LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên
ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang trong
giai đoạn hiện nay

Mở ĐầU
1.Tính cấp thiết của đề tài

chưa nghiêm”[43,tr. 188].
Chính vì những lẽ đó, nên để đảm bảo cho Đảng ta vững mạnh về mọi mặt,
xứng đáng là đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân (GCCN), của nhân dân
lao động và của cả dân tộc, đủ sức lãnh đạo xã hội, đất nước phát triển một cách toàn
diện, vững chắc, Đảng đã chỉ đạo một cách kiên quyết: phải tiếp tục thực hiện mạnh
mẽ hơn nữa các nghị quyết về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nhất là Nghị quyết Trung
ương 6 (lần 2) khoá VIII, tinh thần của Nghị quyết Đại hội IX và các Nghị quyết
Trung ương tiếp theo của khóa IX, đặc biệt là những nội dung về xây dựng Đảng của
Nghị quyết Trung ương 9, khoá IX mới đây. Trong đó, công tác giáo dục chính trị tư
tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, làm trong sạch, nâng
cao chất lượng đội ngũ đảng viên (NCCLĐNĐV) là một trong những nội dung xây
dựng, chỉnh đốn Đảng vừa mang tính bức thiết, cấp bách đồng thời cũng vừa có ý
nghĩa chiến lược lâu dài.
An Giang là một tỉnh trọng điểm nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long,
thuộc khu vực biên giới Tây Nam Bộ, với địa hình khá phong phú, đa dạng và phức
tạp. Một mặt, An Giang là tỉnh có đồng bằng với những sông ngòi chằng chịt, mang
đầy phù sa, mầu mỡ, rất thuận lợi cho việc phát triển nhiều mặt kinh tế-xã hội của tỉnh,
thuận tiện trong việc giao thông, quan hệ giao lưu nhiều chiều với các nước bạn Lào
và Campuchia láng giềng. Đồng thời mặt khác, An Giang lại có cả những vùng núi,
vùng dân tộc, khu biên giới, cửa khẩu, khu kháng chiến cũ, vùng sâu, vùng xa với điều
kiện thiên nhiên kém ưu đãi, đã và đang thực sự là những trở ngại, gây không ít những
khó khăn cho sự cố gắng và nỗ lực của cả Đảng bộ và nhân dân An Giang trong công
cuộc phát triển mọi mặt kinh tế-xã hội của tỉnh nhà. Nơi đây, tại các đảng bộ xã thuộc
tỉnh An Giang, ĐNĐV đang hoạt động, cũng đang rất cấp thiết và cấp bách trong việc
xây dựng, NCCLĐNĐV đáp ứng yêu cầu đòi hỏi bức xúc của nhiệm vụ chính trị
(NVCT) chung của cả nước và nhiệm vụ cụ thể, do đặc thù của tỉnh đang đặt ra. Với
nhận thức ý nghĩa của việc xây dựng, NCCLĐNĐV nói chung và xây dựng
NCCLĐNĐV ở các đảng bộ xã thuộc tỉnh An Giang nói riêng như vậy, nên tác giả
quyết định chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá đúng thực trạng chất lượng ĐNĐV
đang hoạt động ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang, qua đó xác định phương hướng và đề
xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm NCCLĐNĐV ở các đảng bộ của các xã này trong
giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Phân tích vai trò, đặc điểm của ĐNĐV hoạt động ở các đảng bộ xã tỉnh An
Giang hiện nay, đánh giá đúng thực trạng chất lượng ĐNĐV và chỉ ra những yêu cầu
mới về chất lượng ĐNĐV này. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm NCCLĐNĐV
ở các đảng bộ xã đó trong giai đoạn hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Luận văn nghiên cứu chất lượng ĐNĐV và hoạt động NCCLĐNĐV
ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng ĐNĐV hoạt
động ở tất cả các đảng bộ xã thuộc tỉnh An Giang thời gian từ 1996 đến 2010.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin (CNMLN), tư
tưởng Hồ Chí Minh (TTHCM) và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN)
về xây dựng Đảng nói chung và xây dựng ĐNĐV của Đảng nói riêng.
- Luận văn dựa trên hoạt động thực tiễn sinh động của ĐNĐV sinh hoạt ở các
đảng bộ xã thuộc tỉnh An Giang hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở thế giới quan khoa học và phương pháp luận duy vật mác-xít, luận
văn chủ yếu sử dụng các phương pháp như: gắn lý luận với thực tiễn; lôgic với lịch sử;
kết hợp giữa điều tra và khảo sát, phân tích và tổng hợp, trong đó đặc biệt chú trọng
tổng kết thực tiễn.


Chương 1
NÂNG CAO CHấT LƯợNG ĐộI NGũ ĐảNG VIÊN ở
CáC ĐảNG Bộ Xã TỉNH AN GIANG HIệN NAY- NHữNG VấN Đề Lý LUậN Và
THựC tiễn

1.1. Vị trí, vai trò và đặc điểm của đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã tỉnh
An Giang trong giai đoạn hiện nay
1.1.1. Đảng viên và đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang hiện
nay
Qua nghiên cứu một cách có hệ thống các quan điểm của CNMLN, TTHCM và
Đảng ta về xây dựng Đảng nói chung và xây dựng, NCCLĐNĐV nói riêng, chúng ta
nhận thức một cách sâu sắc rằng: những đặc trưng cơ bản, bản chất vốn có của người
đảng viên cộng sản chân chính và cơ sở hình thành những đặc trưng, bản chất đó;
những hệ thống các tiêu chuẩn, nguyên tắc, quy định về điều kiện, thủ tục, những biện
pháp căn bản, chủ yếu để lựa chọn kết nạp người vào Đảng, đã được C. Mác và Ph.
Ăngghen xác lập, đặt nền móng tư tưởng vững chắc ngay trong quá trình hai ông trực
tiếp viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và soạn thảo Điều lệ Liên đoàn của những
người cộng sản vào những năm 1847, 1848. Chính dựa trên nền tảng tư tưởng vững
chắc này, các chính đảng vô sản đã tiếp thu, bảo vệ, vận dụng và phát triển một cách
sáng tạo phù hợp điều kiện, thực tiễn sinh động của mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi thời kỳ
và giai đoạn cách mạng khác nhau, xây dựng, củng cố Đảng mình ngày càng vững
mạnh, tiến lên theo tiến trình cách mạng cho đến ngày nay.
Chúng ta đều biết, đảng viên ĐCSVN hay đảng viên của bất kỳ một Đảng

toàn không có nghĩa Đảng và ĐNĐV của Đảng chỉ là Người đại biểu cho quyền lợi
cục bộ, riêng tư của GCCN, tách biệt Đảng, ĐNĐV của Đảng và GCCN ra khỏi quần
chúng lao động khác, đối lập lợi ích của Đảng và GCCN với lợi ích của quần chúng
lao động còn lại, mà trái lại chính là để chỉ rõ rằng, Đảng và ĐNĐV của Đảng một khi
đã thực sự đứng vững trên lập trường GCCN, họ sẽ đấu tranh một cách kiên định, triệt
để cho sự nghiệp cách mạng chung của toàn thể nhân dân lao động. Nghĩa là, Đảng và
ĐNĐV của Đảng không những là đại biểu trung thành cho lợi ích của GCCN, mà họ
còn đồng thời là đại biểu đích thực cho quyền lợi của mọi tầng lớp quần chúng nhân
dân lao động. Đây mới chính là bản chất cách mạng đầy đủ nhất, thể hiện phẩm chất

đạo đức cao cả, trong sáng, lập trường tư tưởng tiên tiến, nhân văn vượt thời đại, riêng
có ở những người đảng viên cộng sản chân chính. C. Mác và Ph. Ănghen đã phân tích
rất sâu sắc và đi đến kết luận chính xác rằng, xã hội tư sản vận động và phát triển dựa
trên sự đối kháng giai cấp mà trước hết và chủ yếu là giữa GCVS và giai cấp tư sản.
Nền đại công nghiệp càng phát triển sẽ càng đẩy tất cả các tầng lớp lao động trung
gian khác, thậm chí kể cả một bộ phận nhỏ của giai cấp tư sản, bộ phận của giai cấp
thống trị, cũng đứng về cùng một phía, chung chiến hào với GCVS, bởi mục đích lợi
ích, mục tiêu cách mạng căn bản của tất cả họ với GCVS ngày càng thống nhất làm
một:
Những nhà tiểu thủ công nghiệp, tiểu thương và người thực lợi nhỏ, thợ thủ
công và nông dân, tất cả tầng lớp dưới của giai cấp trung gian xưa kia, đều rơi xuống
hàng ngũ của giai cấp vô sản [59,tr.550-551] Hơn nữa như chúng ta vừa thấy, từng
bộ phận trọn vẹn của giai cấp thống trị bị sự tiến bộ của công nghiệp đẩy vào hàng ngũ
giai cấp vô sản lúc mà đấu tranh giai cấp tiến gần đến giờ quyết định đến nỗi bộ
phận nhỏ của giai cấp thống trị tách ra khỏi giai cấp này và đi theo giai cấp cách
mạng [59, tr, 553-554].
Giai cấp thống trị tư sản không chỉ là kẻ thù riêng của GCVS mà là kẻ thù chung
của tất cả các tầng lớp lao động: “Các tầng lớp trung đẳng, những nhà tiểu công
nghiệp, tiểu thương, thợ thủ công, nông dân, tất cả đều đấu tranh chống giai cấp tư sản
vì giai cấp này là một nguy cơ cho sự sống còn của họ ”[59,tr.554]. Như vậy, mục

Đảng với giai cấp của nó là một khối hỗn độn phức hợp không rõ ràng, mà ngược lại,
giữa họ có một ranh giới phân biệt rất rành mạch không thể lẫn lộn được. Ranh giới để
phân biệt giữa Đảng và ĐNĐV của Đảng với toàn bộ giai cấp vô sản chính là vai trò
tiên phong riêng có của mình trên cả hai lĩnh vực lý luận và thực tiễn. Trên lĩnh vực lý
luận, lĩnh vực đặc thù của Đảng và ĐNĐV của Đảng, do được vũ trang bởi hệ thống lý
luận tiên tiến của chủ nghĩa xã hội mác-xít, nên Đảng và ĐNĐV có đủ kiến thức, trình
độ và khả năng nắm vững quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội, nhận thức một
cách rõ ràng, căn bản toàn bộ tiến trình đấu tranh cách mạng: “Về mặt lý luận, họ hơn
bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và
kết quả chung của phong trào vô sản”[58, tr.554]. Chính có được năng lực tư duy và
trình độ hiểu biết như vậy, nên đã dần xác lập cho người đảng viên cộng sản một trình
độ giác ngộ cách mạng rất cao, ý thức lợi ích giai cấp rất rõ ràng, và họ tự ý thức sâu
sắc rằng, chính họ chứ không phải ai khác có trách nhiệm luôn đặt lên hàng đầu và bảo

vệ lợi ích chung cho toàn thể GCVS ở bất kỳ giai đoạn nào của tiến trình cách mạng
mà không phân biệt cả biên giới, cả quốc gia và dân tộc:
Trong cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ
đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và
chung cho toàn thể giai cấp vô sản…trong các giai đoạn khác nhau của cuộc
đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của
toàn bộ phong trào [59,tr.557].
Cũng chính nhờ được trang bị thế giới quan khoa học và phương pháp luận duy
vật mác-xít với trình độ giác ngộ cách mạng rất cao, ý thức giai cấp rõ ràng như vậy,
nên trong hành động thực tiễn, Đảng và ĐNĐV của Đảng luôn tỏ ra rất kiên quyết,
luôn gương mẫu đi đầu trong mọi phong trào hành động cách mạng của quần chúng,
nhất là không ngừng chủ động nỗ lực và sáng tạo để luôn tìm được cho mình những
phương pháp, cách thức hợp lý, tối ưu trong việc vận động, cổ vũ, giáo dục, thức tỉnh
quần chúng, nâng nhận thức của các tầng lớp quần chúng lao động lên trình độ tiên
tiến, lôi cuốn và tổ chức họ cùng hành động đấu tranh vì sự nghiệp cách mạng chung:
“Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng

dân tộc”[38,tr.3], cho nên, trong cả nhận thức cũng như hành động, đảng viên của
Đảng không chỉ xuất phát từ lợi ích riêng của GCCN, chỉ đại biểu đại biểu cho lợi ích
của GCCN mà họ còn phải vì công cuộc đấu tranh kiên quyết, triệt để cho sự nghiệp
cách mạng chung của toàn thể nhân dân lao động, cho cả dân tôc. Nghĩa là, họ cũng
chính là lại đại biểu trung thành cho lợi ích của mọi tầng lớp nhân dân lao động và cho
cả dân tộc.
Bên cạnh khẳng định đảng viên là chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong của
GCCN Việt Nam nên họ là bộ phận của GCCN, nhưng trong khẳng định đó cũng cho
phép ta hiểu được rằng, họ không những không lẫn lộn và phân biệt với toàn bộ giai
cấp, với đông đảo quần chúng lao động mà trái lại, họ còn phải được phân biệt một
cách rành mạch, rạch ròi với bộ phận còn lại của giai cấp, với tất cả quần chúng lao
động ngoài Đảng. Ranh giới phân biệt giữa Đảng và ĐNĐV của Đảng với GCCN và
tất cả quần chúng lao động khác chính tính tiên phong của Đảng, tiên phong cả trong
nhận thức lý luận và trong hành động thực tiễn, mà bất cứ quần chúng lao động nào,
dù những quần chúng đó có ưu tú, tích cực đến mấy cũng chưa thể có được. Từ đó, ta
có thể khẳng định rằng, nếu có ai đó đã mang danh hiệu đảng viên mà thiếu, thậm chí

không có tính tiên phong như đã nói thì không thể coi là một đảng viên cộng sản thực
chất được.
Theo quan điểm C.Mác và Ph. Ăngghen như đã phân tích các phần trên đây cho
thấy, đảng viên cộng sản do được trang bị lý luận cách mạng tiên phong của chủ nghĩa
xã hôi khoa học, nên họ đã tự xác lập được một trình độ giác ngộ cao về lý tưởng cộng
sản chủ nghĩa với ý thức giai cấp rõ ràng, họ có đủ kiến thức và trình độ để nắm vững
quy luật khách quan, thấu hiểu đầy đủ tiến trình của cách mạng, nên trong thực tiễn họ
hành động rất kiên quyết, họ luôn ra sức tuyên truyền, vận động, cỗ vũ, lôi cuốn, thức
tĩnh và tổ chức đông đảo quần chúng công nhân và toàn thể nhân dân lao động cùng
nhận thức và hành động vì sự nghiệp cách mạng chung.
Do vậy, đã là đảng viên cộng sản thì trước tiên họ phải là những người tiên
phong về lý luận. Chính điều này mà V.I.Lênin, Người bảo vệ, vận dụng và phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác, sáng lập nên đảng vô sản kiễu mới của GCCN, đã đặc biệt

GCCN, đại biểu trung thành cho lợi ích GCCN, nhân dân lao động và cho cả dân tộc;
đồng thời, họ “không được lẫn lộn…với toàn bộ giai cấp”, với đông đảo các tầng lớp
quần chúng lao động, họ phải được phân biêt một cách rõ ràng bằng chính vai trò tiên
phong của mình trên cả lĩnh vực nhận thức lý luận và hành động thực tiễn. Họ phải là
những người có đủ lý luận tiên tiến nhất, giác ngộ lý tưởng cách mạng cao nhất và ý
thức giai cấp thật rõ ràng; trong hành đồng thực tiễn họ phải luôn chứng tỏ là những
người đi đầu và kiên quyết nhất; họ có trách nhiệm lôi cuốn và tổ chức quần chúng
cùng hành động vì sự nghiệp cách mạng chung của cả dân tộc.
Cho nên, đây cũng chính là tiêu chí căn bản, chung nhất làm căn cứ phân biệt
đảng viên với tất cả quần chúng lao động ưu tú ngoài Đảng và cũng là căn cứ chủ yếu,
làm cơ sở khoa học để các tổ chức đảng tiến hành các mặt công tác đảng viên như:
kiểm tra, đánh giá, phân loại, phân tích chất lượng từng đảng viên và cả ĐNĐV; làm
mục tiêu, phương hướng bồi dưỡng, giáo duc, rèn luyện, sàng lọc và phát triển đảng
viên mới; đó còn là chuẩn mực để cho từng đảng viên của Đảng làm mục tiêu tự phấn
đấu, tự bồi dưỡng, rèn luyện sao cho xứng đáng danh hiệu đảng viên; ngoài ra đây
cũng chính là mục tiêu, phương hướng để quần chúng ưu tú, tích cực ngoài Đảng tự
phấn đấu và rèn luyện để có thể được các tổ chức đảng xem xét kết nạp vào Đảng.
Qua tất cả những điều vừa phân tích và trình bày cùng với sự nghiên cứu đầy đủ,
thấu đáo tất cả các nội dung cụ thể còn lại được xác định trong tiêu chuẩn đảng viên
cho ta hiểu rằng, tất cả các nội dung yêu cầu cụ thể của tiêu chuẩn đảng viên có mối

quan hệ ràng buộc, phụ thuộc, tác động lẫn nhau thành một hệ thống thống nhất không
tách rời và không thể thiếu bất cứ nội dung cụ thể nào. Trong đó, điều đặc biệt quan
trọng chính là ta đã xác định được rằng, trong tổng thể hệ thống các nội dung yêu cầu
của tiêu chuẩn đảng viên, nội dung đầu tiên vừa phân tích đầy đủ, kỹ càng trên đây
chính là nội dung yêu cầu vừa có tính chất tiền đề đồng thời cũng chính là nội dung cốt
lõi, trọng tâm nhất trong hệ thống các nội dung của tiêu chuẩn đảng viên. Đây chính là
nội dung có tính quyết định, chi phối tất cả các nội dung yêu cầu còn lại trong toàn bộ
hệ thống các nội dung của tiêu chuẩn đảng viên.
Chúng ta có thể chứng minh những điều vừa khẳng định trên đây bằng một

Cũng tại điều 1 Điều lệ Đảng này, Đảng ta không quên xác định điều kiện cơ
bản cần phải hội đủ của một quần chúng tích cực có thể được xét công nhận là đảng
viên ĐCSVN, Điều lệ Đảng ghi rõ:
Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, thừa nhận và tự nguyện: Thực
hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên,
hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú,
được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét kết nạp vào Đảng [40,tr.7].
Theo quy định này, tổng thể các điều kiện mà quần chúng có thể được xét kết
nạp vào ĐCSVN phải bao gồm:
- Một là, người đang phấn đấu vào Đảng phải là: Công dân Việt Nam từ mười
tám tuổi trở lên. Nghĩa là những người phải có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một
công dân Việt Nam được hiến pháp Việt Nam hiện hành công nhận; có quốc tịch Việt
Nam và tại thời điểm chi bộ xét kết nạp họ ít nhất phải tròn mười tám tuổi đúng như
tinh thần hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương:
1.1 -"Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên"
a) Công dân Việt Nam: là những người có quốc tịch Việt Nam.
b) Từ mười tám tuổi trở lên: là những người tại thời diểm chi bộ xét kết nạp
đã tròn mười tám tuổi trở lên (tính theo tháng, năm sinh)
[13,tr.97]
- Hai là, người đang phấn đấu vào Đảng phải: Thừa nhận và tự nguyện: Thực
niện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động
trong một tổ chức cơ sở đảng. Điều đó có nghĩa hiện nay, những người có thể được xét
kết nạp vào Đảng: một mặt, họ phải am hiểu một cách thấu đáo, tường tận; quán triệt
một cách đầy đủ, chuẩn xác và đi đến hoàn toàn nhất trí với những nội dung, yêu cầu

của Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên được xác
định trong các văn kiện và Điều lệ của Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX;
đồng thời một mặt khác, trên cơ sở nhận thức, sự nhất trí đồng tình và thừa nhận đó,
họ còn phải chứng tỏ sự tự nguyện, quyết tâm phấn đấu để thực hiện nghiêm chỉnh,
đúng yêu cầu, nội dung của Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nhiệm vụ, tiêu chuẩn

của từng tổ chức đảng và nếu xảy ra một cách phổ biến trên diện rộng sẽ có thể dẫn
đến làm giảm sức mạnh cuả toàn Đảng. Bởi lẽ rất dễ hiểu là, khi được quần chúng ủng
hộ, tín nhiệm thì Đảng mới mạnh, nếu ngược lại, đương nhiên không thể tránh khỏi
làm cho Đảng suy yếu. Cũng chính lý do này mà V.I.Lênin thường nhắc nhở: “Quần
chúng lao động ủng hộ chúng ta. Sức mạnh của chúng ta là ở đó. Nguồn gốc khiến cho
chủ nghĩa cộng sản vô địch cũng là ở đó”[54,tr.258].
Từ tổng thể những phân tích và trình bày trên đây có thể cho phép ta khẳng định
rằng: ĐNĐV của Đảng Cộng sản chân chính nói chung và ĐNĐV của ĐCSVN nói
riêng, là tập hợp những chiến sỹ cách mạng tiên tiến, ưu tú nhất, giác ngộ nhất và kiên
quyết nhất trong đội tiên phong có tổ chức chặt chẽ nhất của GCCN, đứng vững trên
lập trường GCCN, đại biểu trung thành lợi ích của GCCN và toàn thể nhân dân lao
động. Suốt đời phấn đấu, hy sinh cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, lý tưởng của Đảng,
vì hạnh phúc của nhân dân. Họ là những tấm gương sáng, tiêu biểu trước quần chúng
trong các phong trào hành động cách mạng, họ có trách nhiệm vận động, thuyết phục,
giáo dục, cổ vũ, thức tĩnh, lôi cuốn và tổ chức quần chúng cùng hành động vì sự
nghiệp cách mạng chung, đấu tranh xoá bỏ chế độ xã hội cũ tư sản dựa trên sự đối
kháng giai cấp, sự áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội mới tự do, ấm no,
hạnh phúc, không còn áp bức, bất công và đối kháng giai cấp.
Từ nhận thức đó, liên hệ đến các đảng bộ các xã ở An Giang ta sẽ dễ dàng có thể
hiểu được rằng, ĐNĐV đang hoạt động tại các đảng bộ cơ sở ở các xã này cũng chính
là những chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong chính trị có tổ chức chặt chẽ nhất
của GCCN Việt Nam, họ là những đại biểu tiên tiến, ưu tú nhất được tuyển lựa chủ
yếu từ các tầng lớp quần chúng lao động của các xã trong tỉnh An Giang mà đa số là
nông dân. Họ đã được giác ngộ lý tưởng cộng sản, thế giới quan và phương pháp luận
khoa học của CNMLN, TTHCM và Đảng ta; họ đã được quán triệt và có ý thức chấp
hành nghiêm chỉnh những quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước, tự rời bỏ lập trường giai cấp xuất thân, nguyện đứng vào hàng
ngũ của Đảng; có ý thức, trách nhiệm trong việc giữ vững và kiên định lập trường

GCCN; chịu sự quản lý, giám sát của các tổ chức đảng ở cơ sở, quyết tâm phấn đấu

Trước tiên ta cần nhận thức rằng, tất cả các tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) cấp xã
nói chung và từng đảng bộ cơ sở ở các xã tỉnh An Giang nói riêng đều có vị trí là
những tổ chức nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị, là đơn vị chiến đấu trực tiếp
của Đảng, có trách nhiệm làm chiếc cầu nối liền giữa Đảng và quần chúng nhân dân
của các xã ở đó. Nghĩa là, các tổ chức đảng này được Đảng mà cụ thể là Đảng bộ tỉnh
An Giang giao trách nhiệm thay mặt Đảng bộ trực tiếp liên hệ với đông đảo quần
chúng nông dân trong toàn tỉnh. Theo đó, các TCCSĐ ở đây có vai trò là những đơn vị
cơ sở có trách nhiệm trực tiếp tiếp thu tất cả những thông tin về những tâm lý, tình
cảm, tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của tuyệt đại bộ phận quần chúng nhân dân ở các
xã, trực tiếp nghiên cứu, khảo sát tiếp thu, nắm bắt thực trạng tình hình mọi mặt đời
sống kinh tế-xã hội tại các địa bàn nông thôn của tỉnh. Qua đó, họ có vai trò là những
đơn vị cơ sở phản ánh kịp thời tất cả những thông tin đã tiếp nhận được lên các cơ
quan lãnh đạo cấp trên của Đảng. Đồng thời, cũng chính các tổ chức dảng này có vai
trò là những người quán triệt, tiếp thu tất cả những quan điểm, chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính
quyền các cấp và biến chúng thành phong trào hành động cách mạng của quần chúng
tại các cơ sở đó, làm cho chúng được thực thi trong thực tiễn. Cũng đồng thời trong
qúa trình đưa chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước các cấp đi vào
cuộc sống đó, các tổ chức đảng này còn có trách nhiệm trực tiếp truyền đạt đến quần
chúng nhân dân xã mình những quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước các cấp. Bên cạnh đó, các tổ chức đảng ở đây còn có
trách nhiệm trực tiếp triển khai, thực hiện tất cả các mặt công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, xây dựng ĐNĐV tại các đảng bộ xã mình theo chức năng, nhiệm vụ do Điều lệ
Đảng quy định, do các cấp uỷ cấp trên giao cho; các đảng bộ cơ sở này còn là một
trong những nguồn cung cấp quan trọng về đội ngũ cán bộ đã được đào luyện kỹ năng
lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn cho các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước các cấp.
Trên cơ sở xác định rõ vị trí và vai trò của các đảng bộ các xã tỉnh An Giang như
trên, cho phép ta có thể dễ dàng xác định một cách chuẩn xác vị trí và vai trò cụ thể
của ĐNĐV đang hoạt động ở các đảng bộ xã này như sau:
- Một là, từng đảng viên với tư cách là những người được tổ chức đảng phân

Đảng như: nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê
bình và phê bình; giữ nghiêm kỷ luật Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong
Đảng. Mặt khác, họ còn phải có trách nhiệm trực tiếp tham gia các mặt công tác đảng

viên như: phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đảng viên; quản lý, kiểm tra, phân
tích chất lượng đảng viên; tham gia xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch vững mạnh;
tổ chức vận động quần chúng đóng góp, tham gia xây Đảng, xây dựng chính quyền và
các tổ chức mặt trận đoàn thể nhân dân. Vận động, tổ chức, tạo mọi điều kiện thuận lợi
để quần chúng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của công dân, phát huy đầy
đủ quy chế dân chủ ở cơ sở cấp xã, đấu tranh có hiệu quả với các hiện tượng sai trái,
tiêu cực, lãng phí, quan liêu tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, ĐNĐV, nhất là những
đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở.
- Năm là, ĐNĐV thay mặt tổ chức đảng, tổ chức chính quyền và nhân dân đề
xuất những ý kiến, đề đạt những nguyện vọng của cơ sở lên các cấp có thẩm quyền.
Căn cứ những ý kiến và nguyện vọng đó, các cơ quan Đảng và Nhà nước cấp trên kịp
thời bổ sung, điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp.
- Sáu là, ĐNĐV ở đây là những người hoạt động ở cơ sở, hằng ngày đối mặt
với những diễn biến sinh động, phức hợp đa chiều của cuộc sống; trực tiếp tiếp xúc với
mọi tầng lớp nhân nhân nên họ nhanh chóng tích lủy được nhiều kinh nghiệm quý giá,
nhất là những kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, kinh nghiệm nắm bắt tâm tư,
nguyện vọng của nhân dân, đặc biệt là nông dân. Do vậy, họ là những người giàu kinh
nghiệm lãnh đạo, tổ chức, vận động quần chúng nông dân tham gia các phong trào
cách mạng ở nông thôn An Giang. Mặt khác, do được đào luyện trong thực tiễn công
tác ở cơ sở, nên họ cũng nhanh chóng trưởng thành về nhiều mặt, tạo ra nguồn cán bộ
dồi dào cung cấp cho các cơ quan Đảng và Nhà nước ở cấp trên.
Do ĐNĐV ở các Đảng bộ xã tỉnh An Giang có vị trí và vai trò rất quan trọng
như đã nêu trên, cho nên một trong những nội dung đặc biệt quan trọng công tác xây
dựng Đảng ở các đảng bộ các xã ở đây là xã phải thường xuyên NCCLĐNĐV lên
những tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
1.1.3. Đặc điểm của đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang

nông thôn. Hiện nay, số ĐV đã được học qua chương trình cao cấp và đại học chính trị
là 2.215 ĐV chiếm 8,40% tổng số ĐV của tỉnh, trong đó đa số họ thuộc diện cán bộ
lãnh đạo chủ chốt đương chức cấp Huyện, cấp Tỉnh và một phần của cấp xã; họ theo
học chủ yếu các dạng lớp thuộc hệ tại chức và đa phần từ mười năm trở lại đây, là con
số vượt trội so với tất cả các tỉnh Đồng bằng sông Cữu Long. Còn về trình độ chuyên
môn: cao đẳng có 1.570 ĐV, chiếm 5,95%, và đại học là 3.532, chiếm 13,36% so tổng
số ĐV của tỉnh (xem phụ lục 7).

Xuất phát từ thực tế đặc thù An Giang là một tỉnh biên giới Tây Nam Bộ thuộc
Đồng bằng sông Cửu Long, khá đa dạng phức tạp về điều kiện tự nhiên, có cả những
mặt thuận lợi lớn, nhưng cũng đan xen trong đó không ít khó khăn. Cho đến nay, dù đã
có nhiều cố gắng, nhưng An Giang vẫn đang là một tỉnh nông nghiệp với trình độ phát
triển trung bình. Tất cả các xã ở đây đều là nông thôn, lao động sản xuất chủ yếu trong
lĩnh vực nông nghiệp. Công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn chỉ mới ở giai
đoạn đầu, còn rất nhiều khó khăn đang ở phía trước.
Những năm gần đây, đã xuất hiện một số khá đông nông dân An Giang làm ăn
khấm khá, cá biệt đã có những triệu phú, thậm chí tỷ phú giàu có nổi tiếng cả vùng. Có
được như vậy, là nhờ sự nghiệp đổi mới đã tạo ra cơ hội cho những nông dân này tận
dụng được điều kiện thuận lợi về tự nhiên, tiền vốn, đất đai, và sự cần cù trong lao
động để trở nên giàu có. Do nhạy bén nắm bắt được thời cuộc, nhanh chóng tiếp thu
những chính sách cởi mở, đổi mới của Đảng và Nhà nước, nhất là những chủ trương
về chuyển đổi cơ cấu kinh tế, vật nuôi, cây trồng và việc áp dụng những tiến bộ kỹ
thuật, công nghệ sinh học vào đồng ruộng, cho nên đã tạo ra một phong trào thi đua sôi
nổi, làm giàu từ cây lúa, từ con cá, con tôm Hiện nay, làng cá bè ở An Giang phát
triển đến mức đã tận dụng hết những diện tích thuận lợi có thể nuôi được cá ở mặt
nước trên cả hai nhánh sông Tiền và sông Hậu chảy qua địa phận An Giang. Ngoài ra,
nông dân An Giang đã và đang tận dụng diện tích đất bãi bồi ven sông, một lợi thế mới
vừa phát hiện gần đây để đào ao nuôi cá. Đây là một loại hình nuôi cá ao mới xuất
hiện, nhưng phát triển rất nhanh trong vài ba năm trở lại đây. Bởi loại hình nuôi cá này
đang có hiệu quả chẳng những không thua kém loại hình nuôi cá bè truyền thống lâu

thấp; cách nghĩ, cách nhìn nhận vấn đề thường không sâu; phương pháp nhận thức và
hành động chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, nên hiệu quả công tác không cao, tính thuyêt
phục của công tác tư tưởng thấp. Có thể nói, cả trình độ học vấn, trình độ lý luận chính
trị, chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận khá đông đảng viên ở đây nhìn chung là
hạn chế, còn một khoảng cách khá xa mới có thể đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ CNH,
HĐH đất nước.
- Ba là, ĐNĐV ở đây phần đông vào Đảng từ sau năm 1975. Chỉ còn một số
đảng viên trưởng thành trước năm 1975, còn tham gia sinh hoạt đảng và sinh sống ở
đây. Nếu các đảng bộ xã ở An Giang còn quá ít đảng viên cao tuổi đời, nhiều tuổi đảng
thì ngược lại, ở các đảng bộ thị trấn, phường, ven đô số đảng viên cao tuổi hoặc đã
nghỉ hưu khá đông. Với thực tế đó tạo cho các đảng bộ các xã ở An Giang vừa có

Trích đoạn Ba là, về năng lực hoạt động thực tiễn: Có năng lực tiếp thu, quán triệt quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và biết tổ chức, phân công lao động Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức chính quyền, mặt trận và các đoàn thể trong hệ thống chính trị ở cơ sở Làm tốt công tác kiểm tra, phân công, quản lý, phân loại và sàng lọc đảng viên Nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên mớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status