TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH mối QUAN hệ GIỮA HAI NHIỆM vụ xây DỰNG và bảo vệ VỮNG CHẮC tổ QUỐC VIỆT NAM xã hội CHỦ NGHĨA THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT đại hội XI - Pdf 39

MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG
VÀ BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XHCN THEO TINH
THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ XI

Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong tình hình hiện
nay, khi chủ nghĩa xã hội hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào, chủ nghĩa đế
quốc và bọn phản động quốc tế nhân cơ hội đó thực hiện nhiều âm mưu, thủ
đoạn tấn công quyết liệt vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại; đối với Việt
Nam, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà
bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyên”
hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta, do đó vấn đề bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa đặt ra hết sức cấp thiết cả về phương diện lý luận và phương
diện thực tiễn.
Tổ quốc là một ý niệm đã từng xuất hiện rất sớm trong lịch sử nhân
loại. Đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau về Tổ quốc. Theo từ điển Bách
khoa, Tổ quốc là một tổng thể các yếu tố, ngoài những yếu tố đất nước, con
người còn có yếu tố chính trị, xã hội. Với cách tiếp cận trên, Tổ quốc là một
phạm trù lịch sử dùng để chỉ một vùng lãnh thổ mà trên đó nhân dân sống và
lao động trong một môi trường chính trị - xã hội và văn hoá nhất định.
Như vậy, Tổ quốc một mặt có yếu tố vĩnh hằng, đó là nơi chôn nhau cắt
rốn của mọi người dân, cội nguồn của mỗi cộng đồng dân cư cùng chung sống


2

lâu đời, quyết định lòng yêu quê hương đất nước của mọi người, mọi thế hệ.
Mặt khác, Tổ quốc không phải là một khái niệm trừu tượng, nhất thành bất biến
mà là một phạm trù mang tính lịch sử. Tổ quốc luôn tồn tại trong mối quan hệ
giữa hai phương diện: tự nhiên và xã hội. Tổ quốc được nghiên cứu như một
thực thể thống nhất biện chứng của nhiều yếu tố, đất nước, con người với các

triển của Tổ quốc. Tổ quốc của giai cấp nào thì phục vụ lợi ích của giai cấp
đó, không có Tổ quốc chung cho mọi giai cấp nếu như các giai cấp đó không
có sự thống nhất về lợi ích.
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một loại hình Tổ quốc mà trong đó giai cấp
công nhân và nhân dân lao động đã thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa. Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa ra đời gắn liền với thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa,
là thành quả cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là loại hình Tổ quốc khác về chất so với loại
hình Tổ quốc của giai cấp thống trị bóc lột trong lịch sử. Trong chế độ tư bản,
vận mệnh của Tổ quốc do giai cấp tư sản định đoạt, thậm chí giai cấp tư sản
còn lợi dụng lòng yêu Tổ quốc, kích động lòng tự hào dân tộc, đẩy giai cấp
công nhân và nhân dân lao động nước mình vào cuộc chiến tranh phi nghĩa
thôn tính các dân tộc nhỏ, yếu, kém phát triển. Trong chế độ tư bản, ở giai cấp
1
2

C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t. 4, tr 623
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Sự thật, H,1963, t. 21, tr197


4

công nhân và nhân dân lao động, lòng yêu nước kết hợp với lòng yêu giai cấp
đã kích thích tinh thần đấu tranh chống lại chế độ đang áp bức bóc lột họ.
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, với tư cách là người chủ xã hội, đồng thời là
người chủ Tổ quốc, giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản, với Nhà nước của mình tiến hành xây dựng Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đó. Đối với giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, Tổ quốc chân chính gắn liền làm một với chế độ xã
hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cơ sở kinh tế của Tổ quốc xã hội

quyền quốc gia, chống chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa đế quốc.
Nhiệm vụ chủ yếu của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức và xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Song, do tính chất sâu sắc và triệt để của
cách mạng xã hội chủ nghĩa, (xóa bỏ tận gốc chế độ người bóc lột người, xây
dựng một chế độ xã hội không có áp bức bóc lột) vì vậy, chủ nghĩa xã hội gặp
phải sự phản kháng điên cuồng và quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc và tất cả
các giai cấp bóc lột.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
là quy luật khách quan của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nắm vững bản chất
qui luật ra đời, tồn tại và phát triển của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã đưa ra những quan điểm khoa học nền tảng về bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa. Khi chủ nghĩa tư bản đang trong giai đoạn phát triển tương


6

đối hòa bình, chủ nghĩa xã hội chưa trở thành hiện thực, vấn đề cách mạng vô
sản chưa được đặt ra một cách trực tiếp, cho nên hai ông chưa đưa ra quan
điểm về bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, sau thực tiễn công xã Pa ri, hai ông cho
rằng, nhiệm vụ của giai cấp công nhân là phải đấu tranh “tự mình phải trở
thành dân tộc”, thiết lập Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tiến hành công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ mọi thành quả cách mạng, đẩy lùi sự tấn công
của bọn phản cách mạng. Trong thư gửi “Đồng minh những người cộng sản”,
C.Mác chỉ ra: Ngay từ giờ phút đầu, sau khi giành được thắng lợi, công nhân
phải được vũ trang và có tổ chức; cần phải lập tức trang bị súng trường, các
bin, đại bác và đạn dược cho toàn thể giai cấp công nhân để bảo vệ cách mạng.
Chừng nào kẻ thù còn tìm mọi cách bóp chết cách mạng thì giai cấp công nhân
không thể bỏ vũ khí được.
V.I.Lênin là người có công lao to lớn phát triển học thuyết bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển tương đối

quốc xã hội chủ nghĩa, trong quá trình cùng toàn Đảng lãnh đạo sự nghiệp
cách mạng nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: bảo vệ Tổ quốc là một
vấn đề tất yếu của cách mạng Việt Nam, và muốn bảo vệ được Tổ quốc thì
phải huy động sức mạnh của cả dân tộc.

1

V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. 1978, t. 37, tr. 145.
V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. 1978, t. 36, tr. 102.
3
V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. 1978, t. 44, tr. 368-369.
2


8

Tính tất yếu của bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa còn xuất phát từ bản
chất phản động, hiếu chiến xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản
động trong và ngoài nước. Chúng cấu kết với nhau ra sức dùng mọi thủ đoạn
tinh vi, xảo quyệt chống phá cách mạng, nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội, khôi
phục lại địa vị đã mất. Sự thật lịch sử đã chứng minh rằng, từ khi chủ nghĩa xã
hội hiện thực xuất hiện, các nước xã hội chủ nghĩa đã phải thường xuyên đối
phó với những âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch: Liên
Xô trong những năm nội chiến (1918-1920), trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ
đại (1941-1945), cuộc chiến tranh Triều Tiên, các cuộc bạo loạn phản cách
mạng để lật đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa Hunggari, Tiệp Khắc, Ba Lan, cuộc
tiến công xâm lược hòn đảo tự do Cuba; ở nước ta, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
được đặt ra ngay sau cuộc cách mạng Tháng Tám, khi nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa vừa mới ra đời; để bảo vệ thành quả cách mạng, chúng ta đã phải tiến
hành hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm

lật đổ của các thế lực thù địch thì chủ nghĩa xã hội không thể đứng vững, Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa không thể tồn tại được.
Điều kiện bảo đảm thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa là: Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc, nâng cao giác ngộ chính trị cho nhân dân; đẩy mạnh sự
nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao tiềm lực toàn


10

diện của đất nước, nhất là tiềm lực kinh tế; xây dựng nền quốc phòng toàn
dân và an ninh nhân dân vững mạnh, kết hợp kinh tế với quốc phòng và an
ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Đối với Việt nam chúng ta, do ở vào vị trí địa lý, chính trị, kinh tế,
quân sự quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, do vậy nhiều nước đã quan
tâm đến việc lôi kéo, khuất phục nước ta để tìm cách khống chế khu vực này.
Họ đã và đang có những điều chỉnh chính sách đối với Việt Nam nhằm thực
hiện ý đồ chính trị của mình. Các thế lực thù địch đang tìm cách tranh thủ, lôi
kéo, chia rẽ các nước láng giềng với ta.
Bên cạnh đó, Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến
hết sức phức tạp với những biến động bất trắc khó lường, tiềm ẩn cả những
thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ, tích cực và tiêu cực đối với sự phát
triển của mỗi quốc gia dân tộc. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại
có bước tiến nhảy vọt tác động đến mọi quốc gia và các quan hệ quốc tế trong
thế giới đương đại. Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế tất yếu tác động đến tất
cả các quốc gia với cả thời cơ và nguy cơ, tích cực và tiêu cực. Bên cạnh xu
thế hòa bình, hợp tác và phát triển thì cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân
tộc vẫn diễn ra gay gắt, quyết liệt. Xung đột giữa các dân tộc, sắc tộc; chạy
đua vũ trang, chiến tranh cục bộ, khủng bố, bạo loạn lật đổ vẫn là mối đe dọa



12

cờ, hình thành các tổ chức đảng phái đối lập, từng bước chống phá ta. Thông
qua các chương trình viện trợ, đầu tư có chủ định, hợp tác thương mại… để
gây sức ép với ta, thúc đẩy nhanh quá trình tự do hóa, tư nhân hóa nền kinh
tế, thông qua kinh tế để chuyển hóa chính trị... Vì vậy, bảo vệ Tổ quốc không
chỉ chống giặc ngoại xâm mà còn chống cả "thù trong" và những nguy cơ nội
sinh; không chỉ chống các loại hình chiến tranh xâm lược vũ trang mà còn
chống cả các loại hình chiến tranh xâm lược phi vũ trang; không chỉ nhằm
chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
mà còn duy trì, phát triển cục diện hòa bình và ổn định chính trị - xã hội của
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trước tình hình thế giới, khu vực và trong nước như vậy, Đảng ta càng
ý thức sâu sắc sự gắn bó mật thiết giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc
XHCN. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm
1991 chỉ rõ: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng
đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác,
củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ
quốc và các thành quả cách mạng” 1. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành
Trung ương khóa IX của Đảng ra Nghị quyết chuyên đề về “Chiến lược bảo
vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, tiếp tục khẳng định quan điểm kết hợp chặt
chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa.
1

Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb


triển của Đảng ta về sự kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh,
quốc phòng - an ninh với kinh tế trong thời kỳ mới.
Phải nói rằng, quan điểm về mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo
vệ Tổ quốc XHCN được thể hiện trong hai văn kiện nêu trên tại Đại hội XI
của Đảng có ý nghĩa quan trọng, xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.
Xét về mặt lý luận và thực tiễn, chúng ta thấy đây không phải là chủ trương
hoàn toàn mới của Đảng, tức là không phải bây giờ mới được xác định; trái
lại, nó đã được nêu trong nhiều văn kiện, nghị quyết, chỉ thị quan trọng của
Đảng qua các kỳ đại hội. Quan điểm đó bắt nguồn từ tư tưởng nhất quán của
Tổ tiên ta: Dựng nước phải đi đôi với giữ nước; được kiểm nghiệm, khẳng
định qua thực tiễn lịch sử hàng nghìn năm và trở thành quy luật trường tồn,
phát triển của dân tộc ta. Sự thông tuệ của Đảng ta được thể hiện ở chỗ không
chỉ nắm vững, mà còn vận dụng sáng tạo quy luật đó vào thực tiễn để hoàn
thành mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ. Trong kháng chiến
chống thực dân Pháp, khi nhiệm vụ chống xâm lược được đặt lên hàng đầu,
Đảng ta đã thực hiện đường lối "vừa kháng chiến, vừa kiến quốc". Trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xuất phát từ điều kiện cụ thể và tính chất
nhiệm vụ ở mỗi miền khác nhau, Đảng ta đã thực hiện hai chiến lược cách
mạng ở hai miền Nam - Bắc: cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng
dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam. Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cả nước tiến lên CNXH đến nay, Đảng ta
chủ trương tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược; trong đó, đặt trọng tâm vào
nhiệm vụ xây dựng XHCN, đồng thời coi trọng đúng mức nhiệm vụ bảo vệ


15

Tổ quốc XHCN. Như vậy, có thể thấy rõ sự sáng tạo của Đảng trong việc vận
dụng quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” phù hợp với thực tiễn cách
mạng, mà biểu hiện tập trung là hoạch định đường lối. Nhờ có đường lối

đồng và toàn xã hội, tăng cường sự cố kết nhà - làng - nước trong thời đại
mới, do đó nó cho phép huy động được sức mạnh của toàn dân trong sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Trong khi đề cao ảnh hưởng tích cực của ổn định, phát triển kinh tế - xã
hội đối với quốc phòng an ninh, Đảng ta không hề coi nhẹ vai trò của quốc
phòng - an ninh. Chính vì vậy, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2011 - 2020, Đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định quan điểm: “Phải đặc
biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc phòng, an
ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững”. Bởi vì sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh tình
hình quốc tế đang biến đổi nhanh chóng và phức tạp. Trong thời gian tới, trên
thế giới xu hướng hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là chủ đạo, hợp tác kinh tế
toàn cầu với nội dung cơ bản là thúc đẩy tự do hóa thương mại, đầu tư, dịch
vụ vẫn tiếp tục được đẩy mạnh. Tuy nhiên, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực
phản động vẫn không từ bỏ tham vọng bá quyền, trắng trợn can thiệp vào
công việc nội bộ của các quốc gia có chủ quyền, chủ nghĩa khủng bố vẫn


17

đang tồn tại, do vậy nguy cơ xảy ra chiến tranh cục bộ trên quy mô lớn chưa
bị loại trừ.
Để tăng cường mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế với quốc phòng an ninh, Đảng ta kiên định thực hiện “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc
phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn”.
Đây là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Theo đó, các bộ ngành, địa phương phải
quán triệt và xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội kết hợp
với quốc phòng - an ninh theo chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, ngành và địa

XI đã chỉ rõ phải “Phát triển mạnh kinh tế đảo, khai thác hải sản xa bờ gắn
với tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và giữ vững chủ quyền vùng biển quốc gia”.
Điều đó sẽ cho phép tổ chức, phối hợp chặt chẽ hơn giữa lực lượng quần
chúng nhân dân với các lực lượng vũ trang trong tham gia quản lý, đấu tranh
bảo vệ chủ quyền biển, đảo, sẵn sàng ứng phó với mọi bất trắc về thiên tai,
địch họa, góp phần đẩy lùi, ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, hành động xâm
phạm chủ quyền, bảo vệ lợi ích kinh tế biển, đảo của ta.
Sự kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh còn được thể hiện ở việc
bảo đảm nguồn lực cho hoạt động quốc phòng - an ninh. Trong Chiến lược


19

phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, được thông qua tại Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI vấn đề này được đề cập trong chủ trương “Mở rộng phương
thức huy động nguồn lực xây dựng công nghiệp quốc phòng”. Chúng ta cần
nhận thức rằng, phát triển công nghiệp quốc phòng và khoa học kỹ thuật quân
sự là một nhiệm vụ hết sức cần thiết để giữ vững độc lập, tự chủ và bảo vệ
vững chắc Tổ quốc. Bởi vì chúng ta có thể lường trước là, khi xảy ra những
bất đồng về chính trị, xung đột vũ trang thì các lực lượng thù địch sẽ dùng thủ
đoạn cô lập ta về nhiều mặt, trong đó có cấm vận về vũ khí. Do đó, tự sản
xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự nhằm đáp ứng yêu cầu tác chiến trong
chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là một trong những công việc hết sức trọng yếu
trong xây dựng tiềm lực quân sự của đất nước hiện nay. Muốn vậy, Nhà nước
phải chú trọng đầu tư để hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng, khuyến kích
phát triển những ngành công nghiệp lưỡng dụng, khi thời bình tập trung sản
xuất phục vụ dân sinh, nhưng khi chiến tranh xảy ra thì có thể chuyển nhanh
sang sản xuất phục vụ nhu cầu quốc phòng. Điều đó đưa tới yêu cầu Nhà
nước phải có chế tài và kế hoạch huy động các nguồn lực tài chính, nhân lực,
cũng như khoa học, kỹ thuật, công nghệ ... của đất nước vào xây dựng công

chiến đấu cao, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng
khắp”. Phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân trên đây thể hiện việc xử
lý một cách tài tình của Đảng ta về “bài toán” số lượng và chất lượng của lực


21

lượng vũ trang nhằm bảo đảm cho Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đủ
sức làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nhưng đồng
thời bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực của đất nước để tạo điều
kiện tốt nhất cho kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
Theo tinh thần Đại hội XI, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, tạo thành một thể
thống nhất, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Bản chất của mối quan hệ này
là sự gắn bó mật thiết giữa xây dựng và bảo vệ, trong xây dựng có bảo vệ,
trong bảo vệ có xây dựng. Đảng ta đặt lên hàng đầu “sự ổn định và phát triển
bền vững mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội là nền tảng vững chắc của quốc
phòng - an ninh”, nhưng lại xác định “tăng cường quốc phòng, giữ vững an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của
Đảng, Nhà nước và toàn dân”1. Quan điểm này cần được hiểu, đời sống kinh
tế-xã hội là gốc của quốc phòng-an ninh; xây dựng kinh tế-xã hội là một
phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc. Gốc này có vững chắc thì quốc
phòng-an ninh mới vững. Biểu hiện của vững chắc là ổn định và phát triển.
Mà muốn ổn định và phát triển, trong ổn định và phát triển cần có bảo vệ. Mặt
hoạt động này là điều kiện của hoạt động kia và ngược lại. Bởi vì xây dựng và
bảo vệ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là cuộc đấu tranh giữa cái
mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu. Bảo vệ không chỉ là phòng ngừa hay
chống lại, đánh trả. Chúng ta xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, hiện
đại, tinh nhuệ là để phòng ngừa, không phải răn đe; để sẵn sàng chiến đấu bảo




23

Hai là; phải kết hợp chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng
trời, vùng biển mà còn là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà
nước, nhân dân; bảo vệ kinh tế, văn hóa dân tộc, sự nghiệp đổi mới, lợi ích
quốc gia, dân tộc. Bảo vệ an ninh quốc gia không chỉ an ninh chính trị mà còn
là an ninh kinh tế, an ninh văn hóa, an ninh tư tưởng, an ninh xã hội. Trong
thời kỳ mới, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc không chỉ đối
phó hành động vũ trang xâm lược từ bên ngoài mà còn đặc biệt coi trọng việc
xây dựng và giữ vững bên trong, đối phó những thủ đoạn phi vũ trang của kẻ
địch. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không chỉ là riêng sức mạnh của lực lượng vũ
trang mà là sức mạnh tổng hợp của quốc gia và chế độ, lấy sức mạnh chính
trị, tinh thần, kinh tế, khoa học công nghệ của đất nước làm cơ sở để kết hợp
và phát huy sức mạnh thời đại vào sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ
quốc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Vì thế, điều quyết định cho sự bền vững của độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, bảo đảm cho đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa phải kết hợp chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Bởi lẽ, sự ổn định và phát triển mọi mặt của đời sống xã hội sẽ bảo
đảm cho sự phát triển bền vững của mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh, đồng thời là nền tảng của quốc phòng - an
ninh. Không có quốc phòng, an ninh mạnh, không có trật tự an toàn xã hội thì
không thể có ổn định chính trị - xã hội và càng không thể đối phó thắng lợi


24


làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định,
phát triển của đất nước”1. Chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu
cực khác chính là nhằm bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Xây cái tốt, đẩy lùi cái xấu theo tinh thần “phò chính trừ tà” là điều kiện vững
chắc cho bảo vệ. Như vậy bảo vệ là một bộ phận hợp thành của xây dựng.
Càng xây dựng tốt bao nhiêu, càng có điều kiện bảo vệ tốt bấy nhiêu. Xây
dựng chính là tự bảo vệ ngược lại bảo vệ tốt lại tạo điều kiện để xây dựng tốt.
Một nấc thang của xây dựng gắn chặt với một nấc thang của bảo vệ một nấc
thang của bảo vệ lại tạo ra một thành quả của xây dựng, vì bảo vệ trong tiến
trình xây dựng.
Bốn là; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong thực hiện
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam XHCN.
Mối quan hệ chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ còn được thể hiện ở lực
lượng xây dựng cũng là lực lượng bảo vệ và lực lượng bảo vệ cũng là lực
lượng xây dựng, tức là toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị. Xây dựng
không chỉ là việc riêng của kinh tế-xã hội, của dân sự mà cũng là câu chuyện
của quốc phòng-an ninh. Củng cố quốc phòng-an ninh không phải chỉ là việc
riêng của quốc phòng, của bảo vệ mà còn nhằm phục vụ cho phát triển kinh
tế-xã hội, theo yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội.
Sự kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh
mới của tình hình khu vực và thế giới, trước yêu cầu, nhiệm vụ của cách
mạng nước ta trong giai đoạn mới được Đảng ta xác định trong từng chiến

1

ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tr.173.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status