Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp điện ở việt nam thực trạng và giải pháp - Pdf 39

Trường đại học ngoại thương
Khoa quản trị kinh doanh
Chuyên ngành kinh doanh quốc tế

-----  -----

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC
CÔNG NGHIỆP ĐIỆN Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Sinh viên thực hiện
Lớp

: Trần Thành Nghĩa
: Anh 3 - K44A - QTKD

Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng

Hà Nội - 2009


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................. 1
CHƢƠNG I : TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
VÀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN .............................................................. 5
I. Tổng quan về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ............................................... 5
1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài ........................................................... 5


CHƢƠNG II: THỰC TIỄN THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI

VÀO

NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN Ở VIỆT NAM .......................................... 32
I. Khái quát về ngành công nghiệp điện Việt Nam.................................... 32
1. Điểm qua về tình hình phát triển ngành công nghiệp điện Việt Nam trong
những năm gần đây........................................................................................... 32
2. Đặc điểm của ngành công nghiệp điện Việt Nam ......................................... 34
3. Khả năng phát triển các nguồn năng lượng ở Việt Nam .............................. 38
4. Những khó khăn đối với ngành công nghiệp điện Việt Nam ........................ 40

II. Thực trạng thu hút và sử dụng FDI vào ngành công nghiệp điện ở
Việt Nam ...................................................................................................... 42
1. Sơ lược về tình hình thu hút và sử dụng FDI vào Việt Nam trong 20 năm .. 42
1.1. Tình hình thu hút vốn FDI trong giai đoạn 1988 – 2008 ........................... 42
1.1.1. Tình hình thu hút vốn FDI trong giai đoạn 1988 – 2005 .................... 43
1.1.2. Tình hình thu hút vốn FDI trong giai đoạn 2005 – 2008 .................... 45
1.2. Tình hình triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh của các dự án đầu tư
nước ngoài trong giai đoạn 1988 – 2008 ......................................................... 46
1.2.1. Vốn giải ngân đầu tư nước ngoài ....................................................... 46
1.2.2. Triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh của dự án đầu tư nước
ngoài ........................................................................................................... 47
2. Tình hình thu hút và sử dụng FDI trong ngành công nghiệp điện .............. 48
2.1. Tình hình thu hút đầu tư vào lĩnh vực điện năng nói chung ...................... 49
2.1.1. Đầu tư của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ................................ 50


2.1.2. Đầu tư của nhà đầu tư ngoài EVN ..................................................... 51



2.4. Bài học rút ra từ thực tế thu hút và sử dụng FDI vào ngành điện thông
qua dự án BOT ở Vương quốc Bahrain ........................................................... 82

II. Chiến lƣợc phát triển ngành công nghiệp điện ở Việt Nam từ nay
đến năm 2020 .............................................................................................. 84
1. Một số định hướng của Chính phủ Việt Nam trong việc phát triển ngành
công nghiệp điện đến năm 2020 ........................................................................ 84
2. Chiến lược phát triển của ngành công nghiệp điện ...................................... 85

III. Giải pháp nhằm tăng cƣờng thu hút và sử dụng FDI vào ngành
điện .............................................................................................................. 86
1. Giải pháp đối với Nhà nước .......................................................................... 87
1.1. Xây dựng mô hình thị trường điện lực Việt Nam ..................................... 87
1.2. Cải cách thủ tục hành chính ..................................................................... 89
1.3. Ban hành các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư .............................. 90
1.4. Điều chỉnh Hợp đồng BOT (hoặc BOO) với chủ đầu tư ........................... 92
1.5. Lựa chọn chủ đầu tư dự án IPP thông qua đấu thầu cạnh tranh ................. 92
1.6. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án nguồn điện ................................... 93
1.7. Đảm bảo về mặt tài chính của dự án IPP .................................................. 93
1.8. Quản lý và phân bổ hợp lý các rủi ro giữa các bên ................................... 94
2. Giải pháp đối với EVN .................................................................................. 94
3. Các giải pháp khác ........................................................................................ 95
3.1. Chủ đầu tư dự án cần thực hiện tốt các thủ tục đầu tư............................... 95
3.2. Đảm bảo chất lượng về yếu tố con người ................................................. 96

KẾT LUẬN ..................................................................................................... 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

KCN

Khu chế xuất

KCX

Khu công nghiệp



Nhiệt điện

ODA

Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

TBKHH

Nhà máy tuabin khí chu trình hỗn hợp

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp điện đóng một vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế và xã
hội. Ngày nay, công nghiệp hóa đang từng bước phát triển trên cả nước. Vì vậy,
ngành công nghiệp điện cũng như điện năng ở Việt Nam đã và đang đi trước trong
việc xây dựng nhiều nhà máy nhiệt điện, thủy điện và chuẩn bị xây dựng nhà máy
điện nguyên tử nhằm cung cấp điện năng phục vụ sản xuất của các khu công nghiệp
(KCN), khu chế xuất (KCX) và sinh hoạt dân dụng,… Điều này góp phần hỗ trợ
cho sự tăng trưởng kinh tế và củng cố vị thế cạnh tranh của Việt Nam trên trường
quốc tế. Đồng thời, công nghiệp điện cũng mang lại những sản phẩm, dịch vụ tốt
hơn và thông qua đó giúp nâng cao mức sống của xã hội. Vì vậy, Việt Nam rất cần
thiết phải đầu tư phát triển ngành công nghiệp điện.
Tuy nhiên, nền kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới muốn tiếp tục tăng
trưởng một cách ấn tượng đòi hỏi nhu cầu điện phải tăng rất nhanh. Ngày
18/7/2007, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg phê duyệt
Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 – 2015 có xét đến năm 2025
(gọi tắt là Quy hoạch điện VI). Với tốc độ tăng trưởng phụ tải điện được dự báo
trong Quy hoạch điện VI thì phương án cơ sở tăng 17%/năm, nhưng phương án điều
hành có thể tăng tới 20%, thậm chí 22%/năm thì mỗi năm ngành điện phải đầu tư
khoảng 2.000 – 3.000 MW công suất điện. Đến năm 2010, tổng công suất điện trên
toàn hệ thống sẽ tăng gấp đôi so với công suất đặt hiện nay (11.200 MW)1. Với tốc
độ tăng trưởng như vậy, một mình ngành điện không thể lo xuể. Nhà đầu tư trong
và ngoài nước đầu tư theo hình thức phát triển các nhà máy điện độc lập (IPP –
Independent Power Plant) thông qua các hình thức Xây dựng – Khai thác – Chuyển
giao (BOT), hình thức Xây dựng – Sở hữu – Khai thác (BOO), liên doanh hay hình
thức đầu tư 100% vốn nước ngoài,… là sự lựa chọn tối ưu, đặc biệt phải có sự tham
gia của nhà đầu tư nước ngoài thì ngành điện mới có thể cáng nổi.
1

Khoản 1, Điều I, Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg ngày 18/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp điện ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp”
làm Khóa luận tốt nghiệp.

2

3

Tư vấn của ADB về PPP tại các nước Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS), Anand Chiplunkar, 2006, tr.5.
Đầu tư vào ngành điện không phải dễ, />
2


2. Mục tiêu nghiên cứu
Cho đến nay, số lượng các dự án IPP ngành công nghiệp điện Việt Nam chưa
nhiều và thời gian thực hiện các dự án này chưa lâu do các hình thức này hiện chưa
hấp dẫn được các nhà đầu tư. Vì thế, đề tài Khóa luận này còn khá mới mẻ, chưa
được nghiên cứu toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn. Khóa luận sẽ đề cập đến
các nội dung sau:
 Những vấn đề lý luận về Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và ngành công
nghiệp điện.
 Phản ánh thực tiễn thu hút và sử dụng vốn FDI vào ngành công nghiệp điện
ở Việt Nam.
 Đưa ra kinh nghiệm thu hút FDI vào ngành công nghiệp điện của Ấn Độ và
Bahrain, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Trong chính sách
phát triển ngành điện, cả Ấn Độ và Bahrain đều đặc biệt coi trọng việc thu
hút nguồn vốn FDI vào ngành này. Và trên thực tế, ngành điện của hai quốc
gia này đã gặt hái được nhiều thành công đáng để học hỏi.
 Sở dĩ Khóa luận chọn Ấn Độ và Bahrain bởi vì đây là hai quốc gia có những
thành công đáng kể trong việc thu hút nguồn vốn tư FDI vào ngành điện
thông qua các dự án

như BOT, BOO và các hình thức đầu tư khác.
Chƣơng III: Giải pháp nhằm thu hút và sử dụng FDI vào ngành công
nghiệp điện ở Việt Nam
Tác giả xin bày tỏ lòng cám ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của Ths.
Nguyễn Thị Thu Hằng, giảng viên trường Đại học Ngoại Thương, cùng sự giúp đỡ
tận tình của các cô chú ở Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã
nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành Khóa luận tốt
nghiệp này.
Tuy nhiên, do trình độ hiểu biết và kinh nghiệm còn hạn chế, thời gian
nghiên cứu không nhiều nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất
mong được sự đóng góp ý kiến và chỉ bảo của thầy cô, bạn bè để Khóa luận được
hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Trần Thành Nghĩa

4


CHƢƠNG I
TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
VÀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN
I. Tổng quan về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1. Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh tế đối ngoại ra đời
muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác vài ba thập kỷ, nhưng từ khi mới
xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu tư nước ngoài đã có vị trí đáng kể trong
quan hệ kinh tế quốc tế. Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của quan hệ kinh tế
quốc tế, hoạt động FDI không ngừng mở rộng và chiếm một vị trí ngày càng quan
trọng trong các quan hệ kinh tế này. Cho đến nay, FDI đã trở thành xu thế tất yếu

tư tại Việt Nam.
Như vậy, mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau về FDI, song chúng ta có
thể đưa ra một khái niệm tổng quát như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình
thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần
đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia
điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại” 8.
Nói một cách khác, FDI là một loại di chuyển vốn quốc tế dài hạn, trong đó chủ vốn
đầu tư cũng đồng thời là người tham gia trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sử
dụng đồng vốn của mình nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh
tế – xã hội nhất định. Về bản chất, đây là hình thức xuất khẩu tư bản – một hình
thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa.
2. Đặc điểm của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Tác động cơ bản nhất của các hình thức chu chuyển vốn là tăng tổng mức
đầu tư của toàn xã hội, chúng đem đến cho các quốc gia tiếp nhận phương tiện để
phát huy tỷ suất lợi nhuận về vốn cao hơn do sự khan hiếm tương đối về vốn trong
khi nguồn lao động hoặc có thể cả nguồn nguyên nhiên liệu lại khá dồi dào. Riêng
với nguồn vốn FDI, do nó được xuất phát từ chỗ là loại hình đầu tư phản ánh mục
tiêu nhằm đạt được lợi ích lâu dài của nhà đầu tư tại nước họ đầu tư vào và lợi ích
5

Trade and Foreign Direct Investment, Richard Blackhurst, Drian Otten,
/>6
Khoản 2, Điều 3, Luật Đầu tư 2005 ở Việt Nam ban hành ngày 29/11/2005.
7
Khoản 12, Điều 3, Luật Đầu tư 2005 ở Việt Nam ban hành ngày 29/11/2005.
8
Giáo trình đầu tư nước ngoài, TS. Vũ Chí Lộc, Nhà xuất bản Giáo dục, 1997, tr.13.

6



Phương hướng và biện pháp chủ yếu nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào phát triển công
nghiệp Việt Nam, Nguyễn Thị Hường, Luận án Thạc sỹ năm 1995, tr.23.

7


quản lý sử dụng vốn nhưng thông thường danh mục các dự án phải có sự thỏa thuận
với các nhà tài trợ thì ở các dự án FDI, ngoài danh mục một số ngành nghề Chính
phủ nước chủ nhà không cho phép, nhà đầu tư có thể bỏ vốn kinh doanh vào bất cứ
lĩnh vực nào mà mình ưa thích.
- Nguồn vốn FDI có tính ổn định cao. Đối với đầu tư gián tiếp, hình thức đầu
tư chủ yếu của nó là mua các tài sản tài chính, tiền lãi từ việc mua các trái khoán
còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau như tỷ giá, lãi suất ngân hàng, giá cổ phiếu.
Đó là những biến số có dao động ngắn hạn. Hơn nữa, những tài sản này lại rất dễ bị
bán do các chủ đầu tư muốn thu hồi vốn. Còn hình thức ODA thường mang tính
chính trị, quốc gia tiếp nhận phải chịu sự chi phối của quốc gia chủ đầu tư. Trong cả
hai trường hợp này, nếu như các dự án hoạt động không hiệu quả sẽ để lại gánh
nặng nợ nần cho nước tiếp nhận vốn. Ngược lại, FDI là nguồn vốn mang tính ổn
định lâu dài vì nó dựa trên những cân nhắc lợi nhuận cho dài hạn. Để có thể thu hồi
vốn đầu tư, nhà đầu tư phải tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Điều này thường không dễ thực hiện được trong một khoảng thời gian ngắn, chính
vì vậy mà nhà đầu tư không dễ gì rút lui ngay cả trong trường hợp gặp khó khăn
trong quá trình hoạt động.
- Vai trò của FDI không chỉ hạn chế trong việc làm tăng đầu tư ở nước nhận
vốn. Bởi lẽ, FDI xuất phát từ quyết định của một doanh nghiệp ở một nước nào đó
nhằm tham gia vào sản xuất quốc tế, di chuyển địa điểm hoạt động của mình đến
nước chủ nhà lựa chọn nó. Về cơ bản, FDI đem theo cả những kiến thức đặc thù cho
công ty (dưới hình thức công nghệ, kỹ năng kinh nghiệm quản lý, bí quyết tiếp thị,
kỹ thuật tiên tiến,…) mà nước chủ nhà không thể thuê hoặc mua được trên thị

TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của
Luật Việt Nam và pháp luật có liên quan.
Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài (gọi tắt là liên doanh – Joint
Venture), là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài
trên thế giới từ trước đến nay. Nó là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước
ngoài một cách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác. Khái niệm
liên doanh là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất quốc tế, hình thành từ
những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý, hệ thống tài chính, luật pháp
và bản sắc văn hóa; hoạt động trên cơ sở sự đóng góp của các bên về vốn, quản lý
lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro có thể xảy ra; hoạt

9


động của liên doanh rất rộng, gồm cả hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch
vụ, hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai.
- Đối với nước tiếp nhận đầu tư: Hình thức doanh nghiệp liên doanh với
nước ngoài giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, giúp đa dạng hóa sản phẩm, đổi
mới công nghệ, tạo ra thị trường mới và tạo cơ hội cho người lao động làm việc và
học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài. Tuy nhiên, nhược điểm của hình thức
này là mất nhiều thời gian thương thảo các vấn đề liên quan đến dự án đầu tư,
thường xuất hiện mâu thuẫn trong quản lý điều hành doanh nghiệp; đối tác nước
ngoài thường quan tâm đến lợi ích toàn cầu, vì vậy đôi lúc liên doanh phải chịu thua
thiệt vì lợi ích ở nơi khác; thay đổi nhân sự ở công ty mẹ có ảnh hưởng tới tương lai
phát triển của liên doanh.
- Đối với nhà đầu tư nước ngoài: Hình thức doanh nghiệp liên doanh với
nước ngoài giúp tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở tại;
được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lĩnh vực bị cấm hoặc hạn chế
đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; thâm nhập được những thị
trường truyền thống của nước chủ nhà; không mất thời gian và chi phí cho việc

nước tiếp nhận khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài để nâng
cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật ở các doanh nghiệp trong nước.
- Đối với nhà đầu tư nước ngoài: Hình thức này giúp chủ động trong quản lý
điều hành doanh nghiệp thực hiện được chiến lược toàn cầu của tập đoàn; triển khai
nhanh dự án đầu tư; được quyền chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu phát triển chung của tập đoàn. Tuy nhiên, chủ đầu tư phải chịu
toàn bộ rủi ro trong đầu tư; phải chi phí nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận thị
trường mới; không xâm nhập được vào những lĩnh vực có nhiều lợi nhuận thị
trường trong nước lớn, khó quan hệ với các cơ quan quản lý Nhà nước nước sở tại.
3.3. Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Hợp
đồng BCC) là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm và phân chia kết
quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không thành lập
pháp nhân mới.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được ký kết giữa đại diện có thẩm
quyền của các bên tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh, quy định rõ việc thực
hiện phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên. Đặc điểm là các bên ký kết Hợp
đồng hợp tác kinh doanh, trong quá trình kinh doanh các bên hợp doanh có thể

11


thành lập ban điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh
doanh. Phân chia kết quả kinh doanh: hình thức hợp doanh không phân phối lợi
nhuận và chia sẻ rủi ro mà phân chia kết quả kinh doanh chung theo tỷ lệ góp vốn
hoặc theo thỏa thuận giữa các bên. Các bên hợp doanh là một thực thể kinh doanh
hoạt động theo luật pháp nước sở tại chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại.
Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên hợp doanh được ghi trong Hợp đồng hợp tác
kinh doanh.
- Đối với nước tiếp nhận đầu tư: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở Hợp đồng

Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới về hình thức BOT thì “Hình thức
đầu tư BOT là hình thức nhà đầu tư tiến hành đầu tư xây dựng công trình, sau
khi hoàn thành sẽ tiến hành kinh doanh khai thác trong một thời gian nhất định
đảm bảo thu hồi được vốn và có lợi nhuận hợp lý sau đó chuyển giao không bồi
hoàn cho Nhà nước”12.
Như vậy, lợi ích của nhà đầu tư nói chung là khoản lợi nhuận họ có thể nhận
được từ việc khai thác dự án. Họ có thể nhận được một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp.
Hiện nay ở Việt Nam, ngoài hình thức BOT chính thống còn tồn tại các dạng
biến thể khác như:
 Hợp đồng BTO (Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh): là Văn bản được
ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam với nhà đầu tư
nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong,
nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam,
Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư nước ngoài quyền kinh doanh khai
thác công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi
nhuận hợp lý.
 Hợp đồng BT (Xây dựng – Chuyển giao): là Văn bản được ký kết giữa cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài để
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư
nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Chính phủ
Việt Nam cho phép nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để kinh
doanh, khai thác nhằm thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
Vốn để thực hiện dự án theo hình thức Hợp đồng BOT, BTO, BT là vốn của
riêng nhà đầu tư nước ngoài, song cũng có thể vốn của nhà đầu tư nước ngoài cộng
11

To promote infrastructure construction of China by using BOT to raise domestic funds, January 15 1997,
tr.3.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status