LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay pot - Pdf 15


LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng
viên ở các đảng bộ xó tỉnh An Giang
trong giai đoạn hiện nay

Mở Đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đội ngũ đảng viên (ĐNĐV) là nhân tố chính, cơ bản, chủ yếu nhất cấu thành tổ
chức của Đảng. Cho nên, một khi đã xây dựng được ĐNĐV thật sự trong sạch, vững
mạnh sẽ là điều kiện, tiền đề đặc biệt quan trọng, góp phần quyết định làm cho từng tổ
chức đảng vững mạnh, theo đó, cả hệ thống tổ chức Đảng và toàn Đảng vững mạnh.
Khẳng định nội dung tư tưởng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết một cách cô đọng:
“Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” [62, tr. 92].

khoá VIII, tinh thần của Nghị quyết Đại hội IX và các Nghị quyết Trung ương tiếp theo
của khóa IX, đặc biệt là những nội dung về xây dựng Đảng của Nghị quyết Trung ương
9, khoá IX mới đây. Trong đó, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện đạo đức
cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, làm trong sạch, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng
viên (NCCLĐNĐV) là một trong những nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng vừa mang
tính bức thiết, cấp bách đồng thời cũng vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài.
An Giang là một tỉnh trọng điểm nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, thuộc
khu vực biên giới Tây Nam Bộ, với địa hình khá phong phú, đa dạng và phức tạp. Một
mặt, An Giang là tỉnh có đồng bằng với những sông ngòi chằng chịt, mang đầy phù sa,
mầu mỡ, rất thuận lợi cho việc phát triển nhiều mặt kinh tế-xã hội của tỉnh, thuận tiện
trong việc giao thông, quan hệ giao lưu nhiều chiều với các nước bạn Lào và
Campuchia láng giềng. Đồng thời mặt khác, An Giang lại có cả những vùng núi, vùng
dân tộc, khu biên giới, cửa khẩu, khu kháng chiến cũ, vùng sâu, vùng xa với điều kiện
thiên nhiên kém ưu đãi, đã và đang thực sự là những trở ngại, gây không ít những khó
khăn cho sự cố gắng và nỗ lực của cả Đảng bộ và nhân dân An Giang trong công cuộc
phát triển mọi mặt kinh tế-xã hội của tỉnh nhà. Nơi đây, tại các đảng bộ xã thuộc tỉnh
An Giang, ĐNĐV đang hoạt động, cũng đang rất cấp thiết và cấp bách trong việc xây
dựng, NCCLĐNĐV đáp ứng yêu cầu đòi hỏi bức xúc của nhiệm vụ chính trị (NVCT)
chung của cả nước và nhiệm vụ cụ thể, do đặc thù của tỉnh đang đặt ra. Với nhận thức ý
nghĩa của việc xây dựng, NCCLĐNĐV nói chung và xây dựng NCCLĐNĐV ở các
đảng bộ xã thuộc tỉnh An Giang nói riêng như vậy, nên tác giả quyết định chọn đề tài:

“Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xó tỉnh An Giang trong giai
đoạn hiện nay” làm luận văn thạc sỹ khoa học chính trị chuyên ngành Xây dựng Đảng.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Đây là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu với những cấp độ
và cách tiếp cận khác nhau. Đặc biệt, gần đây có nhiều công trình khoa học của các học
viên, các nghiên cứu sinh, các nhà khoa học nghiên cứu một số vấn đề có liên quan đến
đề tài như: “Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông thôn đồng bằng sông
Hồng”, luận án Phó tiến sỹ khoa học lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Phân tích vai trò, đặc điểm của ĐNĐV hoạt động ở các đảng bộ xã tỉnh An
Giang hiện nay, đánh giá đúng thực trạng chất lượng ĐNĐV và chỉ ra những yêu cầu
mới về chất lượng ĐNĐV này. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm NCCLĐNĐV ở
các đảng bộ xã đó trong giai đoạn hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Luận văn nghiên cứu chất lượng ĐNĐV và hoạt động NCCLĐNĐV ở
các đảng bộ xã tỉnh An Giang hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng ĐNĐV hoạt động
ở tất cả các đảng bộ xã thuộc tỉnh An Giang thời gian từ 1996 đến 2010.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin (CNMLN), tư tưởng
Hồ Chí Minh (TTHCM) và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) về xây
dựng Đảng nói chung và xây dựng ĐNĐV của Đảng nói riêng.
- Luận văn dựa trên hoạt động thực tiễn sinh động của ĐNĐV sinh hoạt ở các
đảng bộ xã thuộc tỉnh An Giang hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở thế giới quan khoa học và phương pháp luận duy vật mác-xít, luận
văn chủ yếu sử dụng các phương pháp như: gắn lý luận với thực tiễn; lôgic với lịch sử;

kết hợp giữa điều tra và khảo sát, phân tích và tổng hợp, trong đó đặc biệt chú trọng
tổng kết thực tiễn.
6. Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá đúng thực trạng chất
lượng ĐNĐV hoạt động ở các đảng bộ xã thuộc tỉnh An Giang hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm NCCLĐNĐV hoạt động ở các đảng bộ
xã thuộc tỉnh An Giang đến năm 2010.
Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc NCCLĐNĐV
hoạt động ở các đảng bộ xã, nông thôn An Giang hiện nay. Do đó có thể làm tài liệu

1.1. Vị trí, vai trò và đặc điểm của đội ngũ đảng viên ở các dảng bộ xã
tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay
6
1.2. Chất lượng đội ngũ đảng viên và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng
viên ở các Đảng bộ xã tỉnh An Giang hiện nay - quan niệm và tiêu
chí đánh giá
31

Chương 2: chất lượng đội ngũ đảng viên và hoạt động nâng cao
chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã
tỉnh an giang hiện nay - thực trạng, nguyên nhân
và kinh nghiệm
48
2.1. Đặc điểm nông thôn và các Đảng bộ xã tỉnh An Giang hiện nay 48
2.2. Thực trạng chất lượng đội ngũ đảng viên và nâng cao chất lượng
đội ngũ đảng viên ở các Đảng bộ xã tỉnh An Giang hiện nay -
nguyên nhân và kinh nghiệm
59
Chương 3: phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng
đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã tỉnh an giang
trong giai đoạn hiện nay
72
3.1. Dự báo và phương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở
các Đảng bộ xã tỉnh An Giang
72
3.2. Những giải pháp chủ yếu 77

Kết luận và kiến nghị
99


ích thống nhất không tách biệt, đối lập nhau. Đây là một trong những đặc trưng căn bản,

chủ yếu nhất của các Đảng Cộng sản đã sớm được C. Mác và Ph. Ăngghen phát hiện,
xác lập khi hai ông viết Tuyên ngôn Đảng Cộng sản: “Những người cộng sản không
phải là một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác. Họ tuyệt nhiên không
có một lợi ích nào tách rời khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản” [59, tr.557].
Trước tiên chúng ta thấy rằng, chính sự thống nhất không tách rời về mặt lợi ích
giữa những đảng viên cộng sản trong đội tiên phong của GCVS với GCVS là cội nguồn,
gốc rễ chủ yếu xác lập nên lập trường cách mạng kiên định, triệt để, phẩm chất chính trị
chân chính, trong sáng đặc thù riêng có của người chiến sỹ cộng sản. Càng hiểu rõ bản
chất đảng viên cộng sản, chúng ta càng hiểu và tin tưởng rằng: trong toàn bộ quá trình
hoạt động của mình, Đảng và ĐNĐV của Đảng ngoài mục đích, lợi ích thống nhất
chung với GCVS họ tuyệt nhiên không có bất kỳ mục đích, lợi ích nào khác. Bản chất
cách mạng chân chính, trong sáng đó trước hết được thể hiện bằng việc cả mục đích
trước mắt, mục đích lâu dài và mục đích cuối cùng của Đảng đều được trang trọng,
công khai rõ ràng, không giấu giếm tại điều 1 Điều lệ của Liên đoàn những người cộng
sản do C. Mác và Ph. Ăngghen soạn thảo, được Đại hội II của Liên đoàn thông qua,
công bố vào cuối mùa thu năm 1847 ở Luân Đôn: “Mục đích của Liên đoàn là: Lật đổ
giai cấp tư sản, lập nền thống trị của giai cấp vô sản, tiêu diệt xã hội cũ, tư sản, dựa trên
sự đối kháng giai cấp, và xây dựng một xã hội mới không có giai cấp và không có chế
độ tư hữu”[60, tr. 691].
Đó cũng là lý do làm cho GCCN và ĐNĐV tiên phong của nó luôn đoàn kết gắn
bó một cách bền chặt, không tách rời nhau trong suốt tiến trình thực tiễn đấu tranh cách
mạng. Tuy nhiên, trong khi khẳng định ĐNĐV là bộ phận của GCCN, mang bản chất
GCCN, đứng vững trên lập trường GCCN, mọi chủ trương, chiến lược, sách lược và
hoạt động của Đảng và ĐNĐV đều xuất phát từ lợi ích của GCCN, điều đó hoàn toàn
không có nghĩa Đảng và ĐNĐV của Đảng chỉ là Người đại biểu cho quyền lợi cục bộ,
riêng tư của GCCN, tách biệt Đảng, ĐNĐV của Đảng và GCCN ra khỏi quần chúng lao
động khác, đối lập lợi ích của Đảng và GCCN với lợi ích của quần chúng lao động còn
lại, mà trái lại chính là để chỉ rõ rằng, Đảng và ĐNĐV của Đảng một khi đã thực sự

này cũng đủ để ta có thể tin tưởng một cách sâu sắc rằng, Đảng và GCVS của họ sẽ

không thể tự giải phóng được mình nếu họ không đồng thời cùng giải phóng cho tất cả
các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội thoát khỏi ách áp bức, bóc lột. Điều đó sẽ
càng có ý nghĩa gấp bội trong điều kiện những nước nông nghiệp chậm phát triển, quần
chúng lao động chủ yếu là nông dân, tỉ lệ công nhân nhỏ bé, không đáng kể, mà Việt
Nam ta là một điển hình. Có nhận thức vấn đề một cách thấu đáo, đầy đủ từ cội nguồn,
gốc rễ như vậy, chúng ta mới có đủ tri thức và niềm tin để khẳng định bản chất cách
mạng chân chính và trong sáng của Đảng ta, mới hiểu rõ hết ý nghĩa vì sao trong các
văn kiện của Đảng luôn khẳng định lập trường tư tưởng, chỉ rõ bản chất cách mạng tiên
phong của Đảng ngay từ buổi đầu thành lập cho đến nay: “Đảng là đội tiên phong của
giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của
nhân dân lao động và của cả dân tộc”[40, tr. 3]. Do lợi ích của GCCN và lợi ích của cả
dân tộc luôn thống nhất nhau, nên Đảng ta thường nhấn mạnh bản chất GCCN của Đảng
không có gì khác hơn là để cho Đảng một khi đứng vững trên lập trường tư tưởng của
GCCN thì sẽ đấu tranh một cách kiên quyết, triệt để cho sự nghiệp cách mạng chung,
phục vụ cho lợi ích của toàn thể nhân dân dân lao động, cho cả dân tộc được nhiều nhất,
tốt nhất. Nói cách khác, đứng về mặt tư tưởng mà xét thì Đảng ta chỉ có thể là đảng của
GCCN chứ không thể là đảng của bất kỳ một giai cấp nào khác, nhưng nếu đứng ở góc
độ về mối liên hệ lợi ích của GCCN, của nhân dân lao động và của cả dân tộc thì Đảng
không những là Người đại biểu cho lợi ích của GCCN mà còn là Người đại biểu cho lợi
ích của toàn thể nhân dân lao động và cho cả dân tộc.
Mặt khác, trong khi khẳng định Đảng và ĐNĐV của Đảng luôn gắn bó chặt chẽ
với GCVS mà họ là một bộ phận, điều đó cũng không có nghĩa Đảng và ĐNĐV của
Đảng với giai cấp của nó là một khối hỗn độn phức hợp không rõ ràng, mà ngược lại,
giữa họ có một ranh giới phân biệt rất rành mạch không thể lẫn lộn được. Ranh giới để
phân biệt giữa Đảng và ĐNĐV của Đảng với toàn bộ giai cấp vô sản chính là vai trò
tiên phong riêng có của mình trên cả hai lĩnh vực lý luận và thực tiễn. Trên lĩnh vực lý
luận, lĩnh vực đặc thù của Đảng và ĐNĐV của Đảng, do được vũ trang bởi hệ thống lý
luận tiên tiến của chủ nghĩa xã hội mác-xít, nên Đảng và ĐNĐV có đủ kiến thức, trình


Tổng kết công tác xây dựng Đảng trong các thời kỳ đã qua và căn cứ vào yêu
cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước ngày nay, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX đã thông qua Điều lệ Đảng, trong đó xác định tiêu chuẩn đảng viên ĐCSVN như sau:
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong
của giai cấp công nhân Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của
Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên
trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ
Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước nước; có lao động,
không bóc lột, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành
mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ
gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng [40,tr.6].
Trước tiên ta thấy, Điều lệ Đảng xác định: đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
là chiến sỹ trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, nghĩa là, đảng viên
của Đảng phải là những người thuộc thành phần GCCN, mang bản chất GCCN và đứng
vững trên lập trường tư tưởng của GCCN. Điều đó cũng có nghĩa, đảng viên phải là
những người có đầy đủ những đặc trưng, bản chất vốn có của một giai cấp lao động.
Tức, họ phải có nhận thức tiên tiến nhất, hành động cách mạng triệt để nhất, có ý thức
tổ chức kỷ luật cao nhất và có tinh thần quốc tế vô sản trong sáng của GCCN.
Như vậy một mặt, do đảng viên mang bản chất GCCN cho nên, trong mọi suy
nghĩ và hành động của họ đều xuất phát từ lợi ích của GCCN, đại biếu trung thành lợi
ích của GCCN. Nhưng măt khác, do “ Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân
Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả
dân tộc”[38,tr.3], cho nên, trong cả nhận thức cũng như hành động, đảng viên của Đảng
không chỉ xuất phát từ lợi ích riêng của GCCN, chỉ đại biểu đại biểu cho lợi ích của
GCCN mà họ còn phải vì công cuộc đấu tranh kiên quyết, triệt để cho sự nghiệp cách
mạng chung của toàn thể nhân dân lao động, cho cả dân tôc. Nghĩa là, họ cũng chính là
lại đại biểu trung thành cho lợi ích của mọi tầng lớp nhân dân lao động và cho cả dân
tộc.


quần chúng, và khi đó họ mới có thể “Phổ biến trong quần chúng công nhân cái ý nghĩa
ngày càng sáng rõ đã đạt được bằng cách đó”[46,tr.34].
Đảng viên thiếu lý luận tiên phong sẽ không đủ sức vận động, giáo dục thức tỉnh
quần chúng và sự nghiệp cách mạng cũng sẽ không đi đến đâu. Bởi lẽ, quần chúng khi
chưa được tuyên truyền, giáo dục, thức tĩnh từ những người đảng viên cộng sản tiên
phong thì họ không thể tự ý thức, hiểu biết và cùng quyết tâm thực hiện nhiện vụ cách
mạng mà Đảng đề ra được. V.I.Lênin đã tổng kết: “Lịch sử tất cả các nước chứng thực
rằng, chỉ do lực lượng của độc bản thân mình thôi thì giai cấp công nhân chỉ có thể đi
đến ý thức công liên chủ nghĩa”[46,tr.38]. Nghĩa là, muốn cho sự nghiệp cách mạng đi
đến đích phải được tuyệt đại bộ phận quần chúng lao động đồng tình ủng hộ và đi đến
thống nhát ý chí và quyết tâm cùng với Đảng hành động cách mạng. Muốn được vậy,
không cách nào khác là đảng viên của Đảng “Phải chú ý đến việc nâng cao trình độ
công nhân lên trình độ những người cách mạng”[46,tr.173]. “Chúng ta sẽ chỉ tự lừa dối
mình, nhắm mắt trước những nhiệm vụ bao la của chúng ta, thu hẹp những nhiệm vụ đó
lại, nếu chúng ta quên mất sự khác nhau gữa đội tiên phong và tất cả quần chúng hướng
theo đội tiên phong đó; nếu chúng ta quên mất rằng đội tiên phong có nghĩa vụ thường
xuyên phải nâng các tầng lớp ngày càng đông đảo đó lên trình độ tiên tiến
ấy”[48,tr.289, 290].
Từ những trình bày trên đây đủ cho thấy, điểm đầu tiên trong tiêu chuẩn đảng viên
mà Điều lệ Đảng xác định: đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sỹ cách mạng
trong đội tiên phong của GCCN Việt Nam đã xác định một cách rõ ràng, đầy đủ những
yêu cầu căn bản cả về phẩm chất và năng lực cần hội đủ của người đảng viên ĐCSVN
hiện nay: họ phải vừa đứng vững trong lập trường GCCN, mang bản chất GCCN, đại
biểu trung thành cho lợi ích GCCN, nhân dân lao động và cho cả dân tộc; đồng thời, họ
“không được lẫn lộn…với toàn bộ giai cấp”, với đông đảo các tầng lớp quần chúng lao
động, họ phải được phân biêt một cách rõ ràng bằng chính vai trò tiên phong của mình
trên cả lĩnh vực nhận thức lý luận và hành động thực tiễn. Họ phải là những người có đủ
lý luận tiên tiến nhất, giác ngộ lý tưởng cách mạng cao nhất và ý thức giai cấp thật rõ
ràng; trong hành đồng thực tiễn họ phải luôn chứng tỏ là những người đi đầu và kiên


thức “suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân” được. Theo đó, họ
cũng không thể là người có ý thức tốt trong việc “chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh
chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước”; và đương
nhiên, họ cũng sẽ không thể là những người có tinh thần, ý thức và trách nhiệm cao
trong việc họ phải là người tự thấy có trách nhiệm phải: hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao, là người có đạo đức và lối sống lành mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân và
đặc biệt họ cũng sẽ không thể là những người nghiêm chỉnh “phục tùng tổ chức kỷ luật
của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng” đúng như yêu cầu mà các nội
dung cụ thể của tiêu chuẩn đảng viên đã xác định. Nói cách khác, hệ thống các yêu cầu
căn bản, đầy đủ trong tiêu chuẩn đảng viên chỉ có thể được đảm bảo ở mức độ nhất định
trước hết đối với những đảng viên thực sự tiên phong, thực sự giác ngộ chính trị và thực
sự có niềm tin vào mục đích lý tưởng của Đảng. Tuy nhiên, chúng ta cũng không được
quên rằng, chỉ riêng có nhận thức lý luận, dù có tiên phong mấy đi nữa thì đó cũng chỉ
có ý nghĩa làm tiền đề, làm điều kiện cần để có thể tạo ra cho người đảng viên của Đảng
tự hình thành và xác lập cho mình một trình độ giác ngộ cách mạng. Nó còn phải được
thể hiện chính bằng hành động cách mạng trong thực tiễn của mỗi đảng viên, qua đó
chứng tỏ đã thực sự giác ngộ chính trị, ý thức giai cấp, lòng trung thành vì mục đích lý
tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của toàn dân. Chỉ khi nào đảng viên đã thực sự giác ngộ
chính trị, thực sự tin tưởng và có ý thức phấn đấu suốt đời vì mục đích lý tưởng của
Đảng thì khi đó mới có thể khẳng định đảng viên đã hoàn toàn đáp ứng đầy đủ tư cách
và xứng với danh hiệu đảng viên cao quý.
Cũng tại điều 1 Điều lệ Đảng này, Đảng ta không quên xác định điều kiện cơ
bản cần phải hội đủ của một quần chúng tích cực có thể được xét công nhận là đảng
viên ĐCSVN, Điều lệ Đảng ghi rõ:
Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, thừa nhận và tự nguyện: Thực hiện
Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt
động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được
nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét kết nạp vào Đảng [40,tr.7].


- Ba là, qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm.
Trong điều kiện này, ta thấy nội dung trước tiên mà người đang phấn đấu vào
Đảng phải đảm bảo đó là: Toàn bộ quá trình rèn luyện, phấn đấu của họ phải được biểu
hiện thực chất thông qua hoạt động thực tiễn, được kiểm nghiệm trong thực tiễn, bởi vì
thực tiễn chính là thước đo duy nhất đúng của chân lý. Chỉ khi sự rèn luyên, phấn đấu
của họ được thực tiễn kiểm nghiệm mới có thể khẳng định một cách chính xác người
đang phấn đấu vào Đảng là đã thực sự ưu tú và có đầy đủ những điều kiện chưa, theo đó
mới có thể xác định được mức độ về sự nhận thức, tự giác và tự nguyện của họ một
cách thực chất được.
Tuy nhiên, nếu chỉ được khẳng định trong thực tiễn là người ưu tú cho dù rất ưu tú
đi chăng nữa, nhưng nếu họ chưa được đông đảo quần chúng đồng tình ủng hộ, chưa
đến mức được nhân dân thực sự tín nhiệm thì tổ chức đảng cũng chưa vội xét kết nạp họ
vào Đảng. Bởi lẽ, khi họ chưa được quần chúng, nhất là những quần chúng sống gần
gũi, hiểu biết họ đầy đủ, thực chất nhất mà chưa tín nhiệm họ thì điều đó cũng đủ khẳng
định: ít nhất quá trình phấn đấu vào Đảng của họ là chưa thể xác định được tính đúng
đắn một cách hoàn toàn và thực chất, nhất là chưa thể xác định chính xác về động cơ,
mục đích phấn đấu của họ là đã thật sự rõ ràng, theo đó, cũng chưa thể nói họ phấn đấu
vào Đảng là hoàn toàn vì mục đích lý tưởng cao cả của Đảng, vì lợi ích chính đáng của
tuyệt đại quần chúng lao động, vì hạnh phúc của toàn dân được. Cho nên, nếu kết nạp
họ vào Đảng ngay lúc này thì việc lợi cho Đảng chưa thấy rõ nhưng điều bất lợi, thậm
chí có hại cho Đảng là trông thấy, là tất yếu. Nghĩa là, ít nhất sẽ làm giảm lòng tin của
nhân dân đối với Đảng, tạo ra khả năng làm giảm sức mạnh của từng tổ chức đảng và
nếu xảy ra một cách phổ biến trên diện rộng sẽ có thể dẫn đến làm giảm sức mạnh cuả
toàn Đảng. Bởi lẽ rất dễ hiểu là, khi được quần chúng ủng hộ, tín nhiệm thì Đảng mới
mạnh, nếu ngược lại, đương nhiên không thể tránh khỏi làm cho Đảng suy yếu. Cũng
chính lý do này mà V.I.Lênin thường nhắc nhở: “Quần chúng lao động ủng hộ chúng ta.
Sức mạnh của chúng ta là ở đó. Nguồn gốc khiến cho chủ nghĩa cộng sản vô địch cũng
là ở đó”[54,tr.258].

Từ tổng thể những phân tích và trình bày trên đây có thể cho phép ta khẳng định

nghiệp phát triển cất cánh như nhận định của Đảng trong các nghị quyết gần đây.
Như vậy một mặt, ĐNĐV ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang phải luôn có trách
nhiệm giữ vững và kiên định lập trường GCCN, phấn đấu để xứng đáng là đại biểu
trung thành lợi ích của công nhân, nông dân và toàn thể nhân dân lao động ở các xã đó.
Mặt khác, họ có trách nhiệm phải ra sức rèn luyện mọi mặt để có thể đảm bảo phân biệt
và không lẫn lộn với quần chúng cả về nhận thức và hành động. Trước hết họ phải là
những người luôn có ý thức phấn đấu, tự bồi dưỡng, rèn luyện mọi mặt để luôn có được
nhận thức lý luân tiên phong nhất, ý thức giác ngộ cao về giai cấp, về lý tưởng cộng sản
và hành động gương mẫu, kiên quyết nhất, qua đó có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín
tuyên truyền, vận động, giáo dục, thức tỉnh, lôi cuốn, tổ chức và lãnh đạo quần chúng
nhân dân lao động tại đơn vị, cơ sở xã, ấp mình cùng quyết tâm thống nhất một lòng ra
sức thực hiện nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tại các xã ở An Giang.
Đồng thời, họ không để hạ thấp trình độ của Đảng, của người đảng viên xuống ngang
trình độ quần chúng bình thường mà phải làm ngược lại như lãnh tụ V. I. Lênin đã từng
nhắc nhở “Không được lẫn lộn đảng, tức là đội tiên phong của giai cấp công nhân, với
toàn bộ giai cấp” và “đội tiên phong có nghĩa vụ thường xuyên phải nâng các tầng lớp
ngày càng đông đảo đó lên trình độ tiên tiến” [48]. 1.1.2. Vị trí, vai trò của đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang
hiện nay
Trước tiên ta cần nhận thức rằng, tất cả các tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) cấp xã
nói chung và từng đảng bộ cơ sở ở các xã tỉnh An Giang nói riêng đều có vị trí là những
tổ chức nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị, là đơn vị chiến đấu trực tiếp của Đảng,
có trách nhiệm làm chiếc cầu nối liền giữa Đảng và quần chúng nhân dân của các xã ở
đó. Nghĩa là, các tổ chức đảng này được Đảng mà cụ thể là Đảng bộ tỉnh An Giang giao
trách nhiệm thay mặt Đảng bộ trực tiếp liên hệ với đông đảo quần chúng nông dân trong
toàn tỉnh. Theo đó, các TCCSĐ ở đây có vai trò là những đơn vị cơ sở có trách nhiệm

trực tiếp tiếp thu tất cả những thông tin về những tâm lý, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng,

của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân. Như vậy, tất cả những công việc
cụ thể như: tiếp thu và xử lý những thông tin về thực trạng tình hình kinh tế xã-hội, về
tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và phản ánh đến lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp
đúng đắn như thế nào; việc quán triệt, tiếp thu tất cả các thông tin về lãnh đạo, chỉ đạo
và hướng dẫn của Đảng và chính quyền các cấp trên, xử lý và truyền đạt những tiếp thu
đó về địa phương, đơn vị mình có hiệu quả đến mức độ nào…tất cả những công việc đó
đều được quyết định bởi chính năng lực hoạt động thực tiễn của ĐNĐV ở tại các đảng
bộ, chi bộ của các xã đó.
- Hai là, ĐNĐV là người trực tiếp biến các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà
nước các cấp thành hiện thực.
- Ba là, ĐNĐV ở đây không chỉ có trách nhiệm tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, hướng
dẫn, tuyên truyền, vận động, cỗ vũ thức tĩnh và lôi cuốn quần chúng tham gia các hoạt
động cách mạng mà còn thể hiện vai trò hành động tiên phong, gương mẫu của mình
trước quần chúng, bằng việc xung kích, đi đầu trong tất cả các phong trào cách mang
của quần chúng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với ĐNĐV hoạt động ở các xã vùng
sâu, vùng xa, vùng dân tộc miền núi, nơi mà đa số quần chúng lao động đời sống còn rất
nhiều khó khăn, trình độ nhiều mặt còn rất thấp, nhận thức các vấn đề chủ yếu bằng tư
duy kinh nghiệm, tư duy cụ thể, bằng cách trực tiếp làm theo người hướng dẫn.
- Bốn là, ĐNĐV một mặt, có trách nhiệm trực tiếp tham gia tất cả các mặt công
tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng các đơn vị, cơ sở; ĐNĐV trực tiếp tham gia
sinh hoạt chi bộ, đấu tranh thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt của Đảng
như: nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và
phê bình; giữ nghiêm kỷ luật Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Mặt
khác, họ còn phải có trách nhiệm trực tiếp tham gia các mặt công tác đảng viên như:
phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đảng viên; quản lý, kiểm tra, phân tích chất
lượng đảng viên; tham gia xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch vững mạnh; tổ chức vận
động quần chúng đóng góp, tham gia xây Đảng, xây dựng chính quyền và các tổ chức
mặt trận đoàn thể nhân dân. Vận động, tổ chức, tạo mọi điều kiện thuận lợi để quần

chúng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của công dân, phát huy đầy đủ quy chế

Năm 3003 An Giang có: 6.111 ĐV nữ, chiếm 23,19% tổng số ĐV của tỉnh, đến
giữa năm 2004 lượng nữ ĐV lên đến 6.411 ĐV, chiếm 23,61% tổng số ĐV của tỉnh. Tỉ
lệ này tuy còn thấp so với mong muốn nhưng cũng không đến nỗi quá ít. Điều đáng lưu
ý là sắp tới rất có thể sẽ không duy trì được mức này, bởi thực tế gần đây cho thấy, phát
triển mới đảng ĐV nữ sẽ khó khăn, có dấu hiệu xu hướng giảm (năm 2003 phát triển
712 ĐV nữ, trong khi đến đến cuối tháng 6/2004 chỉ phát triển được 226 ĐV nữ) (xem
phụ lục 8).
Về sồ lượng ĐV dân tộc còn khá thấp so với yêu cầu: năm 2003 có 472 ĐV chỉ
chiếm 1,75% tổng số ĐV toàn tỉnh và đến giữa năm 2004 chỉ còn 444 ĐV chiếm 1,6%,
bên cạnh đó, phát triển mới giảm một cách rõ rệt (trong năm 3003 phát triển được 61
ĐV người dân tộc, thì 6 tháng đầu năm 2004 chỉ phát triển mới được 24 ĐV là người
dân tộc mà thôi) (xem phụ lục 8). Riêng ĐV là người Khmer, dân tộc ít người đông nhất
của tỉnh, cũng chỉ chiếm không quá 0,3% dân số của họ.
Đối với lực lượng ĐNĐV ở các xã, phường và thị trấn đầu năm 2003 có tổng số
là12.464 ĐV, chiếm tỉ lệ 47,31% tổng số ĐV toàn tỉnh, đến giữa năm 2004 lên đến
16.078 ĐV, chiếm 59,21% ĐV toàn tỉnh. Đầu quý IV năm 2003 số ĐV của các xã,
phường và thị trấn trong tỉnh đem phân tích chất lượng ĐV là 15.537 ĐV. Trong đó, số
ĐV của các xã là 11.075 chiếm 42,55% so với tổng số ĐV của toàn tỉnh, còn nếu so với
tổng số ĐV của các xã, phường và thị trấn thì tỉ lệ này là 72,28% (xem phụ lục 6).
Năm 2003 còn tới 8.714 ĐV có trình độ cấp II phổ thông trở xuống chiếm
33,07% so tổng số ĐV toàn tỉnh, số đảng viên này chủ yếu sống và làm việc ở các xã
nông thôn. Hiện nay, số ĐV đã được học qua chương trình cao cấp và đại học chính trị
là 2.215 ĐV chiếm 8,40% tổng số ĐV của tỉnh, trong đó đa số họ thuộc diện cán bộ
lãnh đạo chủ chốt đương chức cấp Huyện, cấp Tỉnh và một phần của cấp xã; họ theo
học chủ yếu các dạng lớp thuộc hệ tại chức và đa phần từ mười năm trở lại đây, là con
số vượt trội so với tất cả các tỉnh Đồng bằng sông Cữu Long. Còn về trình độ chuyên

Trích đoạn Sáu là, NCCLĐNĐV ở các xã An Giang phải trên cơ sở điều kiện thuận lợi, NCCLĐNĐV phải đưa đảng viên vào phong trào hành động cách mạng của quần chúng để rèn luyện thử thách Đây là kinh nghiệm chỉ đạo rất tốt có tác dụng cả Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức chính quyền, mặt trận và các đoàn thể trong hệ thống chính trị ở cơ sở Làm tốt công tác kiểm tra, phân công, quản lý, phân loại và sàng lọc đảng viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status