TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
--------- ---------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM NĂM 2005 TRONG QUAN HỆ
SO SÁNH VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT
THƢƠNG MẠI NHẬT BẢN
Họ và tên sinh viên : Dƣơng Thị Mến
Lớp
: A14
Khoá
: 41
Giáo viên hƣớng dẫn : GS. TS. Nguyễn Thị Mơ
HÀ NỘI – 11/ 2006
Khoá luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, em đã
nhận được sự hướng dẫn và chỉ bảo nhiệt tình của GS.TS. Nguyễn Thị Mơ.
Em xin gửi tới cô lời cảm ơn chân thành nhất.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo của
trường đại học Ngoại Thương Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô thuộc khoa
Kinh Tế Ngoại Thương đã dạy dỗ và chỉ bảo em trong suốt bốn năm học vừa
II/ Pháp luật về công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp Việt Nam năm
2005 và theo Bộ luật thương mại Nhật Bản.............................................. 22
1. Pháp luật Việt Nam về công ty cổ phần ................................................... 22
1.1. Từ luật Công ty năm 1990 đến Luật Doanh nghiệp năm 2005 ............... 22
1.2. Những quy định chủ yếu về công ty cổ phần ......................................... 26
2. Pháp luật về công ty cổ phần của Nhật Bản ............................................. 30
2.1. Đặc điểm về luật điều chỉnh của Nhật Bản ............................................ 30
2.2. Những quy định chủ yếu về công ty cổ phần ......................................... 31
Chƣơng 2: Một số điểm khác biệt về công ty cổ phần theo Luật Doanh
nghiệp Việt Nam năm 2005 và Bộ luật Thƣơng mại Nhật Bản sửa đổi
năm 2002 ..................................................................................................... 32
I. Khác biệt về thủ tục thành lập công ty cổ phần ...................................... 33
2
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.
Khoá luận tốt nghiệp
1. Khác biệt về những quy định liên quan đến sáng lập viên ....................... 33
2. Khác biệt về những quy định liên quan đến bản Điều lệ .......................... 38
3. Khác biệt về các bước liên quan đến thủ tục thành lập ............................. 41
II. Khác biệt về cơ cấu tổ chức, bộ máy của công ty cổ phần ..................... 42
1. Đại hội đồng cổ đông - cơ quan lãnh đạo của công ty cổ phần ................ 43
2. Khác biệt về các quy định liên quan đến Ban giám đốc ........................... 48
3. Khác biệt về các quy định liên quan đến Ban kiểm soát ........................... 56
III. Một số khác biệt khác ........................................................................ 58
1. Khác biệt về luật điều chỉnh ..................................................................... 58
2. Khác biệt về quy chế phát hành cổ phiếu của công ty cổ phần ................ 58
3. Khác biệt về quyền của cổ đông ............................................................... 62
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.
Khoá luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các loại hình doanh
nghiệp, trong đó có công ty cổ phần. Tiếp đó là sự ra đời của Luật Doanh
nghiệp năm 1999 và 2005, nhằm sửa đổi, bổ sung những hạn chế của các luật
ban hành trước đó. Tuy nhiên, do hình thức kinh doanh này vẫn còn khá mới
6
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.
Khoá luận tốt nghiệp
mẻ ở nước ta nên so với pháp luật về công ty cổ phần của nhiều nước, pháp
luật về công ty cổ phần của Việt Nam vẫn còn có những hạn chế nhất định,
chưa hoàn toàn tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho loại hình doanh nghiệp này ở
Việt Nam. Vì vậy, việc học tập kinh nghiệm của các nước phát triển trong
việc xây dựng hành lang pháp lý cho công ty cổ phần hoạt động có thể được
coi là một công việc rất cần thiết.
Nhật Bản, một quốc gia cũng thuộc vùng Châu Á- Thái Bình Dương,
có một số nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội với Việt
Nam nhưng lại là một trong những cường quốc kinh tế lớn nhất của thế giới.
Để đạt được sự cường thịnh của nền kinh tế Nhật Bản có sự đóng góp không
nhỏ của các công ty cổ phần. Song để loại hình công ty này có điều kiện phát
triển tất yếu phải kể đến những quy định pháp lý rõ ràng, hợp lý trong Bộ
Luật Thương mại Nhật Bản (The Commercial Code of Japan) ban hành năm
1899, điều chỉnh hoạt động của các công ty cổ phần trong hơn 100 năm qua.
Vì lẽ đó, việc xem xét, nghiên cứu và so sánh để nhận ra những điểm hay
trong bộ luật này nhằm áp dụng vào việc xây dựng luật của Việt Nam là điều
nên làm. Đặc biệt trong thời điểm Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
mới chỉ có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 thì ta càng nên nhìn nhận nó trong tương
quan với Bộ luật Thương mại Nhật Bản để tìm ra những điểm tiến bộ mà luật
của Việt Nam đã đạt được với vị thế là người đi sau cũng như những gì cần
vật lịch sử. Ngoài ra, để phục vụ nghiên cứu đề tài, khóa luận này được viết
theo phương pháp nghiên cứu tổng hợp như phân tích, hệ thống hóa và diễn
giải. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu khóa luận cũng sử dụng phương pháp so
sánh, đối chiếu, đi sâu vào phân tích, sau đó tổng hợp lại, đồng thời nghiên
cứu lí luận kết hợp với thực tiễn.
5. Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của khoá luận gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về công ty cổ phần và pháp luật về
công ty cổ phần của Việt Nam và Nhật Bản.
8
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.
Khoá luận tốt nghiệp
Chương 2: Một số điểm khác biệt về công ty cổ phần theo Luật Doanh
nghiệp Việt Nam năm 2005 và Bộ luật Thương mại Nhật Bản sửa đổi năm
2002.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thực thi các quy định về
công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005.
9
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.
Khoá luận tốt nghiệp
CHƢƠNG 1
Khoá luận tốt nghiệp
xuất phát triển cùng với sự phổ biến ngày càng rộng rãi của các loại hình tín
dụng, các công ty cổ phần mới trỗi dậy mãnh liệt ở các nước tư bản phát triển
và các nước công nghiệp mới.
Ở Việt Nam, trước năm 1986, do thực hiện cơ chế quản lý quan liêu
bao cấp nên hình thức công ty cổ phần cũng như các loại hình công ty thương
mại khác không tồn tại. Chỉ từ khi nghị quyết đại hội Đảng VI được thông
qua (1986) trong đó nhấn mạnh đường lối đổi mới nền kinh tế nước ta sang
nền kinh tế thị trường đã thực sự là chìa khoá mở cửa cho các loại hình doanh
nghiệp phát triển. Đối với công ty cổ phần, hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại
ba loại hình được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005, đó
là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo hình thức công ty
cổ phần (bao gồm các công ty cổ phần của nước ngoài vào Việt Nam hoạt
động và các công ty của nước ngoài hoạt động ở Việt Nam được chuyển đổi
thành công ty cổ phần), công ty cổ phần mới thành lập (gồm cả công ty của
Nhà nước và công ty của các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước) và công ty cổ
phần do cổ phần hoá DNNN. Tất cả các loại hình công ty cổ phần trên mới
chỉ thực sự bắt đầu có mặt ở Việt Nam từ những năm đầu thập niên 90 của thế
kỷ trước hoặc là mới có gần đây xong đã có những đóng góp không nhỏ cho
nền kinh tế Viêt Nam. Tuy nhiên trong bài khoá luận này, tác giả xin được đề
cập sâu hơn về loại hình công ty cổ phần ra đời do cổ phần hoá DNNN-một
chủ trương lớn đã và đang dành được rất nhiều sự quan tâm của Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta trong suốt những năm vừa qua.
Quá trình cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam có thể được chia làm ba
giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn thí điểm cổ phần hoá (1992 - 1996), giai đoạn
mở rộng thí điểm cổ phần hoá (1996 - 1998) và giai đoạn thực hiện cổ phần
hoá trên diện rộng (1998 – nay). Kết quả thực hiện cổ phần hoá các DNNN
qua các giai đoạn được thể hiện qua bảng dưới đây:
6/1998 – 12/1999
340
370
2000
212
582
2001
204
786
2002
164
946
2003
318
1264
thành lập, có quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu sản xuất hàng hoá và dịch vụ trong
những lĩnh vực không quan trọng.
Để khắc phục tình trạng trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/CP
ngày 7/5/1996 về việc chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty
cổ phần và Nghị định 25/CP ngày 26/3/1997 sửa đổi một số điều của Nghị
định 28/CP. Nghị định 28/CP & 25/CP đã thể hiện một bước sự thông thoáng
trong việc cổ phần hoá DNNN như vấn đề xác định mục tiêu, đối tượng,
phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá, hình thức cổ phần
hoá, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp và người lao động. Sau khi Nghị
định 28/CP & 25/CP ra đời đã có hơn 200 doanh nghiệp ở các tỉnh, thành phố,
tổng công ty 91 đăng ký thực hiện cổ phần hoá, chiếm trên 3% tổng số
DNNN. Đến tháng 6/1998, cả nước đã chuyển được 25 DNNN thành công ty
cổ phần, cổ phần hoá bước đầu được mở rộng. Tuy nhiên trong thời kỳ này
còn tồn tại hạn chế đó là hiện tượng cổ phần hoá nội bộ- rất ít doanh nghiệp
cổ phần hoá rộng rãi ra quần chúng.
Để tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá trên diện rộng, ngày
29/6/1998 Chính phủ ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP thay cho Nghị
định 28/CP. Theo sau đó là việc chỉ trong 06 tháng cuối năm 1998 đã có 90
DNNN được cổ phần hoá, gấp hơn 3 lần so với kết quả của thời gian trước đó.
Năm 1999 được xem là một năm bội thu của công cuộc cổ phần hoá DNNN,
đã cổ phần hoá được 250 doanh nghiệp. Như vậy sau 2 năm kể từ khi Nghị
định 44/1998/NĐ-CP ra đời đã có gần 400 doanh nghiệp cổ phần hoá trong
khi 8 năm trước đó chỉ cổ phần hoá được 30 doanh nghiệp. Các đơn vị triển
khai cổ phần hoá mạnh nhất là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định,
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Công ty cổ phần có vốn điều lệ lớn
13
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.
Nguồn: Bài của tác giả Công Thắng-Báo Lâo động-ngày 9/3/2006.
14
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.
Khoá luận tốt nghiệp
nhưng tính đến tháng 8/2006 cả nước mới cổ phần hoá được 3060 doanh
2
nghiệp, tức là trong 8 tháng đầu năm nay mới chỉ có hơn 120 doanh nghiệp
được cổ phần hoá, như vậy tiến độ cổ phần hoá trong năm nay có thể coi là
tương đối chậm. Tuy nhiên ta có thể hy vọng rằng sau khi luật mới ra đời
cùng với những biện pháp phù hợp của các cơ quan chức năng tiến độ này sẽ
nhanh chóng được cải thiện.
Nhìn chung sau khi hệ thống cơ chế chính sách được ban hành đầy đủ,
tiến độ cổ phần hoá của các bộ ngành, địa phương và các tổng công ty đã thực
sự có những chuyển biến mạnh mẽ. Mặc dù tiến độ này qua các năm là
không đều nhau song chúng ta cũng vui mừng khi nhận thấy một điều rằng
tốc độ chuyển đổi sang công ty cổ phần của các DNNN ngày càng được cải
thiện và hầu hết các doanh nghiệp sau khi chuyển đổi đều đứng vững và phát
triển, quy mô vốn cũng như doanh số và thu nhập của người lao động đều
tăng khá. Hơn thế nữa, Nhà nước vừa không phải mất thêm nguồn ngân sách
vốn để bao cấp cho các doanh nghiệp quốc doanh yếu kém vừa thu về hàng
chục nghìn tỷ đồng từ bán cổ phiếu và huy động thêm hàng chục nghìn tỷ
đồng nữa trong xã hội để các công ty cổ phần đầu tư đổi mới kỹ thuật, công
nghệ và trình độ quản lý. Quá trình này đã giúp chúng ta sáng tỏ thêm nhiều
vấn đề lý luận và thực tiễn nhất là việc xác định mô hình CTCP sẽ là phổ biến
theo hình thức khác nay được chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần.
Theo số liệu thống kê thì đến 31/12/2005 có 14 doanh nghiệp nước ngoài
được đệ trình lên Chính phủ về vấn đề chuyển đổi sang hình thức hoạt động
của công ty cổ phần, trong đó có 10 doanh nghiệp đã chính thức được hoạt
động mà nổi bật hơn cả là các công ty như công ty kinh doanh quốc tế Hoàng
Gia, công ty TNHH Austnam, công ty cổ phần hữu hạn dây và cáp điện Taya,
công ty công nghiệp TNHH Tungkuang...đây đều là các doanh nghiệp làm ăn
4
có hiệu quả tại Việt Nam với số vốn góp đạt mức cao. Hy vọng rằng với sự
hoạt động hiệu quả của các công ty này và việc các công ty cổ phần của nước
ngoài vào Việt Nam hoạt động nhiều hơn trong thời gian tới khi mà Luật
Doanh nghiệp mới với nhiều chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài
được phổ biến rộng rãi, không những sẽ thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát
triển mà còn để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho các công ty cổ
phần còn non trẻ của Việt Nam.
3
4
Nguồn: Bài của TS. Nguyễn Anh Dũng-Báo Nhân dân-ngày 9/10/2006.
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài-Bộ kế hoạch và đầu tư.
16
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.
Khoá luận tốt nghiệp
Tóm lại, chặng đường kể từ khi xuất hiện và bắt đầu phát triển của tất
Khoá luận tốt nghiệp
quá trình hoạt động các thành viên công ty hoàn toàn không quan tâm đến
nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp của họ bởi vì đối
với loại hình công ty này tư cách thành viên công ty và các quyền của cổ đông
trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động
của công ty được quyết định trước hết bởi số lượng các cổ phiếu của công ty
mà người đó nắm giữ. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập, mang
tính tổ chức cao, có cấu trúc vốn phức tạp. Công ty cổ phần được quyền phát
hành chứng khoán ra công chúng. Với tính chất này, công ty cổ phần là hình
thức tổ chức đặc biệt năng động có thể sử dụng để huy động vốn thông qua
các giao dịch trên thị trường chứng khoán.
1.2.2. Một số đặc điểm của công ty cổ phần ở Việt Nam
Về hội viên:
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định thì công ty cổ phần phải
có ít nhất 3 cổ đông và không quy định số cổ đông tối đa.
Điều kiện để trở thành hội viên của công ty cổ phần (Điều 13) cũng
giống các điều kiện quy định cho các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên,
có điểm lưu ý là: cán bộ viên chức Nhà nước, các sĩ quan tại ngũ trong lực
lượng vũ trang nhân dân không được tham gia thành lập hoặc quản lý công ty
cổ phần. Họ chỉ có quyền mua cổ phiếu của công ty.
Về vốn pháp định:
Luật không quy định vốn tối thiểu với công ty cổ phần.
Về thủ tục thành lập:
Doanh nghiệp chỉ cần tiến hành đăng ký kinh doanh với cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác
của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh. Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách
nhiệm xem xét hồ sơ đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh hoặc thông báo bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do và các yêu cầu
sửa đổi, bổ sung cho doanh nghiệp biết nếu từ chối cấp.
phạm điều lệ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho công ty.
Hội đồng quản trị bầu một thành viên làm Chủ tịch. Chủ tịch Hội đồng
quản trị có thể kiêm Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty nếu điều lệ không
quy định khác. Trong trường hợp Chủ tịch hội đồng quản trị không kiêm
19
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.