, các hoạt động nói chung của Ngân hàng Thương
mại và tính năng động của thị trường chứng khoán.
1.2.1.3. Các nguồn vốn khác của Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng Thương mại ra còn có những nguồn vốn khác như nguồn vốn
uỷ thác, nguồn vốn mà Ngân hàng đứng ra quản lý hộ một tổ chức ra bảo lãnh
cho một tổ chức để đầu tư vào một dự án lớn mang lại lợi nhuận cao, trong
trường hợp này Ngân hàng sẽ hưởng hoa hồng, và hưởng dịch vụ quản lý.
Nguồn vốn trong thanh toán hình thành từ đặc điểm thanh toán không
dùng tiền mặt khi mà sự vận động giữa hàng hoá và tiền tệ luôn có một khoảng
ngắn hạn không thể cho vay trung và dài hạn được hay tình trạng ứ đọng vốn do
không có dự án khả thi, giảm lợi nhuận của Ngân hàng.
1.2.2. Phân loại sử dụng vốn tại Ngân hàng Thương mại
Trong bản quyết toán, tài sản của một Ngân hàng Thương mại, bên tài sản
có thể hiện kết quả của việc sử dụng vốn của Ngân hàng đó. Việc sử dụng vốn
trong Ngân hàng Thương mại gồm những mục sau.
16
1.2.2.1. Tiền dự trữ
Đây là nghiệp vụ nhằm duy trì khả năng thanh khoản của Ngân hàng để
đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên của khách hàng. Ngân hàng
Thương mại phải duy trì một bộ phận vốn, để gửi vào một tài khoản nào đó như
ở NHNN, tổ chức tín dụng các Ngân hàng Thương mại khác và một lượng
được cất giữ tại Ngân hàng đó, gọi là tiền dự trữ. Mức dự trữ cao hay thấp phụ
thuộc vào qui mô hoạt động của Ngân hàng, mối quan hệ thanh toán bằng tiền
mặt và chuyển khoản, thời vụ của các khoản chi tiền mặt. Tiền dự trữ hiện hành
không có lãi nhưng các Ngân hàng Thương mại vẫn giữ chúng do một số lý do
nhất định. Thứ nhất, theo luật pháp hiện hành, các Ngân hàng Thương mại phải
nộp một tỷ lệ nhất định tiền gửi mà ngân hàng huy động được tại Ngân hàng Nhà
nước( thường là 10%) để đảm bảo tiền gửi. Đây cũng là công cụ quan trọng
trong quản lý lưu thông tiền tệ. Thứ hai, bản thân ngân hàng cũng thấy rõ sự cần
thiết phải giữ một ít tiền mặt mà không nên cho vay hết.Việc giữ tiền măt này để
đảm bảo an toàn cho những hoạt động còn lại, do vậy dự trữ tiền mặt trong tài
sản có còn gọi là “ khoản đầu tư cho sự an toàn”. Ngoài ra, các ngân hàng nhỏ
gửi tiền vào các ngân hàng lớn để đổi lấy các dịch vụ khác nhau như tập hợp séc,
giao dịch ngoại tệ. Các khoản này có tính lỏng nhất trong các loại tài sản có của
ngân hàng chiếm khoảng 7% tổng tài sản, phục vụ nhu cầu thanh khoản tại ngân
hàng.
1.2.2.2. Đầu tư vào chứng khoán.
mãn hạn và cũng có xác suất rủi ro vỡ nợ cao hơn.
18
Theo thời gian, các khoản cho vay có thể chia thành các khoản cho vay
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Cho vay ngắn hạn thường đáp ứng nhu cầu về
vốn lưu động hay khó khăn tạm thời về vốn. Cho vay trung và dài hạn thường
đáp ứng nhu cầu cho những dự án lớn, hay đổ mới dây chuyền công nghệ Việc
phân loại theo thời gian giúp Ngân hàng lập kế hoạch để huy động vốn và đầu
tư.
Phân loại theo đối tượng cho vay, có khoản cho vay công nghiệp, cho vay
nông nghiệp, cho vay tiêu dùng.v.v. Các Ngân hàng cho vay công nghiệp thường
dựa vào tính chất, chu kỳ kinh doanh, để đáp ứng mục đích, và mang lại hiệu
quả sử dụng vốn. Cho vay nông nghiệp dựa vào thời vụ và rủi ro do tự nhiên.
Cho vay tiêu dùng thường là cho vay đối với cán bộ làm công ăn lương, công
việc ổn định, tiền lương ổn định, đảm bảo khả năng trả nợ cho Ngân hàng.
1.2.2.4. Các khoản đầu tư khác
Ngân hàng Thương mại có thể tham gia đầu tư vào các chứng khoán ngắn
hạn, chứng khoán chính phủ v.v. Các Ngân hàng Thương mại mua chứng khoán
vì mục đích thanh khoản và đa dạng hoá hoạt động, để nâng cao lợi tức và phục
vụ như các vật kí quĩ cho các tài sản nợ ký thác với chính quyền địa phương,
chính phủ v.v. Tỷ lệ lớn nhất của đầu tư chứng khoán là chứng khoán chính phủ
bởi tuy có mức lãi hạn chế những linh hoạt, không có rủi ro tín dụng và ít rủi ro
về lãi suất so với trái phiếu dài hạn. Thông thường lợi tức tương ứng với độ rủi
ro. Khoản vốn này chiếm khoảng 15 - 19% tổng tài sản.
1.2.3. Hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng Thương mại.
1.2.3.1. Khái niệm chung về Sử dụng vốn.
Cho vay hay đầu tư để sinh lợi từ tiền đã huy động được là lẽ sống của
Ngân hàng Thương mại. Cho vay hay đầu tư vào các loại tài sản nào cũng đều là
Quản lý nguồn vốn về qui mô nghĩa là xem xét Ngân hàng Thương mại có
khả năng huy động vốn cao nhất là bao nhiêu. Cơ cấu, qui mô từng loại vốn ảnh
hưởng tới việc trả lãi Ngân hàng và ảnh hưởng tới ổn định hoạt động Ngân hàng
như thế nào. Các Ngân hàng hiện đại thường lập ra những bài toán tối ưu về cơ
cấu nguồn vốn và qui mô từng loại nguồn vốn.
Quản lý chi phí trả lãi là đưa chính sách lãi suất huy động phù hợp với
từng thời kỳ trên cở sở chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương. Tính toán
tổng chi phí trả lãi - chi đầu vào - để xác định chi đầu ra.
Quản lý kỳ hạn của nguồn vốn, Ngân hàng xác định ra những kỳ hạn huy
động, xác định được khả năng trả nợ đảm bảo nhu cầu rút tiền của khách hàng,
tính toán kỳ hạn bình quân của các khoản tiền gửi. Trong quản lý kỳ hạn Ngân
hàng áp dụng "Nguyên lý thợ kim hoàn "để tính thời hạn trung bình của các
khoản tiền gửi.
Bất cứ hoạt động cho vay hay đầu tư nào đều tiềm ẩn những dạng rủi ro
khác nhau và mức rủi ro cũng khác nhau. Sử dụng vốn tại Ngân hàng thương
mại dựa trên nguyên tắc an toàn và hiệu quả thường phải quản lý thanh khoản,
kiểm soát rủi ro trong hoạt động của mình.
* Quản lý thanh khoản
Thanh khoản là khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán tín dụng cho bất kỳ
khách nào tại bất kỳ thời điểm nào.
Thanh khoản là một trong số các vấn đề mà nhà quản lý Ngân hàng
thường xuyên phải quan tâm. Mức độ thanh khoản mà một ngân hàng riêng biệt
nào đó cần đến, tuỳ thuộc vào lượng biến đổi xảy ra ở số tiền gửi và nhu cầu tín
dụng.
21
Có nhiều biến động bất thường xảy ra trong nền kinh tế, theo thời vụ, theo
chu kỳ. Rất khó lòng dự đoán được thời gian xảy ra và tính khốc liệt của biến
động bất thường ấy do chúng không tuân theo những khuôn mẫu định sẵn.
với các Ngân hàng thương mại khác để bán đi các khoản tín dụng có chất lượng
cao. Thông báo trì hoãn các khoản nợ sẽ là phương cách cuối cùng của Ngân
hàng thương mại.
Để quản lý thanh khoản Ngân hàng phải dựa vào các lí thuyết cơ bản như
lí thuyết cho vay thương mại, lí thuyết về khả năng chuyển đổi, lí thuyết về lợi
tức dự tính và các vấn đề về quản lý tình hình dự trữ.
1) Lý thuyết cho vay thương mại
Thanh khoản của một Ngân hàng thương mại được đảm bằng một bộ phận
tài sản biểu hiện dưới hình thức cho vay. Bộ phận này được lưu chuyển trong
suốt quá trình kinh doanh. Ngân hàng cấp tín dụng cho doanh nghiệp tương ứng
với các chu kỳ kinh doanh tướng ứng, do vậy Ngân hàng luôn có các khoản nợ
có thể thu hồi được. Với cách phân đoạn qúa trình kinh doanh giúp Ngân hàng
đảm bảo được thanh khoản đồng thời doanh nghiệp có kế hoạch trả nợ đối với
từng thời kỳ. Cho vay thương mại thường áp dụng với các khoản cho vay vốn
lưu động. Hạn chế là Ngân hàng khó mở rộng đối với loại cho vay trung và dài
hạn ảnh hưởng tới thị trường tín dụng trong tương lai vì liên quan đến các vấn đề
công nghệ , đổi mới công nghệ, vấn đề mở rộng sản suất.
2) Lý thuyết về khả năng chuyển đổi
Cơ sở giá thuyết cho rằng thanh khoản của một Ngân hàng được duỳ trì,
nếu nó giữ được các tài sản có thể chuyển đổi hoặc bán cho người cho vay hoặc
23
đầu tư để lấy tiền. Nếu tiền cho vay không được hoàn trả, vật thế chấp từ các
khoản vay có bảo đảm, có thể bán được trên thị trường để nhận tiền. Nếu cần,
các quĩ và các khoản tín dụng có thể được chuyển đổi tại Ngân hàng Trung
ương. Như vậy, một Ngân hàng thương mại nào đó sẽ có thể đáp ứng nhu cầu về
thanh khoản, miễn là nó luôn luôn có tài sản để bán. Tương tự như vậy, hệ thống
Ngân hàng sẽ luôn mang tính thanh khoản, miễn là Ngân hàng trung ương sẵn
sàng mua lại các tài sản dưới dạng chiết khấu và phụ thuộc vào hệ thống tài
đúng kỳ hạn hay việc xác định kỳ hạn nợ của khách hàng không hợp lý.
4) Quản lý tình hình dự trữ
Thực chất là quản lý khối lượng tiền sao cho phù hợp với nhu cầu dự trữ
pháp định do Ngân hàng trung ương qui định. Việc duy trì vốn quĩ gửi tiền mặt
trong từng thời gian đoạn hoạt động là hết sức cần thiết. Ngân hàng phải tính
toán một số hệ số quan trọng trong từng thời kỳ
* Hệ số vốn khả dụng =
th¸ngmét vßng trongtr¶ i ph¶nî n kho¶Tæng
dông kh¶ VènHệ số >= 1 là tốt
< 1 là mức nguy hiểm
* Hệ số chuyển đổi =
n¨m 5 h¹n thêi cã vay cho n kho¶c¸c sè Tæng
n¨m 5 h¹n thêi cã vèn nguån sè Tæng
Hệ số này >= 0,6
25
< 0,6 là mất an toàn
* Hệ số an toàn vốn =
cao ro rñidé cã ns¶ tµi Tæng
cã tù Vèn
Hệ số này >= 0,8 là an toàn
< 0,8 là mất an toàn