TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐÀM THỊ THANH DUNG
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ
CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH BỘ LAO
ĐỘNG -THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
TÓM TẮT LUẬN VĂN
HÀ NỘI, NĂM 2013
2
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Mục tiêu của Chƣơng trình Cải cách hành chính 10 năm (2011- 2020) là “xây
dựng một nền hành chính phục vụ trong sạch, minh bạch, vững mạnh, chuyên nghiệp và
hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả”. Theo đó, một trong những nhiệm vụ của
Chính phủ nhiệm kỳ 2011- 2016 là đổi mới tổ chức bộ máy và phƣơng thức hoạt động
của hệ thống chính trị, trọng tâm là cải cách hành chính, xây dựng bộ máy Nhà nƣớc
trong sạch, vững mạnh. Do vậy việc nghiên cứu đánh giá khoa học về đội ngũ công chức
hành chính nhà nƣớc và chất lƣợng đội ngũ công chức hành chính nhà nƣớc có ý nghĩa
hết sức quan trọng, là cơ sở góp phần giúp cho Đảng và Nhà nƣớc có chiến lƣợc trong
việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển
của đất nƣớc.
Thực tế cho thấy, đội ngũ công chức hành chính hiện nay chƣa thực sự ngang tầm
với yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân,
nhƣng một trong những nguyên nhân chính là do những bất cập trong việc tuyển dụng, sử
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan,
đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách
nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công
lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định
của pháp luật.
Khái niệm công chức hành chính
Công chức hành chính (CCHC) là đội ngũ công chức làm việc trong các cơ quan
hành chính nhà nƣớc (HCNN). Trong đó, cơ quan HCNN là cơ quan quản lý nhà nƣớc
(cơ quan hành pháp). Cơ quan HCNN gồm: cơ quan hành chính cao nhất là Chính phủ
(Điều 109 - Hiến pháp năm 1992), cơ quan HCNN ở Trung ƣơng (các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ), cơ quan HCNN ở địa phƣơng (Uỷ ban nhân dân các
cấp, các sở, phòng, ban của UBND).
Công vụ
4
Công vụ là một hoạt động do công chức nhân danh nhà nƣớc thực hiện theo quy
định của pháp luật và đƣợc pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã
hội.
Chất lượng đội ngũ CCHC
Chất lƣợng đội ngũ CCHC là tập hợp tất cả thuộc tính của CCHC, tạo cho đội ngũ
CCHC này khả năng đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn đặt ra tại thời điểm nhất định. Chất
lƣợng đội ngũ CCHC đƣợc xét dƣới hai góc độ: Một là, chất lƣợng của từng CCHC cấu
thành nên tổ chức. Hai là, chất lƣợng đội ngũ CCHC với tƣ cách là một tập thể có mối
quan hệ tác động qua lại để hình thành nên sức mạnh “tập thể”, đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ của tổ chức.
Trong khuôn khổ luận văn học viên chỉ đề cập đến chất lƣợng đội ngũ CCHC theo
hội của đất nƣớc, trình độ văn hoá, sức khoẻ chung của dân cƣ…); các nhân tố chủ quan
(bao gồm: tuyển dụng, đào tạo, bồi dƣỡng, phân tích công việc, đánh giá việc thực hiện
công việc, sử dụng đội ngũ CCHC…).
Học viên cũng nêu ra một số kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới và rút ra một
số kinh nghiệm có thể vận dụng ở Việt Nam trong việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ
CCHC.
Trong chƣơng 2, trƣớc khi đi nghiên cứu, phân tích thực trạng chất lƣợng đội ngũ
CCHC tại Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội, học viên trình bày tổng quan về Bộ
Lao động.
Ngày 16 tháng 2 năm 1987, theo quyết định số 782/HĐNN của Hội đồng Nhà
nƣớc hợp nhất hai Bộ: Bộ Lao động và Bộ Thƣơng binh và Xã hội thành Bộ Lao động –
Thƣơng binh và Xã hội.
Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức
năng quản lý nhà nƣớc về các lĩnh vực; Việc làm, dạy nghề, lao động, tiền lƣơng, tiền
công, bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm
thất nghiệp), an toàn lao động, ngƣời có công, bảo trợ xã hội, bảo vệ và chăm sóc trẻ em,
bình đẳng giới, phòng chống tệ nạn xã hội (sau đây gọi chung là lĩnh vực lao động, ngƣời
có công và xã hội) trong phạm vi cả nƣớc; quản lý nhà nƣớc các dịch vụ công trong các
ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nƣớc của Bộ.
Cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội là một cơ quan quản lý
quan trọng của Nhà nƣớc có mô hình đặc thù theo kiểu trực tuyến – chức năng, Bộ
6
LĐTBXH có 7 Vụ, thanh tra Bộ, văn phòng Bộ, 8 Cục và Tổng cục và 37 đơn vị sự
nghiệp trực thuộc Bộ.
Hiện nay, tại Cơ quan Bộ có 196 nam công chức và 180 nữ công chức. Hàng năm,
Cơ quan Bộ tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho tất cả công chức. Theo bảng kết quả tổng
hợp trên cho thấy, trong 5 năm (2008 – 2012) tình hình sức khoẻ của CCHC Cơ quan Bộ
hơn trong công tác đào tạo, bồi dƣỡng công chức tại Bộ. Bởi các chƣơng trình đào tạo,
bồi dƣỡng lý luận chính trị nhằm trang bị những kiến thức lý luận chính trị phù hợp với
yêu cầu của từng chức danh và ngạch công chức; giúp công chức nắm vững đƣờng lối,
chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc để vận dụng vào thực tế công việc.
Về trình độ ngoại ngữ, tin học thì phần lớn CCHC tại Cơ quan Bộ đã đáp ứng
đƣợc tiêu chuẩn của ngạch công chức và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Số
lƣợng công chức có trình độ ngoại ngữ từ chứng chỉ A trở lên chiếm 81,38%. Đây là một
lợi thế quan trọng tạo tiền đề cho các công chức trong việc học tập nâng cao trình độ.
Bên cạnh những yêu cầu về trình độ chuyên môn, đội ngũ CCHC đang đứng trƣớc
những khó khăn về kỹ năng thực thi công vụ. Thực tế cho thấy không phải bất cứ công
chức nào đƣợc đào tạo cũng có khả năng thực hiện tốt công việc đƣợc giao do họ thiếu
các kỹ năng cần thiết. Qua kết quả điều tra, nghiên cứu chất lƣợng đội ngũ CCHC của Cơ
quan Bộ, tác giả đã tổng hợp đƣợc mức độ quan trọng của các kỹ năng theo thứ tự từ cao
đến thấp. Nhóm kỹ năng tổng hợp, tƣ duy chiến lƣợc đƣợc đánh giá là nhóm kỹ năng
quan trọng nhất đối với CCHC ở ngạch cao. Nhóm kỹ năng quan trọng thứ hai là nhóm
kỹ năng quan hệ và nhóm kỹ năng thứ ba là nhóm kỹ năng chuyên môn kỹ thuật. Đồng
thời tác giả cũng tổng hợp đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu công việc theo từng kỹ
năng của các CCHC. CCHC tại Cơ quan Bộ cần đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng các kỹ năng
hơn nữa để đáp ứng yêu cầu công việc, nâng cao hiệu quả thực thi công vụ. Phần lớn các
kỹ năng quan trọng nhƣ tổng hợp và tƣ duy chiến lƣợc, ra quyết định, dự tính lập kế
hoạch, giải quyết vấn đề mới chỉ dừng lại ở mức trung bình, đáp ứng một phần yêu cầu
của công việc.
Mặc dù trình độ chuyên môn theo văn bằng của CCHC đƣợc đào tạo trình độ đại
học, trên đại học là khá cao, nhƣng khi xem xét về độ tuổi lại cho thấy: công chức lãnh
đạo độ tuổi khá cao, tỷ lệ nữ trong công chức lãnh đạo còn thấp. Đối với một số công
8
chức của Bộ, dù có thâm niên công tác cao nhƣng còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm
9
chính và đội ngũ CCHC. Đội ngũ công chức giữ vị trí lãnh đạo nhìn chung có độ tuổi khá
cao, sự kế cận giữa các thế hệ, các nhóm tuổi chƣa thể hiện rõ nét. Sự hợp tác, phối hợp,
hiệp tác trong công việc, sự chia sẻ thông tin, tinh thần và phƣơng pháp làm việc nhóm
của CCHC ở Cơ quan Bộ còn thấp. Điều này làm cho năng lực và sức mạnh tổng hợp của
đội ngũ công chức không cao, mặc dù chất lƣợng của từng cá nhân công chức đã có sự
tiến bộ.
Những hạn chế nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân khách quan đó là Nhà
nƣớc chƣa có chuẩn mực một cách rõ ràng cụ thể về hệ thống công vụ, về tiêu chuẩn
ngƣời CCHC. Hệ thống các chỉ tiêu đo lƣờng phản ánh kết quả làm việc cũng nhƣ các
phƣơng pháp chuẩn xác để đánh giá kết quả thực thi công vụ còn thiếu. Chính sách tiền
lƣơng chƣa khuyến khích giữ chân đƣợc ngƣời tài và phù hợp với đời sống. Về phía
nguyên nhân chủ quan, công tác quản trị nhân sự ở Cơ quan Bộ chƣa đƣợc quan tâm
đúng mức.
Từ đòi hỏi của công cuộc cải cách hành chính quốc gia và thực trạng về năng lực
của đội ngũ công chức cần thiết phải xây dựng một đội ngũ CCHC nhà nƣớc mang tính
chuyên nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập và xu thế toàn cầu hoá. Cơ
quan Bộ cần phải thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCHC nhƣ
sau:
Hoàn thiện tổ chức bộ máy Cơ quan Bộ
Cơ quan Bộ rà soát chức năng, nhiệm vụ, tích cực, chủ động hơn trong việc sắp
xếp tổ chức bộ máy phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lƣợng hoạt
động công vụ và nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCHC.
Xác định vị trí việc làm và hoàn thiện quy định tiêu chuẩn chức danh đối với công
chức hành chính Cơ quan Bộ
Xác định vị trí việc làm và cơ cấu CCHC nhằm kịp thời phát hiện những chồng chéo
về chức năng, nhiệm vụ; khắ c phu ̣c tình tra ̣ng bố trí , sử dụng công chức không phù hợp
với chức năng, nhiệm vụ và vị trí công việc trong cơ quan, tổ chức; đảm bảo thống nhất
trong quản lý, sử dụng cán bộ, công chức theo vị trí việc làm. Đồng thời xây dựng bản
Đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý và theo dõi giải quyết
công vụ; tăng cƣờng sự tham gia của ngƣời dân và doanh nghiệp trong hoạt động của cơ
quan nhà nƣớc.
11
Để góp phần vào việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCHC tại Cơ quan Bộ, luận
văn đã làm rõ cơ sở khoa học của việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCHC; đi sâu phân
tích, đánh giá chất lƣợng đội ngũ CCHC trong mối quan hệ với số lƣợng, kết cấu và quá
trình hình thành phát triển của công chức. Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận về CCHC nhà
nƣớc, chất lƣợng CCHC nhà nƣớc, nghiên cứu bài học kinh nghiệm của các nƣớc trên thế
giới và rút ra một số kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam, luận văn đã phân tích,
đánh giá thực trạng chất lƣợng đội ngũ CCHC tại Cơ quan Bộ trong mối quan hệ so sánh
với yêu cầu của công việc. Luận văn đã làm rõ nguyên nhân làm cho chất lƣợng đội ngũ
CCHC của Cơ quan Bộ chƣa cao, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của công việc hiện tại,
chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của quá trình đẩy mạnh CNH – HĐH đất nƣớc và quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế. Từ đó đƣa ra các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao chất lƣợng đội ngũ CCHC của Cơ quan Bộ.