LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế tổ CHỨC kế TOÁN QUẢN TRỊ các yếu tố đầu vào TRONG các DOANH NGHIỆP NHÀ nước ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp (DN) là tế bào của nền kinh tế quốc dân. Trong nền
kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của
nhà nước ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có vai
trò hết sức quan trọng thể hiện ở chỗ: DNNN chi phối các ngành, các lĩnh vực
then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế
nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội.
Trước những thách thức gay gắt của yêu cầu đổi mới, phát triển và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, để kinh tế nhà nước nói chung,
DNNN nói riêng thực sự giữ vai trò chủ đạo trong việc giữ vững định hướng
xã hội chủ nghĩa, ổn định phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, cần
phải nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của DNNN. Giải pháp cơ bản để
thực hiện được mục tiêu này là tăng cường chất lượng công tác quản trị kinh
doanh trong các DNNN.
Kế toán, với vị trí là công cụ không thể thiếu phục vụ cho quản lý kinh
tế tài chính cần phải được các DNNN sử dụng một cách hợp lý, đúng đắn
nhằm phát huy tối đa vai trò của nó trong hệ thống quản lý kinh tế. Ở nước ta,
hệ thống kế toán hiện hành đã có những thay đổi cơ bản so với hệ thống kế
toán trước đây, đã tiếp cận những thông lệ, chuẩn mực kế toán quốc tế và bao
gồm một số nội dung của kế toán quản trị (KTQT). Tuy nhiên, những thay đổi
bước đầu đó mới chỉ thỏa mãn phần lớn nhu cầu thông tin theo quy định của
Bộ Tài chính, nhằm chủ yếu đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước đối với
hoạt động kinh tế tài chính của DN. Công tác KTQT phục vụ cho mục đích


2


3

chức KTQT các yếu tố đầu vào một cách khoa học, hợp lý, sẽ góp phần nâng
cao trình độ, năng lực quản lý, điều hành KD và hiệu quả hoạt động của các
DN.
Xuất phát từ những lý do đó, việc nghiên cứu đề tài "Tổ chức kế toán
quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
hiện nay" vừa có ý nghĩa lý luận, vừa mang tính thực tiễn.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức KTQT các yếu
tố đầu vào trong các DN.
- Tìm hiểu thực tế công tác kế toán ở một số DNNN trên địa bàn Hà
Nội, đánh giá thực trạng tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào trong các DNNN.
- Đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức KTQT các yếu
tố đầu vào trong các DNNN.
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Với mục đích đã xác định, luận văn
tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận và thực
tiễn về tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào trong các DNNN. Trong đó tập
trung chủ yếu vào các DN sản xuất và yếu tố đầu vào được quan tâm nghiên
cứu là nguyên liệu vật liệu (NLVL).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp chung: Dựa vào phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu các vấn đề một cách toàn
diện, hệ thống và cụ thể.
- Phương pháp thực hiện: Vận dụng các phương pháp như: phương
pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh... Nghiên cứu



hợp các lĩnh vực khoa học như: toán học, tin học, lôgic học, kinh tế... nhằm giải
quyết các vấn đề đặt ra theo quan điểm toàn diện. Lý thuyết hệ thống được
ứng dụng rộng rãi trong công tác quản lý, từ quản lý vĩ mô cho tới quản lý vi
mô.
Những bộ phận chủ yếu của một hệ thống bao gồm: các phần tử của
hệ thống, môi trường của hệ thống, đầu vào của hệ thống, đầu ra của hệ
thống.
DN khi được nhìn nhận theo quan điểm là một hệ thống cũng bao gồm
các bộ phận đã nêu trên.
Đối với bộ phận "đầu vào" của DN, có nhiều quan niệm, nhiều cách
phát biểu khác nhau.
Theo các tác giả của Trường Đại học kinh tế quốc dân:
Doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một hệ thống xã hội,
một hệ thống kinh doanh. Điều đó có nghĩa là mọi khái niệm, mọi
nguyên lý, mọi phương pháp trong lý thuyết hệ thống đều có thể được
vận dụng trong nghiên cứu và giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp.
Đầu vào của doanh nghiệp là các phương tiện cần thiết để
cho doanh nghiệp hoạt động, bao gồm:


6

- Nguồn nhân lực (lao động và thị trường chất xám) cung
ứng các loại nhân lực cho doanh nghiệp.
- Nguồn vốn đảm bảo cung cấp tài chính cho doanh nghiệp.
- Thị trường tư liệu sản xuất và dịch vụ để phục vụ cho các
hoạt động tạo ra đầu ra (sản phẩm và dịch vụ mới cho doanh nghiệp).
- Thị trường năng lượng và nguyên liệu tạo ra động lực và
cung cấp nguyên liệu cho sản xuất.
- Thị trường công nghệ và kỹ thuật để tạo ra các công nghệ

Đối với doanh nghiệp, đầu vào là:
1. Tiền vốn.
2. Tổ chức lao động.
3. Công nghệ, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu.
4. Trình độ, phẩm chất, tiềm năng của nhà quản lý.
5. Thị trường, thông tin và các ràng buộc vĩ mô trong kinh doanh
6. Các cơ hội và rủi ro [21, tr. 23-24].
Theo quan điểm này, nhìn nhận các yếu tố đầu vào của DN trong môi
trường KD cụ thể, gắn liền với các điều kiện KD, có tính đến các yếu tố chưa
thể lượng hóa đo lường bằng các thước đo như: trình độ, phẩm chất, tiềm
năng của nhà quản lý.
Theo các nhà kinh tế nước Cộng hòa Pháp, các yếu tố đầu vào và đầu
ra của DN được thể hiện qua sơ đồ 1.1 (trang 8) [23, tr. 26].
Theo quan điểm này các yếu tố đầu vào của DN gồm lao động, tài sản
cố định (TSCĐ), nguyên liệu vật liệu (NLVL), hàng hóa, dịch vụ, tiền vốn và
các yếu tố này đều được lượng hóa bằng thước đo tiền tệ.
Qua việc phân tích các quan điểm trên chúng tôi nhận thấy thuật ngữ
các yếu tố đầu vào của DN có nghĩa rất rộng dùng để chỉ tất cả các yếu tố, các
nguồn lực mà DN đã sử dụng trong quá trình hoạt động để tạo ra các sản


8

phẩm, hàng hóa, dịch vụ đầu ra của DN. Đứng trên giác độ của kế toán khi
thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các yếu tố đầu vào của DN chỉ có thể
xem xét tới các yếu tố đầu vào có thể lượng hóa được vì đặc trưng của thông
tin kế toán là thông tin phải được lượng hóa bằng các thước đo (thước đo hiện
vật, thước đo lao động, thước đo giá trị, trong đó thước đo giá trị là chủ yếu).



người lao động trong doanh nghiệp, sử dụng một cách tốt nhất mọi
tiềm năng và cơ hội để thực hiện một cách tốt nhất mọi hoạt động


11

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đạt được những mục
tiêu đầu ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội [ 20, tr. 41].
Để hoạt động của các đơn vị nói chung, các DN nói riêng đạt được
hiệu quả cao thì cần thiết phải tiến hành các hoạt động quản trị.
Các chức năng chủ yếu của quản trị là: xác định mục tiêu, lập kế
hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá.
Quản trị các yếu tố đầu vào là một nội dung của công tác quản trị DN.
Việc quản trị đúng đắn các yếu tố đầu vào sẽ giúp cho DN đảm bảo
được hoạt động của mình một cách bình thường, liên tục, không bị gián đoạn.
Với một đầu ra xác định, việc quản lý khoa học, hợp lý các yếu tố đầu vào sẽ
tạo cơ sở để DN tiết kiệm chi phí đầu vào từ đó tăng hiệu quả hoạt động của
DN nói riêng, hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung.
Những biểu hiện cụ thể của việc quản trị đúng đắn có hiệu quả các yếu
tố đầu vào là:
- Đối với các yếu tố đầu vào là sức lao động: Đảm bảo bố trí, sử dụng
lao động hợp lý, đầy đủ cả về số lượng và chất lượng phục vụ cho hoạt động
KD của DN. Nâng cao ý thức, trách nhiệm của người lao động, kích thích thi
đua trong lao động...
- Đối với các yếu tố đầu vào là NLVL, hàng hóa: Đảm bảo số lượng,
chất lượng, chủng loại, quy cách... NLVL, hàng hóa cần thiết phục vụ SXKD
một cách kịp thời, liên tục với chi phí dự trữ NLVL, hàng hoá hợp lý góp
phần tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả
KD của DN.
- Đối với các yếu tố đầu vào là TSCĐ: Trang bị TSCĐ hợp lý, bảo

quyết định

Yêu cầu về
thông tin

DOANH
NGHIỆP

Truyền dữ liệu

Ngân hàng
dữ liệu

Xử lý và sắp
xếp dữ liệu

Thành phần
Hoạt động
Dòng cung cấp
Dòng yêu cầu

Thu thập
dữ liệu

Các nguồn
dữ liệu bên trong
và bên ngoài

Xác định
nhu cầu dữ liệu


14

chủ yếu cho việc quản trị nội bộ DN, KTQT có vai trò rất quan trọng trong
việc cung cấp các thông tin. Vai trò đó được đảm bảo nhờ vào việc thực hiện
các nhiệm vụ của KTQT các yếu tố đầu vào. Các nhiệm vụ đó là:
- Ghi chép tính toán phản ánh đầy đủ chính xác tình hình hiện có về
các yếu tố đầu vào của DN cũng như tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào đó.
- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch về các yếu tố đầu vào: tình
hình dự trữ, sử dụng NLVL, tình hình trang bị, sử dụng TSCĐ, sử dụng lao
động; phát hiện và ngăn ngừa kịp thời các hành vi làm ảnh hưởng tới việc sử
dụng không hiệu quả các yếu tố đầu vào.
- Cung cấp số liệu tài liệu phục vụ cho việc quản trị các yếu tố đầu vào ở
DN, phục vụ cho công tác thống kê và thông tin kinh tế về các yếu tố đầu vào.
Đồng thời cung cấp các thông tin mang tính dự báo về tình hình sử dụng các yếu
tố đầu vào để phục vụ cho việc đề ra các quyết định về quản trị các yếu tố đầu
vào.
1.3. TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO TRONG
DOANH NGHIỆP

1.3.1. Sự xuất hiện của kế toán quản trị
Kế toán là một công cụ phục vụ cho yêu cầu quản lý, vì vậy khi yêu
cầu quản lý thay đổi kế toán cũng phải có sự thay đổi phù hợp.
Trong môi trường kinh doanh hiện nay, nhu cầu về thông tin
trong công tác quản lý đã có sự gia tăng rất lớn và đa dạng do áp
lực của những thay đổi nhanh chóng về các mặt:
- Toàn cầu hóa nền kinh tế.
- Sự mở rộng giao lưu kinh tế giữa các quốc gia.
- Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các công ty trong
nước, giữa các công ty ở các quốc gia khác nhau.

Theo các nhà khoa học kế toán nước Cộng hòa Pháp:


16

- "Kế toán quản trị là một yếu tố của hệ thống thông tin phục vụ cho
quản trị" [24, tr. 7].
- "Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán phục vụ cho nhà quản
trị" [25, tr. 18] và "Kế toán quản trị hướng tới hai mục đích chủ yếu: giúp cho
nhà quản trị hiểu được tương lai và điều hành các vấn đề của hiện tại. Để hiểu
được tương lai, kế toán quản trị phải xây dựng được mối quan hệ giữa những
mục tiêu mong muốn và các nguồn lực để đạt được mục tiêu đó" [24, tr. 19].
Theo cách phát biểu này, KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp các
thông tin kinh tế tài chính phục vụ cho việc thực hiện công tác quản trị tại đơn
vị. Mục tiêu của KTQT không chỉ là cung cấp các thông tin quá khứ về tình
hình kinh tế tài chính của đơn vị để phục vụ việc quản trị các hoạt động đang
diễn ra mà còn cung cấp các thông tin mang tính dự báo về việc thực hiện các
mục tiêu của đơn vị trong tương lai.
Theo các nhà khoa học kế toán Việt Nam:
- Theo các nhà khoa học kế toán của Học viện Tài chính: "Kế toán
quản trị là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động của
doanh nghiệp một cách cụ thể, phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế
hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch
các hoạt động của doanh nghiệp" [11, tr. 11].
Theo cách phát biểu này KTQT là một môn khoa học thu nhận, xử lý
Quá trình KTQT
Các chức năng quản trị
và cung cấp thông tin về hoạt động của DN nhằm phục vụ cho việc thực hiện
các chức năng của quản trị DN. Như vậy quá trình KTQT có mối quan hệ chặt
Xác định mục tiêu

Theo sơ đồ trên, sau khi nhà quản trị đề ra các mục tiêu của DN,
KTQT sẽ hình thành các chỉ tiêu kinh tế về mục tiêu đó. Căn cứ vào kế hoạch
hoạt động của DN do nhà quản trị đưa ra trong từng giai đoạn và các chỉ tiêu
kinh tế đã thiết lập, KTQT thực hiện việc lập dự toán chung và lập các dự
toán chi tiết (dự toán về NLVL, lao động, vốn...) cho hoạt động của DN và
như thế KTQT sẽ cung cấp các thông tin mang tính dự báo về hoạt động của
DN. Trong quá trình nhà quản trị tổ chức thực hiện các hoạt động của DN,
KTQT phải tiến hành thu thập thông tin về các hoạt động đó và cung cấp cho
nhà quản trị thông qua các báo cáo KTQT để nhà quản trị thực hiện việc kiểm
tra, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và có các quyết định điều chỉnh kịp
thời.
- Theo các nhà khoa học kế toán của Trường Đại học Kinh tế Thành
phố Hồ Chí Minh: "Kế toán quản trị là chuyên ngành kế toán cung cấp các
thông tin kinh tế - tài chính gắn liền với quan hệ dự báo, đánh giá, kiểm soát
và trách nhiệm trong việc điều hành tổ chức hàng ngày của nhà quản trị ở các
bộ phận" [16, tr. 12].
Như vậy, cách phát biểu này cũng có sự thống nhất về mặt nội dung
với các nhà khoa học kế toán của Học viện Tài chính.


18

Từ những cách phát biểu trên cùng với việc tìm hiểu quá trình hình
thành, xuất hiện của KTQT, có thể rút ra một số nhận xét như sau:
+ KTQT hình thành xuất phát từ nhu cầu về thông tin của nhà quản trị
DN, KTQT phục vụ các hoạt động quản trị của một DN cụ thể và vì vậy có
mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với các phương pháp quản trị tác nghiệp mà DN
đó đang áp dụng đối với các hoạt động của DN.
+ Thông tin KTQT cung cấp không chỉ là những thông tin quá khứ mà
còn có các thông tin tương lai về hoạt động kinh tế tài chính của DN. Do đó

* Phương pháp tính giá: Mục đích của phương pháp này là xác định
trị giá thực tế của tài sản bằng thước đo tiền tệ theo những nguyên tắc nhất
định. Hình thức biểu hiện của phương pháp này là các sổ tính giá và trình tự tính
giá.
Trong KTTC, phương pháp tính giá được vận dụng theo nguyên tắc,
chuẩn mực quy định thống nhất của mỗi quốc gia để trình bày các thông tin
trên báo cáo tài chính một cách thống nhất. Đối với KTQT, việc tính giá các
loại tài sản mang tính linh hoạt cao hơn và gắn với mục đích sử dụng các
thông tin về giá theo yêu cầu quản trị DN. Các tài liệu để tính giá không chỉ
căn cứ vào các chi phí thực tế đã phát sinh mà còn dựa vào sự phân loại các
chi phí thích hợp cho từng quyết định cá biệt theo yêu cầu quản lý đặc thù của
DN. Như vậy phạm vi, nội dung của chi phí trong giá phí của KTQT có thể
không giống, thậm chí còn có sự khác biệt so với KTTC.
* Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán: Mục đích của phương
pháp này là cung cấp các thông tin cho đối tượng sử dụng thông tin kế toán.
Hình thức biểu hiện của phương pháp này là hệ thống các bảng tổng hợp - cân
đối kế toán (các báo cáo kế toán).
Báo cáo kế toán của KTQT là các bảng tổng hợp - cân đối bộ phận.
Các báo cáo này còn được gọi là báo cáo kế toán nội bộ được lập theo kỳ hạn
ngắn hơn các báo cáo tài chính. Ngoài các chỉ tiêu về tiền tệ, các bảng tổng
hợp - cân đối bộ phận còn sử dụng rộng rãi các thước đo về hiện vật và thời


22

gian lao động. Đồng thời, ngoài các bảng tổng hợp - cân đối kế toán trình bày
các chỉ tiêu quá khứ, chỉ tiêu đã thực hiện, kế toán còn thiết lập các bảng tổng
hợp - cân đối trình bày các chỉ tiêu trong dự toán, trong kế hoạch, các chỉ tiêu
giữa nhu cầu tài chính và nguồn tài trợ, giữa yêu cầu KD và các nguồn lực
được huy động...

+ Các phương pháp của toán xác suất, của thống kê: được sử dụng để
ước lượng số SP sẽ được tiêu thụ trong kỳ tới.
1.3.3. Các quan điểm về tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Tổ chức KTQT khoa học và hợp lý sẽ đảm bảo cung cấp thông tin có
chất lượng, đáng tin cậy, kịp thời và đảm bảo tiết kiệm chi phí, nói cách khác
là đảm bảo cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị trên cơ sở đảm bảo tính
hiệu quả của công tác kế toán. Có hai quan điểm chủ yếu về việc tổ chức KTQT.
* Quan điểm thứ nhất: Tổ chức KTQT kết hợp chặt chẽ với KTTC
trong cùng một bộ máy.
Theo quan điểm này, việc thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin của KTQT
và KTTC được tiến hành trên cơ sở của cùng một hệ thống chứng từ kế toán,
hệ thống tài khoản kế toán chỉ khác là thông tin tổng quát và thông tin chi tiết.
Thông tin do KTTC cung cấp chủ yếu là các thông tin tổng quát và một số thông
tin chi tiết để phục vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin ở bên ngoài DN, các
thông tin này đều là các thông tin thực hiện (về các nghiệp vụ kinh tế tài
chính đã phát sinh và hoàn thành). Thông tin do KTQT thu nhận, xử lý và
cung cấp phục vụ cho các quản trị DN và nó không chỉ là các thông tin thực hiện
mà còn có cả các thông tin dự báo để phục vụ cho việc ra các quyết định trong
tương lai. Để có được các thông tin này, KTQT tiến hành mở các sổ kế toán của
các tài khoản chi tiết (theo từng cấp cần thiết) trong hệ thống tài khoản sử dụng
cho KTTC để thu nhận, hệ thống hóa các thông tin thực hiện, đồng thời mở các
sổ kế toán chi tiết khác để thu nhận, hệ thống hóa các thông tin dự báo; xác định
nội dung, phương pháp ghi chép, phản ánh trên các sổ kế toán đó cho phù hợp


24

với việc xử lý và cung cấp thông tin phục vụ quản trị. Khi lập báo cáo KTQT
để cung cấp các thông tin cụ thể chi tiết theo yêu cầu quản lý cán bộ kế toán sẽ
tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán đã mở theo các chỉ tiêu trong các báo cáo

chuyển, xử lý chứng từ kế toán.
1.3.4. Nội dung tổ chức công tác kế toán quản trị các yếu tố đầu vào
Quản trị các yếu tố đầu vào của DN là một công việc không thể thiếu
trong công tác quản trị DN. Để phục vụ cho công tác này, KTQT phải tiến
hành thực hiện nhiều nội dung công việc. Các nội dung này xuất phát từ:
- Nhu cầu về thông tin của nhà quản trị đối với việc quản trị các yếu tố
đầu vào của DN.
Các nhà quản trị cần những thông tin phục vụ cho việc thực hiện các
phương pháp, biện pháp quản trị cụ thể mà họ đang áp dụng đối với việc quản
trị các yếu tố đầu vào của DN và do đó phụ thuộc vào nội dung cụ thể của các
phương pháp quản trị tác nghiệp ở DN.
- Khả năng của KTQT trong việc đáp ứng các nhu cầu về thông tin
của nhà quản trị.
Mỗi DN với điều kiện cụ thể của mình (trong từng giai đoạn khác
nhau, với những chiến lược KD đã lựa chọn...) thì yêu cầu quản trị cụ thể đối
với các yếu tố đầu vào có sự khác nhau và do đó họ áp dụng các phương pháp
quản trị tác nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, dù áp dụng phương pháp quản trị
nào thì đều nhằm thực hiện các chức năng của quản trị đối với việc quản trị
yếu tố đầu vào đó là: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá.
Do đó, theo chức năng quản lý, nội dung công tác KTQT các yếu tố
đầu vào bao gồm:
1.3.4.1. Thiết lập hệ thống chỉ tiêu quản trị các yếu tố đầu vào
Đây là công việc đầu tiên mà KTQT phải tiến hành. Việc xác định hệ
thống các chỉ tiêu về các yếu tố đầu vào phụ thuộc vào nội dung của các yếu
tố đầu vào của DN.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status