LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức quản
lý nhà nước đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước

mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Công chức quản lý nhà nước (hay còn gọi là công chức hành chính nhà nước) là một

IX (4/2001).
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công chức, chất lượng công chức là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu, là đề tài được hội thảo tại nhiều hội nghị trong nước và quốc tế.
Tác giả Tô Tử Hạ có nhiều công trình nghiên cứu về công chức nhà nước, nhiều tác
phẩm được sử dụng như là giáo trình giảng dạy về công chức hành chính nhà nước cho
đội ngũ công chức hiện nay. Trong các tác phẩm của mình, tác giả Tô Tử Hạ đã tập trung
phân tích, lý giải làm rõ khái niệm cán bộ, công chức nhà nước; vai trò của cán bộ, công
chức trong xây dựng nền hành chính quốc gia, định hướng trong xây dựng đội ngũ công
chức Nhà nước Việt Nam.
Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ đã có Báo cáo tổng hợp đề tài
“Năng lực, hiệu quả, hiệu lực quản lý hành chính Nhà nước: thực trạng, nguyên nhân và
giải pháp”. Đề tài này tập trung vào nghiên cứu về hiệu lực quản lý hành chính nhà nước,
trong đó đã đặt công chức hành chính nhà nước trong mối quan hệ với việc nâng cao hiệu
quả và hiệu lực quản lý hành chính nhà nước. Đề tài đã phân tích đánh giá về đội ngũ
công chức hành chính nhà nước xác định những ưu điểm và những yếu kém của công
chức hành chính nhà nước và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công
chức hành chính nhà nước.
Tháng 11-2003, Bộ Nội vụ đã có báo cáo về “Chương trình tổng thể cải cách hành
chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010 và các văn bản triển khai”, trong đó đã trình bày
những phương hướng và biện pháp cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và
chương trình, kế hoạch đào tạo, phát triển công chức hành chính Việt Nam trong giai
đoạn 2001-2010. Trong Chương trình này vấn đề chất lượng công chức hành chính nhà
nước và nâng cao chất lượng công chức nhà nước được đặc biệt nhấn mạnh.
Nhà xuất bản chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách “Luận cứ khoa học cho việc

nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước”
(3-2001). Tác phẩm này đã phân tích, xây dựng luận cứ khoa học và nội dung của CNH-
HĐH đất nước, yêu cầu của CNH-HĐH với việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức
nói chung.

nhiều bài viết trao đổi về Pháp lệnh công chức, bàn luận về những điều chưa hợp lý trong
Pháp lệnh cán bộ công chức (1998 và sửa đổi bổ sung năm 2000, năm 2003) và kiến nghị
xây dựng Luật về công chức ở Việt Nam.
Từ các nghiên cứu trên cho thấy:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về công chức nhà nước và chất lượng công
chức nhà nước thường nghiêng về tiếp cận theo hướng từ nền hành chính nhà nước, dựa
trên quan điểm của Quản lý hành chính nhà nước hoặc theo cách tiếp cận của Luật hành
chính; ít hoặc không thấy công trình tiếp cận theo hướng khoa học về quản trị nguồn nhân
lực. Do đó, trong Luận án này tác giả nghiên cứu đánh giá về chất lượng công chức quản
lý nhà nước và đưa ra các giải pháp trên cơ sở của khoa học về quản trị nguồn nhân lực.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu chủ yếu bàn luận về khái niệm cán bộ, công
chức, công chức hành chính, viên chức… và thường tập trung phân tích đánh giá về công
chức nhà nước nói chung ít đi sâu vào một nhóm công chức cụ thể. Vì vậy, trong đề tài
này tác giả Luận án đi sâu nghiên cứu đánh giá về chất lượng công chức lãnh đạo - một
bộ phận nguồn nhân lực quan trọng trong đội ngũ công chức quản lý nhà nước.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu thường đánh giá chất lượng công chức dựa trên
yêu cầu của công vụ trong bộ máy hành chính nhà nước, các giải pháp thường quan tâm
tới nâng cao chất lượng công chức để đảm bảo nâng cao năng lực, hiệu quả, hiệu lực của
nền hành chính quốc gia; còn ít đề tài nghiên cứu tới những thay đổi của các yếu tố bên
ngoài ảnh hưởng tới chất lượng công chức cũng như bộ máy quản lý. Trong đề tài này,
tác giả Luận án nghiên cứu đánh giá chất lượng công chức trong trạng thái động dưới sự
tác động của các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là những yêu cầu của quá trình CNH-HĐH đất
nước.
Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” làm đề tài

nghiên cứu của Luận án tiến sỹ của mình. Luận án tập trung đi sâu vào nghiên cứu đánh
giá, đề xuất những giải pháp nhằm góp phần nâng chất lượng công chức quản lý nhà nước
phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam hiện nay. Luận án này là kết quả nghiên
cứu của tác giả trên cơ sở vận dụng những kiến thức khoa học được học trong Nhà trường

nhà nước trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay).
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác cán bộ; quá trình nghiên cứu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử; phương pháp thống kê, nghiên cứu so sánh, phân tích, quy nạp, diễn dịch và
phương pháp thực chứng để phân tích làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
- Sử dụng điều tra qua bảng hỏi (Questionaires) và phỏng vấn (Interview) để thu
thập số liệu và phân tích. Để bổ sung thông tin, giúp cho nghiên cứu sâu về chất lượng
của công chức quản lý nhà nước, tác giả luận án đã tiến hành điều tra đánh giá bằng bảng
hỏi và tiến hành phỏng vấn một số cán bộ công chức ở các cơ quan trung ương và địa
phương (danh sách những người được phỏng vấn ở Phụ lục 1 của luận án).
Đối tượng điều tra qua bảng hỏi là các công chức nhà nước đang làm việc tại
cấp tỉnh, bao gồm những người có chức danh từ phó phòng (hoặc tương đương) trở
lên của các sở, ngành trực thuộc uỷ ban nhân dân 3 tỉnh Thái Nguyên, Quảng Trị và
Đồng Nai đại diện cho ba miền Bắc, Trung và Nam của Việt Nam. Tổng số phiếu
phát ra là 150 phiếu (mỗi tỉnh 50 phiếu), số phiếu thu về là 130, số phiếu hợp lệ là
124, trong đó 40 phiếu thuộc tỉnh Thái Nguyên, 45 phiếu thuộc tỉnh Đồng Nai và 39
phiếu thuộc tỉnh Quảng Trị. Mẫu phiếu điều tra và tổng hợp kết quả điều tra được thể
hiện ở Phụ lục 2 của Luận án.
5.2. Nguồn số liệu
- Số liệu thứ cấp: số liệu từ các báo cáo của các cơ quan Đảng và cơ quan quản lý
nhà nước Việt Nam (như Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ, Văn phòng Chính
phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê, ); các kết quả đã công bố

của các cuộc điều tra khảo sát và đề tài nghiên cứu khoa học do các cơ quan trong nước
và quốc tế thực hiện.
- Số liệu sơ cấp: thông tin và số liệu thu được qua điều tra bằng bảng hỏi do tác giả
luận án thực hiện tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Quảng Trị, Đồng Nai và thông tin thu được từ
phỏng vấn sâu một số công chức quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương.

hành chính Nhà nước nói riêng, xét cho cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và
hiệu quả của đội ngũ cán bộ, công chức.
Công chức là danh từ dùng để chỉ những người thừa hành các quyền lực nhà nước,
chấp hành các công vụ của nhà nước. Sự ra đời của chế độ công chức là một bước phát
triển quan trọng trong lịch sử phát triển và hoàn thiện của các tổ chức nhà nước, là mốc
son đánh dấu của sự văn minh trong hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực kinh tế-xã
hội. Xã hội càng phát triển hiện đại, càng cần một chế độ công chức tiên tiến để bảo đảm
quản lý và thúc đẩy xã hội phát triển một cách đồng bộ.
Vào nửa cuối thế kỷ XVIII chế độ công chức đã ra đời ở các nước tư bản phương
Tây, phản ánh nhu cầu khách quan của lịch sử phát triển nhà nước.
Sau cuộc cách mạng công nghiệp, sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở
các nước tư bản là động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển chế độ công chức. “Nhân
vật” trung tâm của chế độ công chức là người công chức nói riêng và đội ngũ công chức
nói chung với những tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu đáp ứng yêu cầu hoạt động của bộ
máy hành chính nhà nước.
Vậy công chức là gì ? Mỗi một quốc gia có quan niệm và định nghĩa khác nhau về
công chức, sau đây là một số quan niệm và định nghĩa công chức có tính đặc trưng.
Theo luật Công chức của Cộng hoà Pháp, công chức nhà nước được định nghĩa như
sau:

Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công
sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà
nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức
địa phương thuộc các hội đồng địa phương quản lý. [13, tr 15].

Luật công chức của Vương quốc Anh, ngay từ năm 1859, đã quy định công chức
nhà nước bao gồm hai bộ phận, cụ thể như sau:
Bộ phận thứ nhất là những người do nhà Vua Anh trực tiếp bổ nhiệm hoặc được Uỷ
ban dân sự cấp giấy chứng nhận hợp lệ cho phép tham gia công tác ở cơ quan dân sự. Bộ
phận thứ hai là những người mà toàn bộ tiền lương được cấp từ ngân sách thống nhất của

hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức. Họ chiếm tuyệt
đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính
sách và pháp luật” [20, tr 23].
Theo Luật của Vương quốc Thái Lan: “Công chức là những người được phân công
và được bổ nhiệm một công việc của Chính phủ và nhận lương phù hợp ở một bộ, cơ
quan nhà nước hay cơ quan thuộc Chính phủ” [20, tr 83].
Từ những cách quan niệm về công chức của một số quốc gia nêu trên, chúng ta có
thể thấy rằng công chức thường được hiểu một cách chung là những công dân, được
tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước
ở trung ương hay địa phương, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chịu sự điều
chỉnh của luật công chức.
ở Việt Nam, ngay buổi đầu xây dựng Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày
29/5/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 188/SL quy định về chức danh
viên chức Nhà nước gồm 5 hạng: Tá sự, cán sự, tham sự, kiểm sự và giám sự. Đây là văn
bản khởi đầu tạo cơ sở cho việc xây dựng đội ngũ công chức sau này của Nhà nước Việt
Nam. Đến ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công
chức, trong đó công chức được định nghĩa là: “Những công dân Việt Nam, được chính
quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ quan của Chính
phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt
do Chính phủ định” [13, tr 217]. Suốt một thời gian dài không có một văn bản nào của
Nhà nước phủ định tính pháp lý của Sắc lệnh 76/SL, nhưng do hoàn cảnh đất nước trải
qua hai cuộc chiến tranh liên tiếp và kéo dài, nên những nội dung quy định trong Sắc lệnh
76/SL đã không được thực hiện đầy đủ. Tuy vậy, Sắc lệnh này đã tạo tiền đề, cơ sở để
hình thành và phát triển đội ngũ công chức Việt Nam.

Sau khi thống nhất đất nước, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước trong
điều kiện mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ công chức chính quy, hiện đại; Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trong văn bản chỉ đạo ngày
25/8/1995 đã chỉ rõ:
ở nước ta, sự hình thành đội ngũ cán bộ, viên chức có đặc điểm khác các nước. Cán

làm việc trong trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn
vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;
e. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ
chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);
g. Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ
thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Cán bộ công chức được quy định tại điểm a,b,c,đ,e,g và h khoản 1 Điều này được
hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cán bộ, công chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều
này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định
của pháp luật” [32, tr 41, 42].

Từ những dẫn chứng nêu trên cho thấy mỗi một quốc gia có những quan niệm khác
nhau trong xác định đối tượng, phạm vi công chức, hay nói cách khác sự khác nhau ở chỗ
xác định ai là công chức nhà nước. Song nhìn chung các quan niệm, định nghĩa trên đều
cho rằng một người lao động được coi là công chức nhà nước của một quốc gia nào đó
nếu có đủ các đặc trưng sau đây:
- Là công dân của quốc gia đó;
- Được tuyển dụng và làm việc trong cơ quan nhà nước;
- Được xếp vào một ngạch, một ngành chuyên môn;
- Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
- Được quản lý thống nhất và được điều chỉnh bằng luật riêng được gọi là luật
công chức.
Từ những khái niệm và phân tích nêu trên, có thể hiểu công chức nhà nước là

người được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào làm việc trong một cơ quan nhà nước ở
trung ương hay địa phương, giữ một công việc thường xuyên ở một ngạch trong hệ
thống ngạch bậc và được hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp.
2. Khái niệm công chức quản lý nhà nước

Trong nền hành chính các nước XHCN xuất phát từ vai trò của Đảng Cộng sản là
người lãnh đạo toàn diện mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế - xã hội và quốc phòng, an
ninh. Do vậy, mọi quá trình của hoạt động xã hội nói chung, vấn đề công chức trong bộ
máy hành chính nhà nước nói riêng đều do Đảng lãnh đạo, bố trí sắp xếp và điều hành.
Cuộc cách mạng XHCN với những đặc thù riêng đã ảnh hưởng lớn đến sự hình thành đội
ngũ công chức quản lý nhà nước XHCN. Việc tuyển chọn công chức nói chung, công
chức hành chính nói riêng có thiên hướng về chính trị, đạo đức hơn là về tài năng, trình
độ chuyên môn; nặng về trách nhiệm tập thể hơn là trách nhiệm cá nhân.
* Trong nền hành chính Việt Nam
ở Việt Nam, trong giai đoạn trước năm 1954, do hoàn cảnh chiến tranh nên chế độ
công chức nói chung và công chức quản lý nhà nước nói riêng chưa được thực hiện một
cách đầy đủ, đúng nghĩa của nó như Quy chế về quản lý công chức được Chủ tịch Hồ
Chí Minh ban hành trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950. Đến năm 1954 sau khi miền
Bắc được giải phóng, công chức quản lý nhà nước mới dần được hình thành cùng với
quan niệm chung là “cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước”. Đội ngũ công chức bao
gồm những người trưởng thành từ trong thực tiễn đấu tranh cách mạng và được sắp xếp,
bổ nhiệm đảm nhiệm các chức vụ trong hệ thống chính trị các cấp. Do hoàn cảnh đất
nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, nên một thời gian dài hoạt động của bộ máy
Nhà nước chủ yếu tập trung chỉ đạo chiến tranh, chưa có điều kiện xây dựng đội ngũ công
chức nói chung và công chức quản lý nhà nước nói riêng.
Thời kỳ này, chúng ta quan niệm tất cả những người làm việc trong cơ quan Nhà
nước, các đoàn thể, các tổ chức, các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu toàn dân đều
được gọi chung là cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước. Vì vậy, thời kỳ này Việt Nam
chưa có đội ngũ công chức quản lý nhà nước chuyên nghiệp, phục vụ một cách ổn định
trong bộ máy hành chính Nhà nước.

Trong văn bản chỉ đạo ngày 25/8/1995 của Bộ Chính trị đã nêu ở phần trên, có viết:
Cần có một pháp lệnh có phạm vi điều chỉnh chung đối với cán bộ trong trong toàn
hệ thống chính trị, bao gồm: các công chức nhà nước (trong đó có công chức làm việc ở
cơ quan quân đội, cảnh sát, an ninh…), cán bộ làm việc chuyên trách ở các cơ quan đảng,

năm 2003, thì cán bộ công tác ở cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) đã được công nhận là
công chức, trong số công chức này công chức quản lý nhà nước được xác định bao gồm
một số chức danh chủ yếu như chủ tịch và phó chủ tịch uỷ ban nhân dân.
Tóm lại, công chức quản lý nhà nước là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ công
chức, là chủ thể của bộ máy hành chính Nhà nước, được đào tạo, bổ nhiệm theo một hệ
thống riêng và mang tính ổn định; thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, bảo đảm thực
thi quyền lực hành chính của Nhà nước đối với xã hội. Có vai trò quyết định trong tổ
chức quá trình ra quyết định, quản lý và hướng dẫn, tổ chức thực hiện các chính sách,
quyết định của nhà nước.
1.1.2. Phân loại công chức quản lý nhà nước
Phân loại công chức quản lý nhà nước cũng tuân theo các tiêu chí phân loại chung
của cả đội ngũ công chức. Phân loại công chức là yêu cầu tất yếu của công tác quản lý
nguồn nhân lực. Phân loại công chức giúp cho việc xây dựng quy hoạch đào tạo công
chức đúng đối tượng theo yêu cầu nội dung, công tác và đưa ra những căn cứ cho việc
xác định biên chế các công chức một cách hợp lý. Phân loại công chức hợp lý giúp cho
việc đề ra những tiêu chuẩn khách quan trong việc tuyển dụng người vào làm việc trong
các cơ quan nhà nước và là cơ sở để xác định cơ cấu tiền lương một cách khoa học. Qua việc
phân loại công chức còn giúp cho việc tiêu chuẩn hoá, cụ thể hoá việc sát hạch, kiểm tra,
giám sát, đánh giá năng lực thực hiện công việc của công chức.
Thông thường, việc phân loại công chức của Việt Nam theo hệ thống chức nghiệp
được thực hiện theo các tiêu chí như: theo vai trò vị trí, theo trình độ đào tạo, theo chuyên
môn, nghiệp vụ, theo ngạch bậc và phân loại theo phân cấp quản lý hành chính.
Phân loại theo trình độ đào tạo:
Theo trình độ đào tạo công chức được phân thành các loại theo trình độ đào tạo mà
họ đạt được (đại học và trên đại học, trung cấp, sơ cấp, dưới sơ cấp). Theo quy định Nghị

định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Thủ tướng Chính phủ, công chức được
phân theo trình độ đào tạo bao gồm các loại A, B, C, D.
o Công chức loại A là những công chức có trình độ đào tạo chuyên môn từ đại học
trở lên.

kỹ thuật, nhân viên văn thư, nhân viên phục vụ, lái xe cơ quan, nhân viên bảo vệ.
o Chuyên viên là công chức chuyên môn nghiệp vụ trong hệ thống quản lý Nhà
nước và quản lý sự nghiệp giúp lãnh đạo các đơn vị cấu thành (phòng, ban, sở cục, vụ) tổ
chức quản lý một lĩnh vực hoặc một vấn đề nghiệp vụ.
o Chuyên viên chính là công chức chuyên môn nghiệp vụ trong hệ thống quản lý
Nhà nước, quản lý sự nghiệp giúp lãnh đạo các đơn vị cấu thành (vụ, cục) lãnh đạo cấp
tỉnh (sở, Uỷ ban nhân dân) chỉ đạo quản lý một lĩnh vực nghiệp vụ.
o Chuyên viên cao cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ cao nhất của ngành về
một lĩnh vực lớn trong hệ thống quản lý Nhà nước, giúp lãnh đạo ở cấp bộ, ngành (từ cấp
vụ trở lên đối với lĩnh vực có nghiệp vụ có độ phức tạp cao) hoặc giúp lãnh đạo Uỷ ban
nhân dân tỉnh (trong các lĩnh vực tổng hợp) về chỉ đạo và quản lý lĩnh vực công tác đó.
Phân loại theo phân cấp quản lý hành chính:
Hệ thống hành chính Nhà nước Việt Nam được phân thành bốn cấp từ Trung ương
tới cơ sở, tương đương với hệ thống hành chính này, công chức quản lý nhà nước cũng
được phân loại thành bốn cấp:
o Công chức quản lý nhà nước cấp Trung ương: gồm công chức quản lý nhà nước
làm việc trong các Bộ, Ngành ở Trung ương, cơ quan trực thuộc Chính phủ hoặc cơ quan
Chính phủ.
o Công chức quản lý nhà nước cấp tỉnh (hoặc thành phố trực thuộc Trung ương):
gồm các công chức làm việc tại uỷ ban nhân dân, các sở, ban, ngành của tỉnh (hoặc thành
phố trực thuộc Trung ương).
o Công chức quản lý nhà nước cấp huyện (hoặc tương đương): bao gồm các công
chức làm việc tại uỷ ban nhân dân, các phòng, ban, ngành của huyện (hoặc tương đương).
o Công chức quản lý nhà nước cấp cơ sở: bao gồm các công chức làm việc tại cơ
quan hành chính cấp cơ sở (UBND xã, phường, thị trấn).

1.1.3. Vai trò của công chức quản lý nhà nước
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động tổ chức và điều hành để thực
hiện quyền lực nhà nước - là hoạt động điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt
động của con người bằng quyền lực nhà nước. Trong đó công chức quản lý nhà nước là

- Đại diện
- Lãnh đạo
- Liên hệ
Vai trò thông tin:
- Theo dõi
- Thông báo
- Người phát
ngôn
Vai trò ra quyết định:
- Phát hiện và phát
triển ý tưởng
- Giải quyết mâu
thuẫn
-

Phân b
ổ nguồn
Hình 1.1: Vai trò của người quản lý
Nhóm vai trò quan hệ:
1. Vai trò đại diện
Người quản lý có vai trò đại diện cho tổ chức, nhà quản lý phải thực hiện một số
công việc có tính chất lễ nghi. Chẳng hạn, người quản lý phải chào đón những đoàn
khách tham quan, tiếp khách Các công việc này là cần thiết để làm cho hoạt động của
tổ chức trở nên trôi chảy và do đó nhà quản lý không thể không quan tâm đến chúng.

5. Vai trò thông báo
Các nhà quản lý phải chia sẻ và phân phối phần lớn những thông tin thu nhận được.
Thông tin mà họ có được từ các liên hệ cá nhân bên ngoài có thể cần thiết cho nội bộ tổ
chức. Với vai trò thông tin, nhà quản lý chuyển trực tiếp một số thông tin bí mật cho
người dưới quyền của mình - những người không có điều kiện tiếp cận với thông tin đó.
Hơn nữa, khi người dưới quyền của mình gặp khó khăn trong việc liên hệ với nhau để có
thông tin, nhà quản lý đôi khi sẽ thực hiện chuyển tin từ người này sang người khác.
6. Vai trò người phát ngôn
Thực hiện vai trò này, nhà quản lý chuyển một số thông tin của mình cho những
người ở bên ngoài đơn vị của mình, chẳng hạn chủ tịch công ty thường tổ chức các buổi
nói chuyện để thuyết phục người khác đáp ứng một nhu cầu của công ty. Thêm vào đó,
với vai trò người phát ngôn, mỗi nhà quản lý phải thông tin đến và làm thoả mãn những
người có ảnh hưởng tức là những người có quyền kiểm soát đơn vị của anh (chị) ta.
Nhóm vai trò ra quyết định:
Nhà quản lý giữ vai trò chủ chốt trong hệ thống ra quyết định của đơn vị mình phụ
trách. Nhờ có thẩm quyền, nhà quản lý có thể làm cho đơn vị theo sát các giai đoạn hành
động quan trọng; ở vị trí trung tâm, nhà quản lý có thông tin đầy đủ và cập nhật để đưa ra

một loạt các quyết định tạo nên chiến lược của đơn vị. Nhà quản lý có bốn vai trò với tư
cách người ra quyết định.
7. Vai trò phát hiện và phát triển ý tưởng
Nhà quản lý thường tìm cách cải tiến đơn vị của mình cho thích ứng với các điều
kiện của môi trường. Với vai trò người theo dõi, nhà quản lý luôn tìm kiếm các ý tưởng
mới; khi một ý tưởng hay xuất hiện, anh (chị) ta xúc tiến một kế hoạch trên dự án phát
triển, có thể do anh (chị) ta giám sát hoặc cử nhân viên khác giám sát.
8. Vai trò giải quyết mâu thuẫn
Nếu trong vai trò phát hiện và phát triển ý tưởng, nhà quản lý bắt đầu sự thay đổi
một cách tự nguyện thì ở vai trò giải quyết mâu thuẫn, anh (chị) ta phải đối phó với sự
thay đổi một cách không tự nguyện.
Trong thực tế, các nhà quản lý phải mất khá nhiều thời gian vào việc đối phó với

Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì
động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng bị tê liệt. Cán bộ là những người đem chính
sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách
hay cũng không thể thực hiện được. [18, tr 251].
Về vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là
cái gốc của mọi công việc” [18, tr 26], “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ
tốt hay kém” [18, tr 273]. Trong bài phát biểu khai mạc tại Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương lần thứ 3 Khoá VIII về Chiến lược công tác cán bộ trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nói: “Đảng ta đã nhiều lần khẳng
định: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Trong xây dựng đảng
thì công tác cán bộ là quan trọng nhất, là khâu then chốt nhất của vấn đề then chốt".
Phát biểu trong Hội nghị Tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2003, tại Hội
trường Ba Đình, ngày 24-3-2004, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “Cán bộ là nhân
tố quyết định thành công của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ, là
khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Không có đội ngũ cán bộ tốt thì đường lối,
nhiệm vụ chính trị đúng cũng không thể trở thành hiện thực”.
Như vậy, với những đặc thù riêng, công chức quản lý nhà nước Việt Nam còn thể

hiện những vai trò sau:
 Công chức quản lý nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc đổi mới xây
dựng đất nước. Đội ngũ công chức có đầy đủ phẩm chất chính trị, có trình độ chuyên môn
và năng lực tổ chức, có tinh thần trách nhiệm cao sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp chung
của quốc gia, là lực lượng nòng cốt, luôn đóng vai trò chủ đạo trong thực hiện các nhiệm
vụ quan trọng ở mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước.
 Công chức quản lý nhà nước là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị, có
vai trò đưa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trở thành thực tiễn. Tiếp thu và
thực hiện nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống đặt
ra để phản ảnh cho nhà nước kịp thời có chủ trương, chính sách sát thực để giải quyết.
 Công chức quản lý nhà nước là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định
trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước các cấp, là một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status