BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VÕ TỨ PHƯƠNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 603405 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang - 2012
-i-
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, Luận văn thạc sĩ kinh tế: “nâng cao chất lượng đội ngũ công
chức hành chính Nhà nước thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang”, là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các số liệu, thông tin được sử dụng trong luận văn là trung thực.
-iii-
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vii
DANH MỤC BIỂU SỐ LIỆU viii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu: 1
2. Mục tiêu nghiên cứu: 5
2.1. Mục tiêu chung: 5
2.2. Mục tiêu cụ thể: 5
3. Phương pháp nghiên cứu: 5
4. Đối tương và phạm vi nghiên cứu: 6
4.1. Đối tượng nghiên cứu: 6
4.2. Phạm vi nghiên cứu: 6
4.2.1. Thời gian nghiên cứu: 6
4.2.2. Không gian nghiên cứu: 6
5. Phương pháp thu thập số liệu: 6
5.1. Các thông tin số liệu thứ cấp: 6
5.2. Các thông tin số liệu sơ cấp: 6
Chương 2 - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG
CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐ VỊ THANH, 44
2.1. Sự hình thành và phát triển đội ngũ công chức hành chính Nhà nước
thành phố Vị Thanh 44
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - văn hóa xã hội thành phố Vị Thanh: 44
2.1.2. Sự hình thành và phát triển đội ngũ công chức hành chính Nhà nước
thành phố Vị Thanh: 47
2.2. Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ công chức hành chính Nhà
nước thành phố Vị Thanh 49
2.2.1. Chất lượng công chức hành chính Nhà nước theo năng lực trình độ
công chức: 50
2.2.2. Chất lượng công chức theo khả năng nhận thức và mức độ sẵn sàng
đáp ứng những thay đổi công việc trong tương lai: 58
2.2.3. Chất lượng công chức theo mức độ đảm nhận công việc: 59
2.3. Kết quả, khảo sát, đánh giá chất lượng đội ngũ công chức hành chính
Nhà nước bằng bảng câu hỏi: 59
2.3.1. Kết quả khảo sát đánh giá khả năng nhận thức và mức độ sẵn sàng đáp
ứng sự thay đổi của công việc: 59
2.3.2. Kết quả khảo sát, đánh giá khả năng đảm nhiệm công việc của công
chức: 61
-v-
2.4. Nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ công chức hành chính
Nhà nước thành phố Vị Thanh 65
2.4.1. Nguyên nhân khách quan: 66
2.4.2. Nguyên nhân chủ quan: 66
Chương 3 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH
HẬU GIANG 73
3.1. Hoàn thiện công tác quy hoạch đội ngũ công chức hành chính Nhà
CVCC - Chuyên viên cao cấp
HCNN - HCNN
KTTT - Kinh tế thị trường
NL,TS - Nông lâm, thủy sản
QLNN - Quản lý Nhà nước
UBND - Uỷ ban nhân dân
XHCN - Xã hội chủ nghĩa
-vii-DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1.1. Phân loại công chức theo Pháp lệnh công chức năm 2003.
Hình 1.2. Phân loại công chức theo Luật công chức năm 2008.
Hình 1.3. Mô hình James Heskett - Eart Sasser.
Hình 2.1. Bản đồ hình chính thành phố Vị Thanh.
Hình 2.2. Biểu đồ cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế thành phố Vị Thanh giai
đoạn 2006 - 2010.
Hình 2.3. Biểu đồ biểu hiện số lượng công chức HCNN thành phố Vị Thanh giai đoạn
2006 - 2010.
Hình 2.4. Những bất cập trong sử dụng đội ngũ công chức HCNN
-viii-
-1-
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu:
Xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện
đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa; Xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất, năng lực và trách nhiệm
đáp ứng yêu cầu công cuộc phát triển đất nước và hội nhập quốc tế đó chính là mục
tiêu cơ bản của Nghị quyết Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, ngày 17 tháng 9 năm 2001, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình
tổng thể cải cách Nhà nước giai đoạn 2001-2010. Chương trình gồm 4 nội dung: Cải
cách thể chế; đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ công chức; cải cách hành chính
công và cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước.
Trong 4 nội dung đó Chính phủ đặc biệt quan tâm công tác đổi mới nâng cao
chất lượng đội ngũ công chức nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đất nước cụ
thể: ngày 23 tháng 6 năm 2003 Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số
69/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức hành chính Nhà nước (HCNN) giai đoạn 2003 - 2005 (giai đoạn I) để các
Bộ ngành Trung ương và địa phương triển khai thực hiện; Quyết định số 770/QĐ-TTg
ngày 23 tháng 6 năm 2008 về việc phê duyệt Chương trình xây dựng thực hiện giai
đoạn 2008 – 2010 (giai đoạn II). Từ Chương trình của Chính phủ các Bộ ngành và các
địa phương đã xây dựng kế hoạch thực hiện nghiêm túc bước đầu đạt những kết quả
nhất định:
Về số lượng, chất lượng đội ngũ công chức trong bộ máy HCNN đáp ứng tốt hơn
yêu cầu nhiệm vụ cụ thể: Tổng số công chức HCNN của nước ta (từ Trung ương đến
cấp huyện) là 270.943 người, trong đó: 94.246 người là công chức nữ chiếm 34,78%;
16.580 người dân tộc thiểu số, chiếm 6,12% được phân loại như sau:
Chuyên viên cao cấp và tương đương là 0,71%; Chuyên viên chính và tương
đương là 9,4%; Chuyên viên và tương đương là 54,67%; Cán sự và tương đương là 22,
- Một bộ phận không nhỏ công chức suy thoái phẩm chất, đạo đức, tham nhũng,
cửa quyền, thiếu ý thức trách nhiệm và tinh thần phục vụ, vô cảm trước yêu cầu của
nhân dân, xã hội dẫn đến mất lòng tin trong dân.
-3-
- Các giải pháp mang tính đổi mới theo hướng hiện đại hóa công tác quản lý đội
ngũ công chức (như: phân cấp, tăng cường trách nhiệm và thẩm quyền của người đứng
đầu các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công, xây dựng hệ thống thông tin quản lý đội ngũ
công chức.v.v ) chậm được triển khai dẫn đến còn nhiều cơ quan Nhà nước ôm đồm
nhiều việc và cản trở, can thiệp sâu vào hoạt động của các đơn vị cơ sở.
- Công tác tuyển dụng, sử dụng, thi tuyển, thi nâng ngạch, đánh giá, luân chuyển,
đề bạt công chức chậm thay đổi và còn nhiều bất cập, chưa phù hợp.
Những hạn chế của Chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công
chức Nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ là do các nguyên nhân chủ yếu
sau:
Thứ nhất: Một số kết quả dự kiến của Chương trình hành động số 4 của Chính
phủ “Chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Nhà nước giai
đoạn 2001-2010” chưa được hoàn tất như: chưa ban hành được cơ cấu công chức, quy
chế đánh giá công chức; chưa xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công chức.
Thứ hai: Công tác chỉ đạo, kiểm tra thực hiện còn chậm, thiếu kiên quyết, vì vậy
để phân biệt rõ công chức hành chính và viên chức sự nghiệp đòi hỏi các bộ ngành và
chính quyền địa phương các cấp phải chỉ đạo triển khai cụ thể các quy định của Nhà
nước về công chức trong phạm vi trách nhiệm của mình.
Thứ ba: Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức còn mang tính hình thức chưa trú
trọng đến chất lượng. Hiện tượng chạy bằng để hợp thức hóa vẫn còn xảy ra khá phổ
biến.
Thứ tư: Nhiều địa phương chưa thực hiện tốt Chương trình của Chính phủ cụ thể:
tuyển dụng công chức thiếu chất lượng sau đó lại đưa đi đào tạo dẫn đến vừa tốn thời
gian lại vừa tốn kinh phí đào tạo nhưng chất lượng không cao.
Thứ năm: Việc kiểm tra, thanh tra công vụ chưa được thực hiện thường xuyên và
gắn với sử dụng; chế độ đãi ngộ cho công chức chưa đáp ứng yêu cầu…nguyên nhân:
một phần do cơ chế chính sách, do sự luân chuyển công tác từ cấp thành phố về cấp
tỉnh theo yêu cầu công việc. Một phần do sự thiếu chủ động trong công tác đào tạo, bồi
dưỡng và tạo nguồn của cấp thành phố dẫn đến sự hụt hẫng về số lượng, chất lượng
của đội ngũ công chức HCNN như hiện tại.
Để duy trì tốt hơn nữa thành tựu phát triển về kinh tế xã hội của Thành phố và
của Tỉnh, đội ngũ công chức của Tỉnh nói chung và của Thành phố nói riêng cần phải
phát huy hơn nữa sự sáng tạo của mình góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao
vượt mức Nghị quyết đã đề ra. Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn, cần có sự chung tay,
-5-
tiếp sức của nhiều cấp, nhiều ngành và cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm
thu hút và giữ chân nhân tài vì sự phát triển của Thành phố và của Tỉnh.
Do đó, việc chọn đề tài “nâng cao chất lượng đội ngũ công chức HCNN thành
phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang” là rất cần thiết để và sớm nghiên cứu nhằm tìm ra
những giải pháp thúc đẩy công chức cống hiến khả năng sáng tạo của mình để đưa Vị
Thanh trở thành thành phố trẻ, đầy tiềm năng về phát triển kinh tế và phấn đấu trở
thành đô thị loại II như Nghị quyết Thành phố đã đề ra đến năm 2015.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
2.1. Mục tiêu chung:
Xây dựng đội ngũ công chức hành chính Nhà nước đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa - hiện đại hóa, quá tình hội nhập kinh tế quôc tế và công cuộc cải cách hành chính.
Đặc biệt, để đáp ứng yêu cầu xây dựng thành phố Vị Thanh có nền hành chính hiện đại
đáp ứng yêu cầu thành phố trở thành đô thi loại II vào năm 2015.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng tình hình sử dụng công chức hành chính Nhà nước thành
phố Vị Thanh.
- Khảo sát, điều tra đánh giá chất lượng đội ngũ công chức hành chính Nhà nước.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính
Nhà nước thành phố Vị Thanh.
- Phòng Lao động - Thương binh xã hội: các chính sách cho người lao động đang
công tác và sự đãi ngộ cho người lao động…
- Chi cục Thống kê: số liệu về các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội.
5.2. Các thông tin số liệu sơ cấp:
Thu thập số liệu trực tiếp từ việc phỏng vấn và lấy ý kiến của công chức hiện
đang công tác tại các cơ quan hành chính Nhà nước thành phố Vị thanh.
-7-
6. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan:
Nghiên cứu về chất lượng đội ngũ công chức trong những năm gần đây, đã có
nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến đội ngũ công chức hành
chính Nhà nước ở nước ta như:
- Tác giả Tô Tử Hạ có nhiều công trình nghiên cứu về công chức (trong đó có
công chức HCNN) và đã được sử dụng để giảng dạy cho đội ngũ công chức hành
chính Nhà nước hiện nay. Qua một số công trình nghiên cứu, tác giả đã tập trung phân
tích, lý giải và làm rõ khái niệm công chức Nhà nước; vai trò của công chức trong
việc xây dựng nền hành chính quốc gia và định hướng trong xây dựng đội ngũ công
chức hành chính Nhà nước. Đặc biệt, nghiên cứu có đánh giá, so sánh giữa các quy
định về công chức của Việt Nam với quy định về công chức một số nước trên thế giới
(Anh, Pháp, Mỹ…) như: quy định về tuyển dụng, quy hoạch đào tạo…. từ đó đưa ra
một số giải pháp định hướng xây dựng đội ngũ công chức hành chính đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, cụ thể như đề tài nghiên cứu: Công chức và
vấn đề xây dựng đội ngũ công chức hiện nay; Một số giải pháp để xây dựng đội ngũ
công chức hành chính hiện nay…
- Luận án Tiến sĩ “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính Nhà
nước tỉnh Hải Dương”, của tác giả Nguyễn Kim Diện năm 2008 do Phó giáo sư Tiến
sĩ Nguyễn Tiệp và Phó giáo sư Tiến sĩ Vũ Mai hướng dẫn. Luận án đã dựa trên cơ sở
các quan điểm lý luận, tổng kết thực tiễn và kế thừa kết quả của nhiều công trình đi
trước, tác giả đã phân tích, lý giải, hệ thống hoá các căn cứ khoa học của việc nâng cao
chất lượng đội ngũ công chức HCNN. Từ đó, đưa ra một hệ thống các quan điểm,
những hạn chế và nguyên nhân của thực trạng. Từ đó, làm tiền đề để xây dựng một số
giải pháp nâng cao chất lượng công chức HCNN thành phố Vị Thanh đáp ứng yêu cầu
của nền kinh tế thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
- Làm rõ và đưa ra phương pháp tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch, đào tạo và
những giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng công chức HCNN thành phố Vị
Thanh đáp ứng thời kỳ mới.
8. Bố cục luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn bao gồm các phần sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu.
Chương 2: Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ công chức hành chính
Nhà nước thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính
Nhà nước thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
-9-
Chương 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Những vấn đề cơ bản về công chức Nhà nước
1.1.1 Khái niệm công chức hành chính Nhà nước:
1.1.1.1. Khái niệm chung về công chức:
Chế độ công chức ra đời ở các nước tư bản phương tây vào nữa cuối thế kỷ
XIX. Sau cuộc cách mạng công nghiệp, sự phát triển của nền kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội ở các nước tư bản là động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển của chế
độ công chức. Trong đó “nhân vật” trung tâm của chế độ công chức là người công
chức với cơ cấu, tiêu chuẩn, số lượng hợp lý đáp ứng hoạt động của nền hành chính.
[20].
Từ đó công chức được hiểu là những công dân được tuyển dụng và bổ nhiệm
giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa
phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ
ngân sách Nhà nước [20].
hội điều chỉnh, bổ sung một số điều của Pháp lệnh công chức và thông qua ngày 29-4-
2003.
Do quá trình phát triển kinh tế của đất nước và quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế nên Quốc hội đã phải xây dựng và điều chỉnh Pháp lệnh về công chức cho phù hợp.
Cho nên đến năm 2008 Quốc hội đã ban hành Luật công chức. Theo Luật công chức ,
công chức được khái niệm là “ công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Ðảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan,
hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập của Ðảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây
gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật”. [23]
1.1.1.2. Khái niệm công chức hành chính Nhà nước:
“Quản lý Nhà nước (QLNN) còn được gọi là quản lý hành chính Nhà nước
(HCNN) là hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện quyền lực Nhà nước. Đó
chính là chức năng quan trọng nhất của bất kỳ Nhà nước nào. “Theo nghĩa rộng,
-11-
QLNN là sự tổ chức và quản lý sự vụ hữu quan của mọi tổ chức và đoàn thể xã hội,
theo nghĩa hẹp là hoạt động quản lý HCNN do Chính phủ đại diện Nhà nước thực thi
và bảo đảm bằng sức cưỡng chế của Nhà nước”. [Mai Hữu Khuê, 2002, tr.600, dẫn
theo Nguyễn Kim Diện, 2008].
Từ khái niệm về QLNN như trên ta có thể định nghĩa công chức HCNN là:
những người hoạt động trong các cơ quan HCNN từ Trung ương đến địa phương đảm
nhiệm những chức năng về quản lý Nhà nước.
1.1.2. Vai trò công chức hành chính Nhà nước:
QLNN có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nền kinh tế của
lực kinh tế để tác động, quản lý, điều tiết nền KTTT.
+ Công chức HCNN là nguồn lực quan trọng và trực tiếp tham gia xây dựng
đường lối đổi mới kinh tế của đất nước, hoạch định các chính sách, chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội.
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế,
vai trò của công chức HCNN càng trở nên quan trọng bởi những nguyên nhân sau:
[22]
Thứ nhất: Nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển toàn diện, dẫn đến sự cạnh
tranh trên thị trường càng quyết liệt. Do đó, đòi hỏi các thành phần kinh tế, đội ngũ
quản lý phải hoạch định những chiến lược dài hạn để đối phó với những thách thức
của cơ chế thị trường và phát triển bền vững
Thứ hai: Tác động của các quyết định quản lý đối với xã hội thực tiễn trong
điều kiện mới vừa sâu sắc, vừa lâu dài. Các quyết định này có thể đem lại hiệu quả
lớn, nhưng cũng có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng. Do đó, đòi hỏi công chức
HCNN phải có trách nhiệm cao về chất lượng và tính khoa học trong các quyết định
quản lý.
Thứ ba: Sự tăng nhanh khối lượng tri thức và độ phức tạp của cơ cấu tri thức,
trong đó có tri thức kinh tế và quản lý kinh tế hiện đại, sự xuất hiện hệ thống thông tin
hiện đại: bao gồm cả thông tin quản lý đã và đang được mở rộng, đòi hỏi đội ngũ công
chức HCNN phải có khả năng, trình độ để xử lý thông tin mang lại hiệu quả trong
công việc.
1.1.3. Một số đặc điểm của công chức hành chính Nhà nước:
Từ những phân tích trên và từ thực tiễn, cho chúng ta thấy rằng ở mỗi một quốc
gia sẽ có những quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức, trong đó sự biểu
hiện khác biệt lớn nhất là đối tượng, phạm vi công chức, sự khác nhau chính là ở chỗ
xác định ai là công chức HCNN. Tuy có sự khác nhau nhưng nhìn chung đều cho rằng
-13-
một công chức HCNN của một quốc gia nào đó nếu có đủ các đặc điểm sau đây đều là
công chức: [18]
- Là công dân của quốc gia đó.
thư ký, nhân viên văn phòng, văn thư…
+ Thứ hai: tính chất ngạch công chức, bao gồm:
Ngạch chuyên viên: là công chức có trình độ đại học hoặc tương đương, có
trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong hệ thống quản lý Nhà nước tổ chức quản lý một
vấn đề nghiệp vụ hoặc quản lý một lĩnh vực.
Ngạch chuyên viên chính: là công chức chuyên môn nghiệp vụ trong hệ thống
quản lý Nhà nước giúp lãnh đạo chỉ đạo, quản lý một lĩnh vực nghiệp vụ.
Ngạch chuyên viên cao cấp: là công chức chuyên môn nghiệp vụ cao nhất của
ngạch trong hệ thống quản lý Nhà nước, giúp lãnh đạo ngành (ở cấp vụ đối với lĩnh
vực có nghiệp vụ và có độ phức tạp cao; cấp tỉnh là giúp lãnh đạo UBND tỉnh trong
các lĩnh vực tổng hợp để chỉ đạo quản lý lĩnh vực công tác đó).
+ Thứ ba: các yêu cầu kỹ năng như khả năng giao tiếp, kỹ thuật xử lý công
việc, quan hệ công tác, khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình
công tác…
Tóm tại: Lao động công chức HCNN là một loại lao động trí tuệ phức tạp. Vì
quản lý Nhà nước là một lĩnh vực đa ngành, đa lĩnh vực, do đó đòi hỏi công chức ở
ngành, ở lĩnh vực đó phải có một trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định.
1.1.4. Phân loại công chức hành chính Nhà nước:
Phân loại công chức là khâu rất quan trọng, nó có vai trò quyết định đến hiệu
quả công việc quản lý HCNN. Lịch sử khoa học hành chính đã xác nhận tầm quan
trọng và tính ưu việt của chế độ phân loại công chức và nó trở thành nội dung thiết
yếu, trọng tâm trong công cuộc cải cách hành chính và cải cách nền công vụ của mỗi
quốc gia.
Theo giáo sư hành chính học Hoa Kỳ ông I.A.Whiet cho rằng: “Việc quản lý
nhân sự trong thời đại hiện nay có hai trụ cột, cột trụ thứ nhất là tuyển chọn nhân tài,
cột trụ thứ hai là phân loại công chức; không thể thiếu được một trong hai cái đó”.
Còn theo một nhà khoa học hành chính khác là ông Weiloubei nói rõ thêm “Phân loại
công chức là điểm khởi đầu của công tác nhân sự, đồng thời cũng là nền móng của
công tác hành chính nhân sự”. [20]
-15-
Hình 1.1. Phân loại công chức theo Pháp lệnh công chức năm 2003
CÔNG CHỨC
Công chức
HCNN
(QLNN)
Công chức trong các
cơ quan Đảng, Đoàn
thể công chức xã,
phường, thị trấn
Công chức thuộc các
cơ quan dân cử, cơ
quan tư pháp và lực
lượng vũ trang