TRƯỜNG ĐẠI HỌC1 NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-----***----KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-----***-----
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên LUẬN
ngành: Kinh
doanh
quốc tế
KHÓA
TỐT
NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh doanh quốc tế
Tên đề tài:
Lợi thế so sánh các mặt hàng nông sản Việt Nam và giải pháp để khai thác những lợi thế
Tên đề
so sánh đó trong thời ký khủng hoảng kinh
tế tài:
Lợi thế so sánh các mặt hàng nông sản Việt Nam và giải pháp để khai thác những
lợi thế so sánh đó trong thời ký khủng hoảng kinh tế.
Họ và tên sinh viên : Trương Thị Xuân Quỳnh
Mã sinh viên
: 0955010026
Lớp
: Anh23 - KT&KDQT
Họ và tên sinh viên: Trương Thị Xuân Quỳnh
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, ngành nông nghiệp vẫn luôn là ngành chiếm tỉ trọng lớn nhất
trong cơ cấu sản xuất của nước ta. Việt Nam đi lên từ nền văn minh lúa nước nên nông
sản cũng chính là một thế mạnh truyền thống của chúng ta chính vì chúng ta có lợi thế
so sánh trong lĩnh vực này. Hơn thế nữa, trong những năm tới đối với Việt Nam, nông
nghiệp vẫn là một ngành kinh tế quan trọng. Do vậy, việc phát huy lợi thế trong sản
xuất và xuất khẩu nông sản không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy phát
triển một nền nông nghiệp hàng hóa , đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, mà còn là
vấn đề có tính chiến lược đối với việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nhận
biết được sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài này nên người viết đã lựa chọn đề tài
“Lợi thế so sánh các mặt hàng nông sản Việt Nam và giải pháp để khai thác
những lợi thế so sánh đó trong thời ký khủng hoảng kinh tế”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Qua khóa luận, người viết mong muốn phần nào làm sáng tỏ những lợi thế so sánh
của nông sản Việt Nam từ xưa đến nay đồng thời tìm ra những giải pháp để khai thác
những lợi thế so sánh đó trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Nông nghiệp đã, đang và
sẽ là một ngành thế mạnh và trụ cột của Việt Nam cho nên việc hiểu rõ và nắm vững
được những thế mạnh đó là rất quan trọng và có ý nghĩa chiến lược lâu dài.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
chủ yếu là phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích để làm sang tỏ hơn từng
kết luận nghiên cứu.
2
-
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển lợi thế so sánh của Việt Nam
trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế từ năm 2008 tới nay
Do việc tìm tài liệu tham khảo gặp nhiều khó khăn đồng thời khả năng tư duy viết
bài của người viết còn non nớt nên khóa luận vẫn còn nhiều thiếu sót, người viết rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của các Quý thầy cô.
Qua khóa luận tốt nghiệp, người viết muốn gửi lời cảm ơn đến trường đại học
Ngoại thương, khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế đã cho người viết cơ hội được thực
hiện công trình nghiên cứu này. Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo đã nhiệt
tình giảng dạy người viết trong suốt 4 năm học, đặc biệt là cô Nguyễn Hồng Trà My,
người đã giúp đỡ và chỉ dẫn người viết trong quá trình thực hiện khóa luận. Cảm ơn
khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế, thư viện Quốc gia, thư viện trường đại học Ngoại
Thương đã giúp đỡ và cung cấp những tài liệu quý báu.
4
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỢI THẾ SO SÁNH VÀ NÔNG SẢN
1.1 Những vấn đề cơ bản của nông sản
1.1.1 Thế nào là nông sản?
“Hàng hóa được chia làm 2 nhóm chính: nông sản và phi nông sản. Nông sản
được xác định trong phụ lục Hiệp định Nông nghiệp là tất cả các sản phẩm liệt kê từ
chương I đến chương XXIV (trừ cá và các sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các
chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (hệ thống hài hòa hóa mã số thuế)” (WTO,
1995, tr.130). Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại
hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
Cà phê, chè, phụ gia và các loại gia vị
Ngũ cốc
Các sản phẩm xay xát
Hạt và quả có dầu
Nhựa cánh kiến đỏ, gôm, nhựa cây, các chất nhựa
Các loại rau khác
Mỡ và dầu động vật và thực vật
Các chế phẩm từ thịt
Đường và các loại kẹo đường
Cacao và các chế phẩm từ cacao
Chế phẩm từ ngũ cốc, bột, tinh bột
Các chế phẩm từ rau, hoa quả, quả hạch và thực vật
Các phụ gia có thể ăn được hỗn tạp
Đồ uống, rượu mạnh và giấm
Phần còn lại và phần bỏ đi từ ngành công nghiệp thực phẩm
Mỗi loại cây trồng có một đặc điểm thích nghi riêng với sự biến thiên của điều
kiện thời tiết, khí hậu. Vào những lúc chính vụ, cây trồng phát triển thuận lợi cho sản
lượng dồi dào, chủng loại phong phú, chất lượng cao và đồng đều. Ngược lại những
nông sản trái mùa vụ thường cho năng suất thấp hơn và chất lượng, hương vị không
được như mong đợi. Ví dụ : mùa su hào và bắp cải là mùa đông, nhãn thì lại cho sản
lượng lớn nhất và chất lượng ngon nhất vào mùa hè.
Nông sản thuộc nhóm hàng khó bảo quản
Mặt hàng nông sản có đặc tính tươi sống nên dễ bị biến đổi phẩm chất theo thời
gian. Theo kinh nghiệm của người viết, thời gian bảo quản hoa quả ở điều kiện thông
thường chỉ khoảng 2-5 ngày, lúa gạo để lâu cũng bị thay đổi phẩm chất, dễ bị mọt, ẩm.
Hơn thế nữa, nông sản dễ bị dập nát và giảm giá trị trong quá trình vận chuyển. Do đó,
việc bảo quản và chế biến nông sản là cực kỳ quan trọng và có thể trở thành thế mạnh
của một quốc gia.
Nông sản có đặc tính hữu cơ, có hàm lượng dinh dưỡng cao
Lúa gạo, lúa mỳ là những nông sản có hàm lượng tinh bột cao nhất, không thể
thiếu trong các bữa ăn với hàm lượng tinh bột lên tới 80% (Nguyễn Minh Sơn, 2010,
tr.91)
Hoa quả là nguồn cung cấp vitamin dồi dào và đa dạng nhất (Nguyễn Trung
Trực, 2006, tr.455). Cụ thể như sau :
+ Xoài: rất giàu chất chống ôxy hóa, vitamins A,C, kali và chất xơ.
+ Đu đủ: rất giàu chất dinh dưỡng, với khoảng 118 calo/ quả. Ngoài ra, đu đủ
cũng rất giàu vitamin C, kali, folat và papain – một loại enzym giúp làm mềm thức ăn
và giúp cơ thể tiêu hóa các chất protein tốt hơn
7
+ Trái lựu: với ½ cốc nước ép trái lựu chứa khoảng 80 calo. Ngoài ra, loại quả
này cũng chứa nhiều thành phần natri, vitamin B2, sinh tố B, niaxin, vitamin C, canxi
và photpho.
điều kiện tự nhiên là nguyên nhân của thương mại quốc tế và quyết định cơ cấu
thương mại quốc tế
Theo Adam Smith, mỗi quốc gia đều có những nguồn lực và tài nguyên sẵn có của
mình như: đất đai, lao động, nguồn vốn, khoa học công nghệ và kinh nghiệm sản xuất
kinh doanh,… Như vậy các quốc gia cần tiến hành sản xuất chuyên môn hóa những
mặt hàng nào đó mà họ có lợi thế tuyệt đối về các nguồn lực, sau đó tiến hành trao đổi
với các nước khác thì các bên đều có lợi. Ông cho rằng hai quốc gia trao đổi thương
mại với nhau là dựa trên cơ sở tự nguyện và cùng có lợi, lợi thế của thương mại bắt
nguồn từ lợi thế tuyệt đối của một quốc gia. Từ lập luận đó, Adam Smith chủ trương là
phải tự do kinh doanh vì mỗi cá nhân và doanh nghiệp đều có mục đích là thu lợi
nhuận tối ưu. Do vậy, việc cho phép tự do kinh doanh sẽ đem lại lợi ích cho toàn xã
hội. Trong quá trình trao đổi thương mại, nguồn lực của các nước sẽ được lựa chọn sử
dụng có hiệu quả cao hơn, tổng sản phẩm của toàn thế giới sẽ gia tang và bằng cách đó
mọi người dân của các nước đều được tiêu dung nhiều loại sản phẩm theo mức mong
muốn lớn hơn thông qua thương mại quốc tế. Như vậy, sản xuất chuyên môn hóa dựa
vào lợi thế tuyệt đối trong thương mại quốc tế đảm bảo có lợi cho các nước. Chính nhờ
vậy mà cho đến nay, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam vẫn dựa vào lợi thế tuyệt
đối khi xây dựng chiến lược, chính sách thúc đẩy sản lượng cũng như là lợi nhuận từ
nông sản.
Tuy nhiên lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích được một phần thương mại quốc tế. Bởi
lẽ trên thực tế, nếu như một vài quốc gia nào đó lại bất lợi vì không có tài nguyên dồi
dào và không có các tiềm năng to lớn như những nước khác thì những quốc gia đó sẽ
không nên tham gia vào thương mại quốc tế hay sao? Chính vì vậy, việc đẩy mạnh
thương mại quốc tế của nhiều nước phát triển vốn dĩ nghèo nàn tài nguyên thiên nhiên
như: Nhật Bản, Thụy Sĩ, Áo, Singapore, Hàn Quốc,…sẽ không giải thích được bằng
lợi thế tuyệt đối. Vì sự hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trước tình hình phát triển
9
những lợi thế, vừa gây ra những thách thức đối với hoạt động sản xuất và tiêu thụ hàng
nông sản xuất khẩu.
Quá trình tạo ra giá trị sử dụng hàng nông sản xuất khẩu thường trải qua các công
đoạn sau:
Đầu vào San xuất nông sản chế biến nông sản xuất khẩu nông sản
Việc tạo ra giá trị sử dụng của hàng nông sản phải trải qua 3 khâu chính, đó là khâu
sản xuất nông sản (thuộc lĩnh vực sản xuất nông nghiệp), khâu chế biến nông sản
(thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp), khâu xuất khẩu hàng nông sản (thuộc khâu
thương mại). Ba khâu này liên quan và tương tác lẫn nhau.
-
Sản xuất: quá trình sản xuất nông sản xuất khẩu có đặc điểm khác biệt so với
những ngành sản xuất khác. Bởi sản xuất nông sản gắn liền với các điều kiện tự nhiên,
bên cạnh đó khi các quốc gia thành viên của WTO cam kết cắt giảm thuế và tiến tới
xóa bỏ hàng rào phi thuế quan như hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu,v.v.. thì các quy định
về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm có xu hướng ngày càng khắt khe
hơn. Do đó, xu hướng sản xuất nông sản theo phương thức sản xuất hữu cơ, sản xuất
nông sản theo quy trình sản xuất sạch, đảm bảo dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực
phẩm phải được đặt lên hàng đầu và trở thành lợi thế.
- Lưu thông nông sản:
Đặc điểm của hàng hóa nông sản là tính chất tươi sống của sản phẩm và sản xuất,
thu hoạch theo mùa vụ và theo khu vực. Mặt khác, mỗi loại nông sản có một hình thức
tiêu thụ và chế biến riêng. Do đó, quá trình lưu thông nông sản (hệ thống mua) được tổ
chức tốt, nhanh chóng, thuận tiện sẽ góp phần đảm bảo chất lượng nông sản tốt hơn,
quá trình tái sản xuất diễn ra nhanh hơn. Ngược lại, hệ thống mua được tổ chức không
tốt sẽ làm chậm quá trình lưu thông của nông sản, do đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng
và chi phí của hàng hóa
- Chế biến nông sản:
12
lao động gắn liền với các yếu tố tự nhiên và năng suất lao động gắn liền với các yếu tố
kinh tế- xã hội. Vì thế sản lượng nông nghiệp tạo ra trên một đơn vị thời gian lao động
hoặc sản lượng nông sản được tạo ra trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp phụ
thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên.
Đất đai
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tiền đề đầu tiên của mọi quá trình sản xuất.
Khi con người tiến hành khai phá đưa đất hoang vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho
con người thì ruộng đất đã kết tinh lao động con người và đồng thời trở thành sản
phẩm của lao động. Đất tốt làm cho năng suất cây trồng có thể tăng lên, lượng cung
ứng sản phẩm trên thị trường cũng được tăng lên tương ứng. Không kể các yếu tố khí
hậu, sự khác nhau trong mức độ phì nhiêu tự nhiên được quyết định bởi sự cấu thành
hóa học của lớp đất trên mặt hay là sự khác nhau trong dung lượng các chất dinh
dưỡng cần thiết cho cây. Đặc điểm này đặt ra trong quá trình sử dụng, con người phải
không ngừng cải tạo và bồi dưỡng ruộng đất, làm cho đất ngày càng màu mỡ hơn.
Tính chất màu mỡ và dinh dưỡng của đất đai góp phần vào việc tăng năng suất cây
trồng, tạo ra các nông sản, đặc sản riêng có của từng vùng, từng quốc gia.
Thời tiết khí hậu
Vị trí địa lý thuận lợi, đất đai màu mỡ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông
sản nhưng ảnh hưởng của khí hậu cũng rất quan trọng đối với việc phát huy lợi thế.
Thời tiết khí hậu tốt tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, góp phần tăng năng suất, cho
thu hoạch các sản phẩm có chất lượng. Trãi lại, nếu gặp thời tiết bất lợi sẽ làm cho
năng suất cây trồng giảm, sản lương và chất lượng hàng nông sản giảm xuống, ảnh
hưởng đến nguồn cung ứng cho chế biến xuất khẩu. Ngoài ra, thời tiết bất lợi cũng là
điều kiện để các côn trùng, các loại bệnh phát sinh, phát triển phá hoại sự sinh trưởng
và phát triển của cây trồng
Trong khi vốn, khoa học công nghệ là những nguồn lực khan hiếm ở các nước
đang phát triển, vai trò của chính sách đối với phát huy lợi thế xuất khẩu nông sản thể
hiện ở chỗ: nó vừa là những nhân tố trực tiếp, vừa là những nhân tố gian tiếp đến việc
phát huy lợi thế của nông sản xuất khẩu. Bởi chính sách không chỉ giúp khai thác có
hiệu quả các nguồn lực sẵn có mà thông qua việc đầu tư vốn, khoa học công nghệ mở
ra việc khai thác những nguồn lực mới cho xuất khẩu nông sản theo hướng bền vững.
Thứ năm, sự kết hợp xã hội trong sản xuất
Khi nghiên cứu về vấn đề này, bản thân C.Mác cũng cho rằng con người không
thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động
chung và trao đổi hoạt động với nhau. Tức là thông qua những mối liên hệ và liên
quan chặt chẽ với nhau đó thì mới có sự tác động của họ vào giới tự nhiên và sản xuất.
Sự kết hợp có hiệu quả không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quy mô sản
xuất, mà còn thuận tiện trong việc ứng dụng những thành tựu mới về khoa học công
nghệ vào sản xuất góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giảm chi phí sản xuất
sản phẩm.
Thứ sáu, phong tục, tập quán của người tiêu dùng
Việc tiêu dùng hàng nông sản phụ thuộc chủ yếu vào khẩu vị của người tiêu dùng
nên nhu cầu về hàng nông sản phụ thuộc lớn vào thói quen cũng như phong tục tập
quán của người tiêu dùng. Đặc điểm này đóng vai trò rất quan trọng trong việc nghiên
cứu, xác định cơ cấu cây trồng nhằm đáp ứng nhu cầu hàng nông sản tại các khu vực
thị trường khác nhau, đặc biệt khi muốn mở rộng thị trường tiêu thụ chiếm lĩnh thị
phần xuất khẩu.
Do những điều kiện khác nhau về địa lý , đất đai , nguồn nước, khí hậu lượng mưa
trong năm ...mà năng lực sản xuất trên các khía cạnh quy mô năng suất , sản lượng,
chi phí sản xuất và giá thành, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất
15
Thứ ba, chất lượng nông sản
Chất lượng của hàng nông sản thể hiện ở giá trị sử dụng và thời gian sử dụng của
sản phẩm. Bao gồm cả chất lượng dinh dưỡng và chất lượng vệ sinh an toàn thực
phẩm có tác động trực tiếp tới yêu cầu dinh dưỡng và sức khỏe, tính mạng của người
sử dụng. Những yếu tố cấu thành chất lượng của hàng nông sản như: sự tiện lợi trong
tiêu dùng, an toàn cho người sử dụng, phù hợp với thị hiếu và văn hóa của mỗi dân
tộc,… có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định của người mua.
Ngày nay, trên thị trường các nước phát triển, xu hướng cạnh tranh không chỉ
bằng chất lượng mà còn bằng các yếu tố môi trường và an toàn sử dụng, đặc biệt đối
với hàng nông sản. Do đó, ngoài việc nâng cao chất lượng hàng nông sản, các nhà sản
xuất cần phải chú trọng tới xây dựng thương hiệu sản phẩm.
Thứ tư, thị phần và thị trường tiêu thụ
Lợi thế này thể hiện khả năng chi phối thị trường thương mại trao đổi sản phẩm
thương mại trên thị trường quốc tế. Độ lớn của chỉ tiêu này phản ánh khả năng chiếm
lĩnh của quốc gia trên thị trường thế giới. Đó cũng là một tiêu chí thể hiện lợi thế của
nông sản xuất khẩu. Một mặt hàng có thị phần càng lớn trên thị trường thì mặt hàng đó
càng có lợi thế cạnh tranh lớn.
Thứ năm, nhóm chỉ tiêu định lượng, bao gồm:
Hệ số chi phí tài nguyên nội địa (Hay hệ số đo lường lợi thế sản xuất nội địa)DRC. Chỉ số DRC cho biết hiệu quả sử dụng các nguồn lực nội địa để tạo ra giá trị
xuất khẩu ròng. Nói cách khác, DRC cho phép xác định hiệu quả sử dụng tài nguyên
nội địa để sản xuất hàng xuất khẩu. Đây là chỉ số thường được dùng để đánh giá lợi
thế so sánh của ngành hàng. Nếu chỉ số DRC lớn hơn hoặc bằng 1 tức là việc sản xuất
17
nông sản không hiệu quả. Ngược lại, DRC
Tiêu thụ dưới mức. Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc đấu tranh giai cấp
với mục đích cắt giảm tiền lương và bóc lột thêm lao động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị
thặng dư, khi đó nền kinh tế tư bản đối mặt với vấn đề thường xuyên là nhu cầu tiêu
dùng không tương xứng với quy mô sản xuất và tổng cầu không tương xứng với tổng
cung.
-
Sức ép lợi nhuận từ lao động. Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu cầu thuê mướn tăng
lên và làm tăng tiền lương. Nếu tiền lương tăng cao sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi
nhuận và khi đạt đến một mức độ nhất định sẽ gây ra suy thoái kinh tế.
Về mặt lý luận, ít nhất những quan điểm trên không mâu thuẫn với nhau và có thể
đóng vai trò là những nội dung trong một học thuyết tổng hợp về khủng hoảng kinh tế.
Khủng hoảng sản xuất thừa là bản chất của khủng hoảng kinh tế. Biểu hiện của
khủng hoảng ở một số khía có thể nhận thấy như sau : hàng hóa không tiêu thụ được,
tư bản không tiêu thụ được chi phí sản xuất, nhiều xí nghiệp bị phá sản, đóng cửa, số
người thất nghiệp tăng lên. Trong thời kỳ khủng hoảng, sản xuất thừa hàng hóa không
phải tuyệt đối mà là tương đối. Nghĩa là thừa hàng hóa chỉ là thừa so với khả năng
thanh toán, chứ không phải thừa so với nhu cầu thực tế của xã hội.
1.3.2 Cuộc khủng hoảng kinh tế 2008
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007- 2008 là cuộc khủng hoảng tài chính
mà thực chất là sự mất khả năng thanh toán của các tổ chức tài chính, ngân hàng do sự
đổ vỡ bất động sản nhà ở. Tiếp theo là sự khan hiếm tín dụng do sự mất khả năng
thanh toán đó gây ra. Đây là cuộc khủng hoảng có tính thế kỷ, bởi nó không chỉ có quy
mô lớn và tác động sâu rộng khắp thế giới, mà đây cũng là lúc để người ta nhìn lại mô
hình và các lý thuyết làm cơ sở cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong những
năm qua.
20
lực lượng mới tham gia vào thị trường lao động (Cling, Razafindrakoto and Roubaud,
2010a). Ngay cả khi đạt được tốc độ tăng trưởng cao như vậy thì cũng có khoảng một
phần tư số lao động mới gia nhập (quy mô hàng năm lên đến gần một triệu người) phải
tham gia vào khu vực phi chính thức. Khu vực này do vậy cung cấp việc làm cho bộ
phận lao động mà khu vực nông nghiệp và khu vực chính thức không thể đáp ứng.
Do vậy, sự giảm nhịp tăng trưởng kinh tế năm 2008 - 2009 được dự báo là có
tác động mạnh mẽ đến việc làm và thị trường lao động ở Việt Nam, đặc biệt là đến khu
vực phi chính thức bởi vì khu vực này có vai trò như một biến số điều chỉnh trên thị
trường lao động. Cũng cần lưu ý rằng cơ chế điều chỉnh này ở các nước đang phát
triển như Việt Nam khác với ở các nước phát triển nơi mà hầu hết những tác động của
khủng hoảng kinh tế đến việc làm đã biểu hiện qua sự gia tăng nhanh chóng của tình
trạng thất nghiệp.
21
Chương 2
LỢI THẾ SO SÁNH CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM
2.1 Những lợi thế so sánh chung của Việt Nam trong việc khai thác nông sản
2.1.1 Những nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên
Việc phát huy lợi thế trong xuất khẩu nông sản chịu sự chi phối của nhiều nhân
tố chủ quan và khách quan khác nhau. Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng không nhỏ đến
việc phát huy lợi thế của Việt Nam trong xuất khẩu nông sản và là nhân tố mà tất cả
các quá trình sản xuất xét trên phạm vi toàn thế giới đều không thể thiếu được, đặc biệt
đối với một nước đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển như Việt Nam.
Thứ nhất, đất đai
những quỹ đất mà chúng ta đưa vào sử dụng có nhiều đặc điểm thuận lợi cho sản xuất
nông sản. Có một số nhóm đất có chất lượng tốt như đất bazan rất thích hợp để phát
triển cây cà phê, cao su, hồ tiêu và cây công nghiệp ngắn ngày. Nhờ đặc điểm riêng
của đất đai đã hình thành nhiều vùng sản xuất chuyên canh. Trong đó, vùng đồng bằng
sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng được đánh giá vào loại phì nhiêu trên thế
giới. Độ màu mỡ và những đặc điểm của thời tiết, khí hậu mùa vụ cho phép đồng bằng
sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long sản xuất lúa quanh năm trên diện tích rộng
và thích nghi với nhiều giống lúa cao sản, lúa đặc chủng có năng suất cao. Nhiều
chủng loại và sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa dạng trên thế giới. Vùng Đông
Nam Bộ với điều kiện tự nhiên phong phú cho phép sản xuất nhiều cây trồng có hiệu
quả kinh tế như cao su, cà phê,… Đặc điểm của đất đai này cho phép Việt Nam phát
triển những loại cây trồng cho năng suất cao, có giá trị kinh tế lớn mà không phải quốc
gia nào cũng có được
Thứ hai, khí hậu và nguồn nước
Nước là tài nguyên sống còn của sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất
nông sản nói riêng. Tài nguyên nước của Việt Nam khá phong phú bao gồm nước trên
mặt và nươc dưới đất. Hằng năm, lượng nước mưa cung cấp cho lãnh thổ nước ta trên
900 tỷ m3 nước. Lượng mưa lớn đã tạo cho nước ta một mạng lưới sông ngòi dày đặc
với 2345 con sông dài trên 10km, mật độ sông ngòi là 0,5-2,0 km2, trung bình cứ 20
km bờ biển lại có một cửa sông (Tổng cục thống kê, 2011)