TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
-------***------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Sinh viên thực hiện
: Hoàng Thị Thái
Lớp
: Anh 15
Khoá
: 44D
Giáo viên hƣớng dẫn
: PGS.TS. Vũ Chí Lộc
Hà Nội, tháng 05/2009
báo cáo năng lực cạnh tranh của WEF) ............................................................. 33
2.2.1 Hành lang luật pháp .............................................................................. 35
2.2.2 Môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng ............................................... 37
2.2.3 Nguồn lực tự nhiên, văn hoá và nhân lực .............................................. 39
2.3 Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam .............. 40
2.3.1 Về giá sản phẩm dịch vụ ....................................................................... 40
2.3.2 Về chất lượng sản phẩm và dịch vụ. ...................................................... 43
2.3.3 Về Marketing, quảng cáo ...................................................................... 47
2.3.4 Về nhân lực ........................................................................................... 49
2.3.5 Về vị thế tài chính, năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp ............. 52
2.4 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành Việt
Nam ................................................................................................................... 53
2.4.1 Điểm mạnh ........................................................................................... 53
2.4.2 Điểm yếu .............................................................................................. 54
2.4.3 Thời cơ ................................................................................................. 55
2.4.4 Thách thức ............................................................................................ 57
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH VIỆT NAM TRONG BỐI
CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ ............................................................... 60
3.1 Đị nh hướng phát triển du lị ch Việt Nam đến năm 2020................................ 60
3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành Việt Nam
trong điều kiện hội nhập quốc tế ........................................................................ 61
3.2.1 Giải pháp về phía Chính phủ ................................................................. 61
3.2.2 Giải pháp về phía ngành, Hiệp hội ........................................................ 68
3.2.3 Giải pháp về phía doanh nghiệp ............................................................ 70
KẾT LUẬN .............................................................................................. 76
chức hợp tác và phát triển kinh tế)
PATA
: Pacific Area Travel Association – PATA (Hiệp hội du lịch Châu
Á – Thái Bình Dương)
TOEIC
: Test of English International Communication (chứng chỉ tiếng
Anh quốc tế về giao tiếp)
Tp.HCM
: Thành phố Hồ Chí Minh
TSA
: Travel and Tourism Satellite Accounting (Hệ thống tài khoản vệ
tinh du lịch)
UNESCO
: United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization
(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hiệp Quốc)
UNWTO
: United Nations World Tourism Orgnization (Tổ chức du lịch thế
giới của Liên Hợp Quốc)
được miễn thị thực (2003 – 2007) .......................................................................... 25
Biểu đồ 2.1: Thành phần doanh nghiệp LHQT 2002 và 2006 ................................ 29
Biểu đồ 2.2 Mức độ hài lòng của du khách ............................................................ 44
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ nhân viên chưa đạt chuẩn tiếng Anh theo kết quả khảo sát của
TOEIC Việt Nam. ................................................................................................. 51
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch quốc tế trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay đang là xu hướng
phát triển tất yếu, khách quan của thời đại đối với mọi quốc gia, dù là nước
phát triển hay đang phát triển . Thu nhập xã hội ngày càng tăng cùng với sự
gia tăng dân số thế giới khiến cho nhu cầu tiêu dùng, vui chơi giải trí, du lịch
của con người tăng theo và ngành du lịch hiện đang trở thành ngành kinh tế
quan trọng bậc nhất trên thế giới. Hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế ngày
càng phát triển mạnh, hiện chiếm tới 40% thương mại dịch vụ toàn cầu. [2]
Theo thống kê của Hiệp hội du lịch và lữ hành thế giới, năm 2008 du lịch đem
lại nguồn thu tới 5.890 tỷ USD, đóng góp vào 9,9% GDP toàn cầu và tạo việc
làm cho hơn 238 triệu người, chiếm 8,4% lao động thế giới. Đóng góp của
ngành công nghiệp không khói này vào hoạt động kinh tế và việc làm toàn
cầu được dự báo là tiếp tục tăng mạnh trong vòng
10 năm tới, với mức tăng
trưởng 4,2% mỗi năm. [35]
Sự phát triển mạnh mẽ của du lịch toàn cầu dẫn đến cạnh tranh mạnh
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành của các doanh
nghiệp Việt Nam so với Trung Quốc và các đối thủ cạnh tranh trong khu vực
Đông Nam Á trong việc thu hút khách quốc tế trong điều kiện hội nhập quốc tế.
4.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau
như phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu; phương pháp thống
kê và đánh giá số liệu, phương pháp trích dẫn...
5.
Bố cục
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, khóa luận gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cạnh tranh, năng lực cạnh
tranh trong lĩnh vực lữ hành
Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
lữ hành Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh
nghiệp lữ hành Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
2
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THƢ̣C TIỄN VỀ CẠNH TRANH,
NĂNG LƢ̣C CẠNH TRANH TRONG LĨ NH VƢ̣C LƢ̃ HÀNH
1.1. Cơ sở lý luận
là cuộc cạnh tranh chính trên thị trường, đồng thời cũng là cuộc cạnh tranh
khốc liệt nhất, có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp.
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: là cuộc cạnh tranh trên
quy luật cung cầu. Khi một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó mà mức cung
nhỏ hơn mức cầu thì cuộc cạnh tranh giữa những người mua càng gay gắt và
giá hàng hóa hay dịch vụ đó sẽ tăng lên.
b, Xét theo phạm vi ngành kinh tế , cạnh tranh gồm cạnh tranh trong
nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa, nhằm mục
đích tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
- Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp
hay đồng minh, giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm
giành giật lợi nhuận cao nhất.
c, Xét theo hình thái, cạnh tranh gồm cạnh tranh hoàn hảo và cạnh
tranh không hoàn hảo.
- Cạnh tranh hoàn hảo hay còn gọi là cạnh tranh thuần túy là hình thức
cạnh tranh mà quyết định của người mua và người bán không ảnh hưởng đến
giá cả của thị trường. Trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá cả của sản
phẩm được hình thành hoàn toàn dựa trên quan hệ cung cầu, quy luật giá trị,
không có sự chi phối, can thiệp của bất cứ quyền lực nào. Trên thực tế đời
sống kinh tế, ít tồn tại hình thái cạnh tranh này.
- Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thái chiếm ưu thế trong các ngành
sản xuất kinh doanh, ở đó các nhà sản xuất bán hàng đủ mạnh để chi phối giá
4
cả các sản phẩm của mình trên thị trường hoặc từng nơi, từng khu vực cụ thể.
Trong cạnh tranh không hoàn hảo lại phân ra hai loại là: độc quyền nhóm và
vực trên thế giới, cạnh tranh trong và ngoài nước, cạnh tranh giữa cộng đồng,
các vùng có bản sắc dân tộc và tập quán sản xuất tiêu dùng khác nhau...
1.1.1.3 Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh là môi trường và là động lực để thúc đẩy sản xuất phát triển.
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây, hầu như không tồn tại phạm
trù cạnh tranh giữa các doanh nghiệp vì toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh đều được tiến hành theo kế hoạch, kinh doanh có lãi thì nộp vào
ngân sách Nhà nước, ngược lại thì Nhà nước bù lỗ. Do vậy doanh nghiệp vẫn
tồn tại mà không bị phá sản, tuy nhiên lại không tạo được động lực cho doanh
nghiệp phát triển. Khi chuyển sang cơ chế thị trường thì vấn đề cạnh tranh
xuất hiện và nó có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ với doanh nghiệp mà
còn đối với người tiêu dùng cũng như tổng thể nền kinh tế.
Đối với doanh nghiệp, cạnh tranh quyết định đến sự tồn tại hay không
tồn tại của doanh nghiệp, là điều kiện thuận lợi để mỗi doanh nghiệp tự khẳng
định vị trí của mình trên thị trường, tự hoàn thiện bản thân để vươn lên giành
ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh khác. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp
phải sản xuất và cung ứng những hàng hóa và dịch vụ mà thị trường cần để
đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của khách hàng. Cạnh
tranh thực chất là một cuộc chạy đua không có đích, là quá trình các doanh
nghiệp đưa ra các biện pháp kinh tế tích cực và sáng tạo nhằm đứng vững trên
thương trường và tăng lợi nhuận trên cơ sở tạo ra ưu thế về sản phẩm, giá bán
và tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Muốn vậy, mỗi doanh nghiệp phải không ngừng
đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao chất
lượng sản phẩm và dịch vụ, bên cạnh đó phải tối ưu các yếu tố đầu vào của
sản xuất để giảm tối đa giá thành sản phẩm.
Đối với người tiêu dùng, nhờ có cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà
6
nhiễm cũng như những vấn đề xã hội khác...
Kết luận: Cạnh tranh là một phần không thể thiếu của nền kinh tế thị
trường, vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát huy vai trò tích cực và hạn chế
các tiêu cực của cạnh tranh. Để giải quyết được vấn đề này thì vai trò của Nhà
nước là vô cùng quan trọng.
1.1.2 Năng lực cạnh tranh
1.1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Cùng với quá trình toàn cầu hóa, ít có những tranh luận và nghiên cứu
về hiệu quả kinh tế trong mối quan hệ với hội nhập kinh tế quốc tế mà lại
không đề cập đến thuật ngữ competitiveness (năng lực cạnh tranh / tính cạnh
tranh / khả năng cạnh tranh / sức cạnh tranh).
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệ
p của Tổ chức Hợp tác và
phát triển kinh tế (OECD) đã đị nh nghĩ a như sau : “Sức cạnh tranh là khả
năng của các doanh nghiệp , ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việ c
làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh qu ốc tế trên cơ sở bền
vững”[23]. Đị nh nghĩ a này đã phản ánh được khái niệm cạnh tranh quốc gia
trong mối liên hệ gắn kết với hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp , tạo
việc làm, tăng thu nhập và mức sống nhân dân .
Trong từ điển Thuật ngữ kinh tế học, “năng lực cạnh tranh (hay còn
gọi là sức cạnh tranh) là khả năng giành được thị phầ n lớn trước các đối thủ
cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị
phần của đồng nghiệp”.[6]
Theo định nghĩa này, tác giả có thể thống nhất bốn thuật ngữ hiện đang
được sử dụng: năng lực cạnh tranh, sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và
tính cạnh tranh đều có nội dung tương tự nhau và hiểu tên của chúng một cách
nhất quán trong đề tài này là “năng lực cạnh tranh”.
quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian.
Trong báo cáo mới nhất của mình (Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2009)
9
WEF cũng đưa ra 12 yếu tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của một
quốc gia, chia thành 3 nhóm chính là:
-
Những yêu cầu cơ bản: Thể chế chính sách, khung pháp lý; Cơ
sở hạ tầng; Sự ổn định kinh tế vĩ mô; Sức khỏe và giáo dục cơ bản.
-
Những nhân tố thúc đẩy hiệu quả: Giáo dục và đào tạo ở cấp
cao hơn; Tính hiệu quả của thị trường hàng hóa; Tính hiệu quả của thị
trường lao động; Sự phát triển của thị trường tài chính; Trình độ khoa học
công nghệ; Quy mô thị trường.
-
Những nhân tố đổi mới và phát triển: Sự phát triển trong kinh
doanh; Sự đổi mới, cải cách.[17]
Như vậy hiểu một cách đơn giản thì việc xác định năng lực cạnh tranh
quốc gia được nhấn mạnh ở sự phát triển bền vững, không chỉ trên lĩnh vực
kinh tế mà còn ở các lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường...
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà
doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên
Việc định nghĩa hoạt động lữ hành cũng như việc phân biệt lữ hành với
du lịch là một công việc cần thiết. Tuy nhiên có hai cách tiếp cận về lữ hành
và du lịch.
Cách tiếp cận thứ nhất: Hiểu theo nghĩa rộng thì lữ hành (Travel) bao
gồm tất cả các hoạt động di chuyển của con người, cũng như những hoạt động
liên quan đến sự di chuyển đó. Với một phạm vi đề cập như vậy thì trong hoạt
động du lịch có bao gồm yếu tố lữ hành. Nhưng không phải tất cả các hoạt
động lữ hành là du lịch. Tại các nước phát triển, đặc biệt tại các nước Bắc Mỹ
thì thuật ngữ “lữ hành” và “du lịch” (Travel and Tourism) được hiểu một cách
tương tự như “du lịch”. Vì vậy người ta có thể sử dụng thuật ngữ “lữ hành du
lịch” để ám chỉ các hoạt động đi lại và các hoạt động khác có liên quan đến
các chuyến đi với mục đích du lịch. Cách tiếp cận lữ hành theo nghĩa rộng
cho phép nghiên cứu hoạt động lữ hành ở một phạm vi rộng lớn.
11
Cách tiếp cận thứ hai: Tiếp cận lữ hành ở một phạm vi hẹp. Để phân
biệt hoạt động kinh doanh lữ hành với các hoạt động kinh doanh du lịch khác
như khách sạn, nhà hàng, vui chơi giải trí... người ta giới hạn hoạt động kinh
doanh lữ hành chỉ bao gồm những hoạt động tổ chức các chương trình du lịch.
Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là định nghĩa về lữ hành trong Luật Du lịch
Việt Nam: “Lữ hành là việc xây dựng, bán, tổ chức thực hiện một phần hay
toàn bộ chương trình cho khách du lịch”[5]. Kinh doanh lữ hành là việc xây
dựng, bán, tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nhằm mục đích sinh lợi,
bao gồm kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế.
Kinh doanh lữ hành nội địa là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện
các chương trình du lịch cho khách nội địa và phải đủ 3 điều kiện:
- Có đăng ký kinh doanh lữ hành nội địa tại cơ quan đăng ký kinh
doanh có thẩm quyền;
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành
Như đã trình bày ở trên, khi đánh giá và đề ra giải pháp nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thiết phải đặt nó trong mối tương quan
chung giữa các cấp độ năng lực cạnh tranh khác. Trong giới hạn bài viết cho
phép, người viết xin đưa ra các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của
ngành Du lịch Việt Nam và của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Việt
Nam, so sánh với Trung Quốc và các đối thủ cạnh tranh khác trong khu vực
Đông Nam Á để có thể thấy được một bức tranh toàn cảnh cũng như cụ thể về
năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực này của các doanh nghiệp Việt Nam.
Về năng lực cạnh tranh cấp độ ngành, báo cáo về năng lực cạnh tranh
trong lĩnh vực du lịch và lữ hành năm 2009 của WEF đã đưa ra các chỉ số
đánh giá năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành dưới đây:
- Hệ thống luật pháp, chính sách về du lịch và lữ hành gồm: Các quy
định luật pháp và chính sách; Quy định về môi trường; An toàn và an ninh; Y
tế và vệ sinh; Ưu tiên du lịch và lữ hành.
13
- Cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh du lịch và lữ hành gồm: Cơ
sở hạ tầng giao thông hàng không; Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ; Cơ sở
hạ tầng du lịch; Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông; Năng lực
cạnh tranh giá trong ngành du lịch và lữ hành.
- Nguồn lực tự nhiên, văn hoá và nhân lực gồm chỉ số: Nguồn nhân
lực; Sự thu hút cho du lịch và lữ hành; Nguồn lực tự nhiên và nguồn lực văn
hoá. [18]
Các chỉ số này và kết quả công bố của Diễn đàn kinh tế thế giới năm
2009 sẽ được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch
và lữ hành của Việt Nam trong chương 2.
Về năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp , các doanh nghiệp hoạt
Nhưng hiện nay nền kinh tế nước ta là nền kinh tế vận hành theo cơ chế
thị trường định hướng XHCN, hoạt động theo các quy luật khách quan vốn có
của thị trường: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh…Nền
kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế có nhiều thành phần với sự tham gia
của nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Khi
đó cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là một tất yếu khách quan. Thêm vào đó,
xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày một nhanh. Với chính sách
mở của nền kinh tế của Đảng và Nhà nước, ngày càng có nhiều doanh nghiệp
nước ngoài tham gia vào lĩnh vực kinh doanh trên thị trường Việt Nam nên
tình hình cạnh tranh càng trở nên quyết liệt hơn.
Một tồn tại lớn nhất của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là năng
lực cạnh tranh còn rất yếu, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành cũng không
phải ngoại lệ. Các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam tỏ ra yếu thế hơn hẳn so
với các doanh nghiệp nước ngoài. Nguồn vốn lớn, thương hiệu mạnh, công
nghệ du lịch cao, hệ thống tổ chức chuyên nghiệp, có mạng lưới đại lý toàn
cầu và có khả năng khai thác thị trường cao, lại đang nắm giữ nguồn khách
nên các công ty nước ngoài có thể áp đảo, gây khó khăn cho các doanh nghiệp
15