Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về an sinh xã hội ở việt nam hiện nay - Pdf 39

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

===£OC3G8===

vũ THỊ THÚY

VẬN DỤNG Tư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÈ AN
SINH XÃ HỘI VÀO THựC HIỆN AN SINH XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh

Ngưòi hướng dẫn khoa học
ThS. VI THỊ LẠI

HÀ NÔI - 2016



MỤC LỤC
Em xin bày tỏ lời cảmm ơn trân trọng nhất tới ThS. Vi Thị Lại đã tận tình
chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, chuyên ngành Tư tưởng Hồ
Chí Minh.
Em xin bày tỏ lòi cảm ơn tới các thày giáo, cô giáo trong trường ĐHSP Hà
Nội 2, đặc biệt là các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục Chính trị đã giảng dạy em
trong suốt thòi gian qua.
Em cũng xin bày tỏ lòi cảm ơn tới gia đình cũng như bạn bè đã tạo điều
kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Do điều kiện hoàn cảnh về thời gian cũng như kiến thức của bản thân, khóa


Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

NHCSXH

Ngân hàng chính sách xã hội

KHCN

Khoa học công nghệ

CSHT

Cơ sở hạ tầng


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam, là anh
hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Người là sự kết tinh sâu sắc
những phẩm chất và giá trị tinh thần cao cả của dân tộc Việt Nam. Trong suốt
cuộc đời của mình, Người luôn vì dân vì nước, đấu tranh không mệt mỏi cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống lý luận, bao
gồm nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú; là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và
dân tộc ta, trong đó tư tưởng của Người về an sinh xã hội chiếm một vị trí quan
trọng.

cao... Do đó, vấn đề an sinh xã hội trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, đòi hỏi
chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh
xã hội. Đe từ đó tạo tiền đề cho sự phát triển đất nước, góp phần thực hiện mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Xuất phát từ lí do trên, tôichọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Mình
về an sinh xã hôi vào thưc hiên an sinh xã hôi ở Viêt Nam hiên nay ” cho khóa
luận tốt nghiệp của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhận thức được giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội, nhiều
năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này ở nhiều cấp độ, nội
dung khác nhau và đạt nhiều kết quả như:
GS.TS Mai Ngọc Cường, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an
sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trần Hồng Lưu (2014), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã hội”, Tạp
chí Dân tộc và Thỏi đại, (10-12).
PGS.TS. Đinh Xuân Lý (chủ biên), (2003): ‘Một số chuyên đề về tư tưởng
Hồ Chí Minh”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
PGS.TS Đinh Xuân Lý, PGS.TS.Phạm Ngọc Anh (2008), Một số chuyên
7


đề về tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị, Hà Nội.
Lê Sĩ Thắng (chủ biên) (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và
chính sách xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Bùi Đình Phong (2009), “ Hồ Chí Minh với hội nhập và phát triển”. Tạp
chí Lịch sử Đảng, (3).
Viện Hồ Chí Minh (1993), Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Lao
Động, Hà Nội.
Như vậy, bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã có nhiều bài

Chí Minh về an sinh xã hội, thực trạng của việc thực hiện an sinh xã hội ở Việt
Nam; ừên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện
an sinh xã hội ở nước ta trong thời gian tới.
4.2.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được các mục đích nghiên cứu nêu trên, các nhiệm vụ cụ thể
được đặt ra:
- Làm rõ khái niệm an sinh xã hội
- Phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về an sinh xã
hôi.
- Đánh giá thực trạng của việc thực hiện an sinh xã hội ỞViệt Nam hiện
nay.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện an sinh xã hội
ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và một số phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp logic - lịch sử +
Phương pháp phân tích và tổng họp,
9


+ Phương pháp thống kê, quy nạp và diễn dịch...

6. Đóng góp của đề tài
6.1. về mặt lý luận
Khóa luận nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống những quan điểm

khác nhau, họ luôn cần phải được bảo đảm mọi mặt để phát huy đầy đủ khả năng
của mình. Mặt khác, cuộc sống của con người luôn có những khó khăn, những
biến cố rủi ro khác nhau, xuất phát từ nhu cầu chia sẻ, sự hợp sức, đoàn kết trên
tinh thần tương trợ mà những rủi ro, biến cố của các cá nhân được dàn trải trên
phạm vi rộng, giúp họ nhanh chóng vượt qua hoàn cảnh. Thông qua đó họ có điều
kiện, những năng lực cần thiết để khắc phục những bất cập xảy ra để nâng cao
chất lượng cuộc sống của chính mình đem lại sự phát triển cho xã hội và xã hội
được an sinh.
“An sinh” được nhắc đến ở đây là một từ Hán - Việt. An - trong chữ “An
toàn”, Sinh - trong chữ “Sinh sống”, an sinh có thể hiểu là “an toàn sinh sống”.
Nói một cách khái lược: xã hội an sinh là xã hội mà mọi người được an toàn sinh
sống, hay là có cuộc sống an toàn. Vì vậy, để đem lại sự an toàn cho cuộc sống và
không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người không chỉ là sự nỗ
lực của Nhà nước, xã hội mà còn là sự nỗ lực của chính bản thân mỗi thành viên
trong xã hội.
1.1.2.

a

Xã hôi

Trước hết, cuốn “Từ điển tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê (chủ biên) đã
nêu lên khái niệm xã hội: “Hình thức sở hữu chung có tổ chức của loài người
ngưòi ở một trình độ nhất định của lịch sử, xây dựng ừên cơ sở một phương thức
sản xuất nhất định: xã hội phong kiến, xã hội tư bản, xây dựng xã hội cộng sản
chủ nghĩa” [21; tr.792].


Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt thông dụng ” do Như Ý chủ biên, các tác giả
lại cho rằng: “xã hội là cộng đồng người cùng làm ăn sinh sống làm cho xã hội

khai và giản đơn nhất, hay các hoạt động với tinh thần “lá lành đùm lá rách” được
cộng đồng, gia đình, các thành viên ừong xã hội lựa chọn sử dụng. Thì các biện
pháp trong xã hội hiện đại ngày nay như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cứu trợ


xã hội.. .là những trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội cũng đã góp phần
quan trọng vào việc bảo vệ cho các tầng lớp dân cư, trước những rủi ro và tác
động bất thường của cuộc sống.
Mặc dù an sinh xã hội còn là lĩnh vực còn nhiều mới mẻ ở nước ta, song lĩnh
vực này cũng đã giành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Trước hết, theo GS. Hoàng Chí Bảo thì: An sinh xã hội là sự an toàn của
cuộc sống con người từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho sự
phát triển con người và xã hội. An sinh xã hội là những bảo đảm cho con người
tồn tại như một con ngưòi và phát triển các sức mạnh bản chất ngưòi, tức là nhân
tính trong hoạt động, ừong đói sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân
cách [1; tr.7].
- Tại hội thảo quốc tế với chủ đề: “Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam”,
ngày 22 - 8 - 2007, PGS.TS Nguyễn Hải Hữu đã đưa ra khái niệm: “An sinh xã
hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội làm
cho họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn,
bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân
khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khỏe cho
cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và
trợ giúp xã hội” [17; tr.19].
- GS. TS Mai Ngọc Cường đã đưa ra khai niệm an sinh xã hội một cách cụ
thể hơn, ông tiếp cận an sinh xã hội ở cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp để từ đó có thể
hiểu hết được bản chất của nó.
+ Theo nghĩa rộng: An sinh xã hội là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con
người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội. [8; tr.21].
+ Theo nghĩa hẹp: An sinh xã hội là sự bảo đảm thu nhập và một số điều

Mác đã rất nhiều lần khẳng định rằng, lịch sử xã hội là do con người làm
ra, là hoạt động của những con người theo đuổi mục đích của bản thân mình. Xã
hội dù dưới hình thức nào đi chăng nữa cũng đều là sản phẩm của sự tác động qua


lại giữa con người với con người. Và con người muốn tồn tại, trước hết cần phải
có ăn, có mặc, có chỗ ở. Tất cả những cái đó chỉ có được nhờ con người sản xuất
ra được tư liệu sinh hoạt của mình qua hoạt động sản xuất. Thông qua đó đã tạo ra
các sản phẩm để thỏa mãn những nhu càu sống còn của con người và của cả xã
hội. “Hành vi lịch sử đầu tiên hay phương diện cơ bản đầu tiên của hoạt động xã
hội của con người là sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu” và họ
“sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” [5; tr.40]. Bên cạnh đó, con người còn tạo
ra các giá trị tinh thần cho xã hội: những thành tựu văn hóa lớn, những công trình
kiến trúc vĩ đại được coi là các kỳ quan của thế giới... Con người tạo ra các quan
hệ xã hội, các chuẩn mực, giá trị xã hội, giữ xã hội trong ổn định tương đối. Yếu
tố thường gắn chặt và là cái để thỏa mãn những nhu cầu đó chính là lợi ích. Chính
C.Mác đã nhấn mạnh rằng, “tất cả những cái gì mà con người đấu tranh để giành
lấy, đều dính liền vói lợi ích của họ” [4; tr. 109] và “chính lợi ích là cái liên kết
các thành viên của xã hội với nhau” [4; tr. 181]. Có thể thấy rằng, cùng với nhu
cầu, lợi ích là một trong những động lực hết sức quan trọng thúc đẩy sự phát triển
của xã hội.
Mặc dù không dành riêng một tác phẩm nào đề cập tới an sinh xã hội, nhưng
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã dành sự quan tâm tói lĩnh vực đói
nghèo, thường gắn liền với cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, những người bị áp bức, bóc lột phải chịu cuộc sống cùng
cực thêm vào đó là thiên tai, chiến tranh tàn phá gây nên nhiều cảnh lầm than. Cụ
thể, trong một số tác phẩm kinh điển của mình như “Bản thảo kinh tế triết học”
(1844) của C.Mác, “Tình cảnh của giai cấp công nhân Anh” (1845) của
Ph.Ăngghen... các ông đã mô tả cặn kẽ, tỉ mỉ và xã thực tình cảnh đói nghèo của
những người vô sản. Chế độ bóc lột tàn bạo trong xã hội tư bản đã dẫn đến sự

Trong các tác phẩm của mình, Hồ Chí Minh chưa một lần dành riêng một
bài viết hay một bài phát biểu để bàn riêng về vấn đề này. Tuy nhiên, nếu hiểu
theo định nghĩa về an sinh xã hội được nêu ở trên thì hầu hết trong các bài nói, bài
viết và hành động của Người đều thấm đượm tư tưởng vì cuộc sống tự do, ấm no,
hạnh phúc của dân. Chính vì vậy, tư tưởng dân sinh ở Ngưòi chính là khái niệm
an sinh xã hội mà ngày nay chúng ta hay nói tới. Tư tưởng đó ở Người được nâng


lên tầm triết lý cho cuộc sống hạnh phúc của nhân dân. Triết lý đó ở Hồ Chí Minh
được toát ra, thể hiện sinh động từ toàn bộ cuộc đời đấu tranh cách mạng không
mệt mỏi và từ cuộc sống hàng ngày rất đỗi đời thường của Người. Đó chính là sự
kết tinh cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân, ngưòi
anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Như vậy, ta có thể thấy
rằng khái niệm dân sinh ở đây cùng nghĩa với khái niệm an sinh xã hội.
Xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước, bản thân Hồ Chí Minh
cũng đã từng theo học đạo Nho, tư tưởng nhân nghĩa của đạo Nho đã in đậm dấu
ấn ừong tâm khảm của Người, trở thành một bộ phận cấu thành của quan điểm
dân sinh, triết lý nhân sinh, chủ nghĩa nhân đạo và tư tưởng nhân văn ở Người.
Song, khác với nhiều nhà Nho đưomg thời, với thực tiễn cuộc sống đầy biến động
mà Người từng ừải qua ừong những năm tháng tìm kiếm con đường cứu nước,
giải phóng dân tộc, bằng thực tiễn hoạt động cách mạng, với một trí tuệ anh minh
và tầm nhìn xa, trông rộng, Người đã sớm khắc phục, chế ngự tính hẹp hòi, thiển
cận của cái nhìn dân tộc để đi đến một quan niệm mới về tình hữu ái giai cấp,
hướng tới giá trị nhân văn phổ quát.
Thấu hiểu hơn ai hết những giáo lý của đạo Phật, những chủ trương “từ bi,
hỉ xả, cứu khổ cứu nạn”, “cứu nhân độ thế”, song với Hồ Chí Minh, những giáo lý
đó, những chủ trương ấy chỉ được coi là hữu ích khi chúng được sử dụng vào mục
đích dân sinh, an sinh xã hội, “cứu chúng sinh ra khoải khổ nạn” và nhất là vào
mục tiêu giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc, “đưa giống nòi ra khỏi ải
nô lệ”.

Đảng và chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt
Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi [14; tr.572].
Từ góc độ này có thể nói, Hồ Chí Minh đã xem dân sinh là vấn đề quan
trọng hàng đầu của mỗi quốc gia, là vấn đề cốt lõi trong đường lối của Đảng và


chính sách của Nhà nước. Hồ Chí Minh đã lấy chủ nghĩa dân sinh để giải thích
chủ nghĩa xã hội. Khi ừả lời câu hỏi “chủ nghĩa xã hội là gì?”, Hồ Chí Minh đã
đưa ra quan niệm sâu sắc và khoa học nhưng lại rất giản dị và gần gũi như những
lẽ phải thông thường mà ai cũng có thể hiểu và cảm nhận được.Với Người, “xã
hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ
nghĩa xã hội” [11; tr.591]. Người cho rằng, chủ nghĩa xã hội là “mọi người được
ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do” [13; tr.395], ai cũng được “hạnh phúc và học
hành tiến bộ”, chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh” [13; tr.226].
Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội trước
hết là một xã hội vì con người và ở đó an sinh xã hội được thực hiện và bảo đảm
bền vững, các chính sách an sinh xã hội thực hiện được chức năng phòng ngừa,
hạn chế, khắc phục những rủi ro, bảo đảm an toàn cho cuộc sống của mỗi thanh
viên ừong xã hội. Cũng chính từ quan điểm dân sinh, triết lý nhân sinh đó đã tạo
nên ở Người niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của công cuộc xây dựng CNXH
trên đất nước Việt Nam chúng ta.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã đón nhận ở chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng nhân
văn sâu sắc nhất, chủ nghĩa nhận đạo cao cả nhất không phải theo lối “tầm
chưorng trích cú”, áp dụng nguyên xi, rập khuôn giáo điều. Người tiếp thu ở đó tư
tưởng nhân đạo nhất về con người, tư tưởng vì cuộc sống hiện thực của con
người, cuộc sống mà ở đó an ninh của con người được đảm bảo, do vây an sinh xã
hội của cả cộng đồng được thực hiện bền vững; tư tưởng vì tự do, dân chủ, hạnh
phúc và tiến bộ thực sự. Với tư tưởng đó, quan điểm dân sinh và triết lý nhân sinh
ở Hồ Chí Minh đã trở thành triết lý vì cuộc sống ngày một cao đẹp cho mỗi con
người và cho cả cộng đồng xã hội mà hành động, vì an ninh con người, vì an sinh

nước chân chính đến chủ nghĩa Mác - Lênin, Người chủ trương làm cách mạng để
giành độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Một trong những điểm sâu
sắc và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ, giá trị và ý nghĩa thực sự
của độc lập tự do phải được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày của người dân.
Họ phải có cơm ăn, áo mặc, phải được học hành, được sống cuộc sống sung
sướng hạnh phúc. Người quan niệm, chủ nghĩa xã hội là xa lạ với đói nghèo, bần
cùng, lạc hậu. Chủ nghĩa xã hội phải chứng minh được bản chất ưu việt của mình


ở chỗ đem lại ngày càng nhiều, ngày càng tốt hơn những lợi ích thiết thân cho dân
chúng, thỏa mãn ngày càng đầy đủ những nhu càu hợp lý và chính đáng cho sự
phát triển toàn diện của con người. Nếu như ở chủ nghĩa tư bản, Mác đã chỉ rõ ở
đó có sự bóc lột thậm tệ của giai cấp tư sản đối với người công nhân, đưa người
công nhân đến vô sản, đến bần cùng, cùng cực và đói nghèo nên đã tạo ra mâu
thuẫn đối kháng để tiêu diệt chủ nghĩa tư bản và tạo ra một xã hội mới chủ nghĩa
xã hội tươi đẹp hơn. Ở chủ nghĩa xã hội, đói nghèo sẽ từng bước được xóa bỏ, dần
dần đưa đến ấm no và hạnh phúc cho mọi người. Do vậy, để có chủ nghĩa xã hội,
một trong những nhiệm vụ quan trọng chính là tiêu diệt đói nghèo. Xóa đói, giảm
nghèo vừa là một đòi hỏi tất yếu khách quan, vừa là một đòi hỏi tự thân và cấp
bách cho sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội.
Càng học tập tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta càng hiểu sâu
sắc và nhận thức thấu đáo sự vĩ đại ừong tư tưởng của Người. Nói đến giặc chúng
ta ai cũng nghĩ đó phải là kẻ thù hữu hình, có quan đội, có lực lượng chống phá,
xâm lược chúng ta, mà ít ai có nghĩ đến những thứ giặc vô hình, không có chiến
trường, không có súng đạn như: giặc đói, giặc dốt. Ngay sau khi Cách mạng tháng
Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lập tức tuyên bố giặc đói, giặc dốt là
đồng minh của giặc ngoại xâm. Nói đến giặc ngoại xâm có lẽ mọi người đều nhận
thức được nhiệm vụ quan trọng đó là phải tiêu diệt và đánh đuổi chúng ra khỏi bờ
cõi của đất nước mình. Vậy còn giặc đói, nghèo thì sao? Trong cuộc sống có lẽ
còn nhiều người thấy đói nghèo là khổ là vất vả, nhưng chưa nhận thức một cách

tr.512]. Trong một đất nước mà người dân còn nghèo, có người còn sống trong
cảnh bữa được, bữa mất, bữa đói, bữa no thì ở đó xã hội còn chưa yên. Xóa đói
giảm nghèo là một nhiệm đặc biệt quan trọng đối với mỗi nước khi đặt mục tiêu
phát triển bền vững. Ở đâu còn bất công, còn đói nghèo thì ở đó chưa thể có sự
phát triển. Đói nghèo sẽ làm cho các thành quả đạt được trở nên thiếu bền vững và
vói thời gian nó tàn phá và làm hỏng đi những thành quả đó. Đói nghèo làm cho
con người khó có khả năng để thực hiện được những hoài bão to lớn. Đói nghèo


sẽ làm mất đi hạnh phúc cần có của người dân. Mục tiêu của cách mạng là vì dân,
do vậy không thể có lý do nào để biện giải cho việc để người dân phải sống trong
cảnh đói nghèo. Chính vì lẽ đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu: “Phải đem hết
sức dân, tài dân, của dân làm cho dân” [13; tr.75] và “Chính sách của Đảng và
Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân”... “Dân đủ ăn,
đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện.
Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực
hiện được” [14; tr.518].
Điều mới mẻ trong tư tưởng của Người về XĐGN đó là, đi kèm với tăng gia
sản xuất phải thực hành tiết kiệm, có vậy đảm bảo chắc chắn lâu dài công cuộc
xóa đói. Đen nay tư tưởng này vẫn còn giữ nguyên giá trị, hiện nay chúng ta hình
thành quý XĐGN, giúp người đói nghèo là áp dụng những trường họp cụ thể với
một bộ phận dân cư đặc biệt. Đó là những biện pháp tình thế hất thời mang tính
nhân đạo, còn về lâu dài, phải hướng dẫn họ cách thức làm ăn, trợ giúp về vốn, kỹ
thuật... để họ tự vươn lên thoát nghèo, cho họ cần câu mới là biện pháp lâu dài bởi
chỉ có phát triển sản xuất mới có thể XĐGN một cách hiệu quả. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đánh giá cao sức mạnh của dân, Người yêu cầu: đem tài dân, sức dân mà
giải phóng cho dân. Theo Người, XĐGN là “Làm cho người nghèo thì đủ ăn,
người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu thêm” [14; tr.518].
Vậy là mọi thành viên trong xã hội không ngừng phấn đấu vươn lên vượt
qua cửa ải đói nghèo, Ngưòi quan niệm xã hội mà chúng ta xây dựng là “dân giàu,

(đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và chuẩn bị về lý thuyết và tổ chức cho phong
trào công nhân, thành lập các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam, Người đã thể hiện ý
tưởng này trong cuốn sách "Đường Kách Mệnh" được xuất bản đàu năm 1927:
"Lại có bất thường phí như để dành lúc bãi công hoặc giúp những hội khác bãi
công, hoặc giúp đỡ những người mất việc làm, khi ốm đau, tai nạn, hoặc làm
những việc công ích v.v. Nếu hội không có tiền thì làm không được" [16; tr.437].
Người còn nêu: "Tổ chức Công hội trước hết là để cho công nhân đi lại vói nhau
cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt
của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân,
năm là giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới” [16; tr.437]. Những nội dung đó,
Người luôn được quán triệt trong các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cho Cách


mạng Việt nam trong những năm 1925 - 1927 tại Quảng Châu (Trung Quốc). Đến
năm 1929, chính thức đưa vào Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương: "Tổ
chức tất cả vô sản giai cấp vào công hội thực hành bảo hiểm cho thợ thuyền; giúp
đỡ thợ thuyền thất nghiệp". Năm 1941 thể hiện trong chính sách của Việt Minh:
"Đối vơí công nhân, ngày làm việc tám giờ, định tiền lương tối thiểu; cứu tế thất
nghiệp; xã hội bảo hiểm; thủ tiêu các giấy giao kèo nô lệ, lập các giấy giao kèo
giữa chủ và thợ, công nhân già có lương hưu trí..." [11; tr.421-422].
Từ sự thể hiện những ý tưởng khởi đàu thực hiện BHXH của Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã tạo thành một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ vào các phong
trào công nhân, góp phàn thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, mặc dù nền kinh tế hết
sức khó khăn, nhưng Chính phủ ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây
dựng và ban hành các quy định thực hiện BHXH: Ngày 3/11/1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh thay mặt chính phủ ký sắc lệnh số 54- SL, ngày 14/6/1946 ký sắc lệnh
số 105- SL ấn định những điều kiện cho công chức về hưu. Từ năm 1947 - 1950,
đất nước ừong giai đoạn chống thực dân Pháp quyết liệt, nhưng Chủ tịch Hồ Chí
Minh vẫn tiếp tục ký ban hành các sắc lệnh quy định thực hiện chế độ hưu trí cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status