Mở ĐầU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đội ngũ đảng viên (ĐNĐV) là nhân tố chính, cơ bản, chủ yếu nhất cấu
thành tổ chức của Đảng. Cho nên, một khi đã xây dựng đợc ĐNĐV thật sự
trong sạch, vững mạnh sẽ là điều kiện, tiền đề đặc biệt quan trọng, góp phần
quyết định làm cho từng tổ chức đảng vững mạnh, theo đó, cả hệ thống tổ
chức Đảng và toàn Đảng vững mạnh. Khẳng định nội dung t tởng này, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã viết một cách cô đọng: Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi
bộ tốt là do các đảng viên đều tốt [62, tr. 92].
Hiện nay, cả nớc đã và đang thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là phát
triển kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hóa (HĐH, HĐH) đất nớc, đẩy nhanh CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế. Thời kỳ mới đang đặt ra
hàng loạt các vấn đề rất mới mẻ, vừa có những thời cơ, thuận lợi lớn, đồng
thời, cũng xuất hiện không ít những khó khăn và phức tạp, đòi hỏi ĐNĐV của
Đảng phải đợc chỉnh đốn, nâng cao cả về phẩm chất, năng lực trí tuệ, năng
lực lãnh đạo, sức chiến đấu và hoạt động thực tiễn. Trong khi đó những năm
qua, công tác xây dựng Đảng nói chung và xây dựng ĐNĐV nói riêng, tuy có
đạt đợc những kết quả bớc đầu rất quan trọng, song cho đến nay vẫn còn
nhiều vấn đề yếu kém, bất cập, cha đáp ứng kịp những yêu cầu, đòi hỏi của
nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới. Tổng kết thực tiễn công tác xây dựng
Đảng nhiều năm qua, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng đã xác
định:
Trong công tác xây dựng Đảng, bên cạnh những u điểm đang nổi lên
một số mặt yếu kém và khuyết điểm, nhất là khuyết điểm về công tác
giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, cha ngăn chặn và đẩy lùi
đợc sự suy thoái về t tởng chính trị và đạo đức, lối sống [41,tr.138].
Kiểm điểm nửa nhiệm kỳ Đại hội IX, Hội nghị Trung ơng lần thứ 9,
khoá IX còn tiếp tục chỉ thêm rằng:
Nhiều tổ chức cơ sở đảng sinh hoạt lỏng lẻo, sức chiến đấu yếu, vai trò
lãnh đạo giảm sút, mờ nhạt. Điều làm cho nhân dân còn nhiều bất bình,
cấp bách trong việc xây dựng, NCCLĐNĐV đáp ứng yêu cầu đòi hỏi bức xúc
của nhiệm vụ chính trị (NVCT) chung của cả nớc và nhiệm vụ cụ thể, do đặc
thù của tỉnh đang đặt ra. Với nhận thức ý nghĩa của việc xây dựng,
NCCLĐNĐV nói chung và xây dựng NCCLĐNĐV ở các đảng bộ xã thuộc
tỉnh An Giang nói riêng nh vậy, nên tác giả quyết định chọn đề tài: Nâng
cao chất lợng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang trong giai
2
đoạn hiện nay làm luận văn thạc sỹ khoa học chính trị chuyên ngành Xây
dựng Đảng.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Đây là vấn đề đợc nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu với những
cấp độ và cách tiếp cận khác nhau. Đặc biệt, gần đây có nhiều công trình
khoa học của các học viên, các nghiên cứu sinh, các nhà khoa học nghiên cứu
một số vấn đề có liên quan đến đề tài nh: Nâng cao chất lợng tổ chức cơ sở
đảng nông thôn đồng bằng sông Hồng, luận án Phó tiến sỹ khoa học lịch
sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (CTQG) Hồ chí Minh (1995)
của Đỗ Ngọc Ninh; Khắc phục sự thoái hoá, biến chất của đảng viên trong
công cuộc đổi mới ở nớc ta hiện nay luận án Phó tiến sỹ khoa học lịch sử,
Học viện CTQG Hồ chí Minh (1996) của Ngô Kim Ngân; Nâng cao chất l-
ợng đội ngũ đảng viên ở các tổ chức cơ sở đảng phờng và xã ven đô trong
công cuộc đổi mới hiện nay, luận án Phó tiến sỹ khoa học lịch sử, Học viện
CTQG Hồ Chí Minh (1996) của Đặng Đình Phú; Nâng cao chất lợng đội
ngũ đảng viên ở nông thôn đồng bằng sông Hồng thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, luận án Tiến sỹ, chuyên ngành xây dựng
Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh (2002) của Cao Thị Thanh Vân; Nâng
cao chất lợng đội ngũ đảng viên vùng có đồng bào công giáo ở các tỉnh ven
biển đồng bằng Bắc bộ trong giai đoạn hiện nay, luận án Tiến sỹ chuyên
ngành xây dựng Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh (2003) của Nguyễn
Văn Giang; Làm ngời cộng sản trong giai đoạn hiện nay(2000), do Phó
giáo s, Tiến sỹ Tô Huy Rứa và Phó giáo s, Tiến sỹ Trần Khắc Việt đồng chủ
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin (CNMLN),
t tởng Hồ Chí Minh (TTHCM) và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
(ĐCSVN) về xây dựng Đảng nói chung và xây dựng ĐNĐV của Đảng nói
riêng.
- Luận văn dựa trên hoạt động thực tiễn sinh động của ĐNĐV sinh
hoạt ở các đảng bộ xã thuộc tỉnh An Giang hiện nay.
5.2. Phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở thế giới quan khoa học và phơng pháp luận duy vật mác-xít,
luận văn chủ yếu sử dụng các phơng pháp nh: gắn lý luận với thực tiễn; lôgic
với lịch sử; kết hợp giữa điều tra và khảo sát, phân tích và tổng hợp, trong đó
đặc biệt chú trọng tổng kết thực tiễn.
6. Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá đúng thực trạng
chất lợng ĐNĐV hoạt động ở các đảng bộ xã thuộc tỉnh An Giang hiện nay.
4
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm NCCLĐNĐV hoạt động ở
các đảng bộ xã thuộc tỉnh An Giang đến năm 2010.
Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
NCCLĐNĐV hoạt động ở các đảng bộ xã, nông thôn An Giang hiện nay. Do
đó có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp bộ đảng, các cơ sở nghiên cứu,
các nhà trờng của tỉnh An Giang trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn
và đào tạo cán bộ.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn có bố cục gồm 3 chơng 6 tiết.
Chơng 1
5
NÂNG CAO CHấT LƯợNG ĐộI NGũ ĐảNG VIÊN ở
CáC ĐảNG Bộ Xã TỉNH AN GIANG HIệN NAY- NHữNG VấN Đề
Lý LUậN Và THựC tiễn
mặt lợi ích giữa những đảng viên cộng sản trong đội tiên phong của GCVS
6
với GCVS là cội nguồn, gốc rễ chủ yếu xác lập nên lập trờng cách mạng kiên
định, triệt để, phẩm chất chính trị chân chính, trong sáng đặc thù riêng có của
ngời chiến sỹ cộng sản. Càng hiểu rõ bản chất đảng viên cộng sản, chúng ta
càng hiểu và tin tởng rằng: trong toàn bộ quá trình hoạt động của mình, Đảng
và ĐNĐV của Đảng ngoài mục đích, lợi ích thống nhất chung với GCVS họ
tuyệt nhiên không có bất kỳ mục đích, lợi ích nào khác. Bản chất cách mạng
chân chính, trong sáng đó trớc hết đợc thể hiện bằng việc cả mục đích trớc
mắt, mục đích lâu dài và mục đích cuối cùng của Đảng đều đợc trang trọng,
công khai rõ ràng, không giấu giếm tại điều 1 Điều lệ của Liên đoàn những
ngời cộng sản do C. Mác và Ph. Ăngghen soạn thảo, đợc Đại hội II của Liên
đoàn thông qua, công bố vào cuối mùa thu năm 1847 ở Luân Đôn: Mục đích
của Liên đoàn là: Lật đổ giai cấp t sản, lập nền thống trị của giai cấp vô sản,
tiêu diệt xã hội cũ, t sản, dựa trên sự đối kháng giai cấp, và xây dựng một xã
hội mới không có giai cấp và không có chế độ t hữu[60, tr. 691].
Đó cũng là lý do làm cho GCCN và ĐNĐV tiên phong của nó luôn
đoàn kết gắn bó một cách bền chặt, không tách rời nhau trong suốt tiến trình
thực tiễn đấu tranh cách mạng. Tuy nhiên, trong khi khẳng định ĐNĐV là bộ
phận của GCCN, mang bản chất GCCN, đứng vững trên lập trờng GCCN, mọi
chủ trơng, chiến lợc, sách lợc và hoạt động của Đảng và ĐNĐV đều xuất phát
từ lợi ích của GCCN, điều đó hoàn toàn không có nghĩa Đảng và ĐNĐV của
Đảng chỉ là Ngời đại biểu cho quyền lợi cục bộ, riêng t của GCCN, tách biệt
Đảng, ĐNĐV của Đảng và GCCN ra khỏi quần chúng lao động khác, đối lập
lợi ích của Đảng và GCCN với lợi ích của quần chúng lao động còn lại, mà
trái lại chính là để chỉ rõ rằng, Đảng và ĐNĐV của Đảng một khi đã thực sự
đứng vững trên lập trờng GCCN, họ sẽ đấu tranh một cách kiên định, triệt để
cho sự nghiệp cách mạng chung của toàn thể nhân dân lao động. Nghĩa là,
Đảng và ĐNĐV của Đảng không những là đại biểu trung thành cho lợi ích
của GCCN, mà họ còn đồng thời là đại biểu đích thực cho quyền lợi của mọi
của họ sẽ không thể tự giải phóng đợc mình nếu họ không đồng thời cùng giải
phóng cho tất cả các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội thoát khỏi ách
áp bức, bóc lột. Điều đó sẽ càng có ý nghĩa gấp bội trong điều kiện những nớc
nông nghiệp chậm phát triển, quần chúng lao động chủ yếu là nông dân, tỉ lệ
công nhân nhỏ bé, không đáng kể, mà Việt Nam ta là một điển hình. Có nhận
thức vấn đề một cách thấu đáo, đầy đủ từ cội nguồn, gốc rễ nh vậy, chúng ta
mới có đủ tri thức và niềm tin để khẳng định bản chất cách mạng chân chính
và trong sáng của Đảng ta, mới hiểu rõ hết ý nghĩa vì sao trong các văn kiện
của Đảng luôn khẳng định lập trờng t tởng, chỉ rõ bản chất cách mạng tiên
phong của Đảng ngay từ buổi đầu thành lập cho đến nay: Đảng là đội tiên
phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai
8
cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc[40, tr. 3]. Do lợi ích
của GCCN và lợi ích của cả dân tộc luôn thống nhất nhau, nên Đảng ta thờng
nhấn mạnh bản chất GCCN của Đảng không có gì khác hơn là để cho Đảng
một khi đứng vững trên lập trờng t tởng của GCCN thì sẽ đấu tranh một cách
kiên quyết, triệt để cho sự nghiệp cách mạng chung, phục vụ cho lợi ích của
toàn thể nhân dân dân lao động, cho cả dân tộc đợc nhiều nhất, tốt nhất. Nói
cách khác, đứng về mặt t tởng mà xét thì Đảng ta chỉ có thể là đảng của
GCCN chứ không thể là đảng của bất kỳ một giai cấp nào khác, nhng nếu
đứng ở góc độ về mối liên hệ lợi ích của GCCN, của nhân dân lao động và
của cả dân tộc thì Đảng không những là Ngời đại biểu cho lợi ích của GCCN
mà còn là Ngời đại biểu cho lợi ích của toàn thể nhân dân lao động và cho cả
dân tộc.
Mặt khác, trong khi khẳng định Đảng và ĐNĐV của Đảng luôn gắn bó
chặt chẽ với GCVS mà họ là một bộ phận, điều đó cũng không có nghĩa Đảng
và ĐNĐV của Đảng với giai cấp của nó là một khối hỗn độn phức hợp không
rõ ràng, mà ngợc lại, giữa họ có một ranh giới phân biệt rất rành mạch không
thể lẫn lộn đợc. Ranh giới để phân biệt giữa Đảng và ĐNĐV của Đảng với
toàn bộ giai cấp vô sản chính là vai trò tiên phong riêng có của mình trên cả
Từ những cơ sở có tính đắp nền xây móng của C.Mác và Ph.Ăngghen,
các vị lónh tụ vĩ đai tiếp sau nh V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã bảo vệ,
kế thừa, vận dụng và phát triển ngày một hoàn thiện, phù hợp đáp ứng yêu
cầu đòi hỏi của mỗi giai đoạn cách mạng, phù hợp thực tiễn sinh động truyền
thống văn hoá của mỗi quốc gia, dân tộc cho đến nay.
Tổng kết công tác xây dựng Đảng trong các thời kỳ đã qua và căn cứ
vào yêu cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nớc ngày nay, Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX đã thông qua Điều lệ Đảng, trong đó xác định tiêu chuẩn
đảng viên ĐCSVN nh sau:
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sỹ cách mạng trong đội
tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho
mục đích, lý tởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm
chỉnh Cơng lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và
pháp luật của Nhà nớc nớc; có lao động, không bóc lột, hoàn thành tốt
nhiệm vụ đợc giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật
thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn
kết thống nhất trong Đảng [40,tr.6].
Trớc tiên ta thấy, Điều lệ Đảng xác định: đảng viên Đảng Cộng sản
Việt Nam là chiến sỹ trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam,
nghĩa là, đảng viên của Đảng phải là những ngời thuộc thành phần GCCN,
10
mang bản chất GCCN và đứng vững trên lập trờng t tởng của GCCN. Điều đó
cũng có nghĩa, đảng viên phải là những ngời có đầy đủ những đặc trng, bản
chất vốn có của một giai cấp lao động. Tức, họ phải có nhận thức tiên tiến
nhất, hành động cách mạng triệt để nhất, có ý thức tổ chức kỷ luật cao nhất và
có tinh thần quốc tế vô sản trong sáng của GCCN.
Nh vậy một mặt, do đảng viên mang bản chất GCCN cho nên, trong
mọi suy nghĩ và hành động của họ đều xuất phát từ lợi ích của GCCN, đại
biếu trung thành lợi ích của GCCN. Nhng măt khác, do Đảng là đội tiên
hành động vì sự nghiệp cách mạng chung.
Do vậy, đã là đảng viên cộng sản thì trớc tiên họ phải là những ngời
tiên phong về lý luận. Chính điều này mà V.I.Lênin, Ngời bảo vệ, vận dụng và
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, sáng lập nên đảng vô sản kiễu mới của
GCCN, đã đặc biệt quan tâm vấn đề lý luận trớc khi thành lập Đảng,
V.I.Lênin viết: Không có lý luận cách mạng thì cũng không có phong trào
cách mạng[46,tr.30]. Chỉ đảng nào đợc một lý luận tiền phong hớng dẫn thì
mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sỹ tiền phong[46,tr.32]. Chỉ khi đảng
viên có đủ trình độ lý luận tiên phong, có giác ngộ lý tởng cách mạng thật sự
thì họ mới có khả năng và quyết tâm thực hiện nhiệm vụ cao cả, họ mới có đủ
phẩm chất, năng lực và uy tín vận động, cổ vũ, thức tỉnh, lôi cuốn và lãnh đạo
đợc quần chúng, và khi đó họ mới có thể Phổ biến trong quần chúng công
nhân cái ý nghĩa ngày càng sáng rõ đã đạt đợc bằng cách đó[46,tr.34].
Đảng viên thiếu lý luận tiên phong sẽ không đủ sức vận động, giáo dục
thức tỉnh quần chúng và sự nghiệp cách mạng cũng sẽ không đi đến đâu. Bởi
lẽ, quần chúng khi cha đợc tuyên truyền, giáo dục, thức tĩnh từ những ngời
đảng viên cộng sản tiên phong thì họ không thể tự ý thức, hiểu biết và cùng
quyết tâm thực hiện nhiện vụ cách mạng mà Đảng đề ra đợc. V.I.Lênin đã
tổng kết: Lịch sử tất cả các nớc chứng thực rằng, chỉ do lực lợng của độc bản
thân mình thôi thì giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến ý thức công liên chủ
nghĩa[46,tr.38]. Nghĩa là, muốn cho sự nghiệp cách mạng đi đến đích phải đ-
ợc tuyệt đại bộ phận quần chúng lao động đồng tình ủng hộ và đi đến thống
nhát ý chí và quyết tâm cùng với Đảng hành động cách mạng. Muốn đợc vậy,
không cách nào khác là đảng viên của Đảng Phải chú ý đến việc nâng cao
trình độ công nhân lên trình độ những ngời cách mạng[46,tr.173]. Chúng ta
sẽ chỉ tự lừa dối mình, nhắm mắt trớc những nhiệm vụ bao la của chúng ta,
thu hẹp những nhiệm vụ đó lại, nếu chúng ta quên mất sự khác nhau gữa đội
tiên phong và tất cả quần chúng hớng theo đội tiên phong đó; nếu chúng ta
quên mất rằng đội tiên phong có nghĩa vụ thờng xuyên phải nâng các tầng lớp
ngày càng đông đảo đó lên trình độ tiên tiến ấy[48,tr.289, 290].
thành một hệ thống thống nhất không tách rời và không thể thiếu bất cứ nội
dung cụ thể nào. Trong đó, điều đặc biệt quan trọng chính là ta đã xác định đ-
ợc rằng, trong tổng thể hệ thống các nội dung yêu cầu của tiêu chuẩn đảng
viên, nội dung đầu tiên vừa phân tích đầy đủ, kỹ càng trên đây chính là nội
dung yêu cầu vừa có tính chất tiền đề đồng thời cũng chính là nội dung cốt
13
lõi, trọng tâm nhất trong hệ thống các nội dung của tiêu chuẩn đảng viên. Đây
chính là nội dung có tính quyết định, chi phối tất cả các nội dung yêu cầu còn
lại trong toàn bộ hệ thống các nội dung của tiêu chuẩn đảng viên.
Chúng ta có thể chứng minh những điều vừa khẳng định trên đây bằng
một phơng pháp suy loại rất đơn giản. Chẳng hạn, chúng ta sẽ không thể tìm
đâu ra đợc bất cứ ngời nào mang danh hiệu đảng viên của Đảng khi mà họ ch-
a có đợc trình độ nhận thức lý luận nhất định về CNMLN, TTHCM và Đảng
ta; cha có một mức độ giác ngộ chính trị, ý thức giai cấp rõ ràng và thiếu
niềm tin vào mục đích lý tởng của Đảng, nghĩa là cha xác định đợc ở họ một
tính tiên phong rõ rệt cả về nhận thức lý luận và hành động thực tiễn, mà lại
có thể là những ngời thực sự tự giác, tự nguyện và tự ý thức suốt đời phấn
đấu cho mục đích, lý tởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân đợc. Theo đó, họ
cũng không thể là ngời có ý thức tốt trong việc chấp hành nghiêm chỉnh C-
ơng lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của
Nhà nớc; và đơng nhiên, họ cũng sẽ không thể là những ngời có tinh thần, ý
thức và trách nhiệm cao trong việc họ phải là ngời tự thấy có trách nhiệm
phải: hoàn thành tốt nhiệm vụ đợc giao, là ngời có đạo đức và lối sống lành
mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân và đặc biệt họ cũng sẽ không thể là
những ngời nghiêm chỉnh phục tùng tổ chức kỷ luật của Đảng, giữ gìn sự
đoàn kết thống nhất trong Đảng đúng nh yêu cầu mà các nội dung cụ thể
của tiêu chuẩn đảng viên đã xác định. Nói cách khác, hệ thống các yêu cầu
căn bản, đầy đủ trong tiêu chuẩn đảng viên chỉ có thể đợc đảm bảo ở mức độ
nhất định trớc hết đối với những đảng viên thực sự tiên phong, thực sự giác
b) Từ mời tám tuổi trở lên: là những ngời tại thời diểm chi bộ xét kết
nạp đã tròn mời tám tuổi trở lên (tính theo tháng, năm sinh)
[13,tr.97]
- Hai là, ngời đang phấn đấu vào Đảng phải: Thừa nhận và tự nguyện:
Thực niện Cơng lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng
viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng. Điều đó có nghĩa hiện nay,
những ngời có thể đợc xét kết nạp vào Đảng: một mặt, họ phải am hiểu một
cách thấu đáo, tờng tận; quán triệt một cách đầy đủ, chuẩn xác và đi đến hoàn
toàn nhất trí với những nội dung, yêu cầu của Cơng lĩnh chính trị, Điều lệ
Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên đợc xác định trong các văn kiện và
Điều lệ của Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX; đồng thời một mặt
khác, trên cơ sở nhận thức, sự nhất trí đồng tình và thừa nhận đó, họ còn phải
chứng tỏ sự tự nguyện, quyết tâm phấn đấu để thực hiện nghiêm chỉnh, đúng
yêu cầu, nội dung của Cơng lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nhiệm vụ, tiêu
15
chuẩn đảng viên, mà sự thể hiện trớc tiên chính ngay trong qúa trình phấn đấu
thực hiện các NVCT tại địa phơng, đơn vị mà họ đang đợc các tổ chức chính
trị-xã hôị giao cho, sự thể hiện cụ thể nh mức độ tích cực, làm nồng cốt trong
các phong trào hành động cách mạng của quần chúng ở địa phơng, đơn vị,
trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và các tổ chức Mặt
trận, đoàn thể ở cơ sở và nhất là tỏ rõ sự tự nguyện, tự giác ra sức phấn đấu
rèn luyện mọi mặt để nhanh chóng có đủ điều kiên, tiêu chuẩn, qua đó đợc
các tổ chức đảng xem xét và công nhận đảng viên.
- Ba là, qua thực tiễn chứng tỏ là ngời u tú, đợc nhân dân tín nhiệm.
Trong điều kiện này, ta thấy nội dung trớc tiên mà ngời đang phấn đấu
vào Đảng phải đảm bảo đó là: Toàn bộ quá trình rèn luyện, phấn đấu của họ
phải đợc biểu hiện thực chất thông qua hoạt động thực tiễn, đợc kiểm nghiệm
trong thực tiễn, bởi vì thực tiễn chính là thớc đo duy nhất đúng của chân lý.
Chỉ khi sự rèn luyên, phấn đấu của họ đợc thực tiễn kiểm nghiệm mới có thể
khẳng định một cách chính xác ngời đang phấn đấu vào Đảng là đã thực sự u
lý tởng cộng sản chủ nghĩa, lý tởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân. Họ
là những tấm gơng sáng, tiêu biểu trớc quần chúng trong các phong trào hành
động cách mạng, họ có trách nhiệm vận động, thuyết phục, giáo dục, cổ vũ,
thức tĩnh, lôi cuốn và tổ chức quần chúng cùng hành động vì sự nghiệp cách
mạng chung, đấu tranh xoá bỏ chế độ xã hội cũ t sản dựa trên sự đối kháng
giai cấp, sự áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội mới tự do, ấm no,
hạnh phúc, không còn áp bức, bất công và đối kháng giai cấp.
Từ nhận thức đó, liên hệ đến các đảng bộ các xã ở An Giang ta sẽ dễ
dàng có thể hiểu đợc rằng, ĐNĐV đang hoạt động tại các đảng bộ cơ sở ở các
xã này cũng chính là những chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong chính trị
có tổ chức chặt chẽ nhất của GCCN Việt Nam, họ là những đại biểu tiên tiến,
u tú nhất đợc tuyển lựa chủ yếu từ các tầng lớp quần chúng lao động của các
xã trong tỉnh An Giang mà đa số là nông dân. Họ đã đợc giác ngộ lý tởng
cộng sản, thế giới quan và phơng pháp luận khoa học của CNMLN, TTHCM
và Đảng ta; họ đã đợc quán triệt và có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh những
quan điểm, chủ trơng, đờng lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà n-
ớc, tự rời bỏ lập trờng giai cấp xuất thân, nguyện đứng vào hàng ngũ của
Đảng; có ý thức, trách nhiệm trong việc giữ vững và kiên định lập trờng
GCCN; chịu sự quản lý, giám sát của các tổ chức đảng ở cơ sở, quyết tâm
phấn đấu suốt đời vì mục đích, lý tởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân.
Hiện nay, họ đã và đang có trách nhiệm, ra sức phấn đấu hết mình thực
hiện nhiệm vụ mà tổ chức, đơn vị phân công, ra sức tuyên truyền giáo dục,
thuyết phục cổ vũ, tổ chức và lãnh đạo nhân dân các đảng bộ, chi bộ xã, ấp
mình quyết tâm Đẩy nhanh công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hóa (HĐH)
17
nông nghiệp, nông thôn, góp phần xứng đáng vào sự thành công CNH, HĐH
toàn diện tỉnh An Giang, hoà vào sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH cả
nớc, hy vọng đến năm 2020 nớc ta trở thành nớc công nghiệp phát triển cất
cánh nh nhận định của Đảng trong các nghị quyết gần đây.
Nh vậy một mặt, ĐNĐV ở các đảng bộ xã tỉnh An Giang phải luôn có
nguyện vọng, nhu cầu của tuyệt đại bộ phận quần chúng nhân dân ở các xã,
trực tiếp nghiên cứu, khảo sát tiếp thu, nắm bắt thực trạng tình hình mọi mặt
đời sống kinh tế-xã hội tại các địa bàn nông thôn của tỉnh. Qua đó, họ có vai
trò là những đơn vị cơ sở phản ánh kịp thời tất cả những thông tin đã tiếp
nhận đợc lên các cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng. Đồng thời, cũng chính
các tổ chức dảng này có vai trò là những ngời quán triệt, tiếp thu tất cả những
quan điểm, chủ trơng, đờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc,
các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính quyền các cấp và biến chúng thành
phong trào hành động cách mạng của quần chúng tại các cơ sở đó, làm cho
chúng đợc thực thi trong thực tiễn. Cũng đồng thời trong qúa trình đa chủ tr-
ơng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nớc các cấp đi vào cuộc sống đó,
các tổ chức đảng này còn có trách nhiệm trực tiếp truyền đạt đến quần chúng
nhân dân xã mình những quan điểm, chủ trơng, đờng lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nớc các cấp. Bên cạnh đó, các tổ chức đảng ở đây
còn có trách nhiệm trực tiếp triển khai, thực hiện tất cả các mặt công tác xây
dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng ĐNĐV tại các đảng bộ xã mình theo chức
năng, nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định, do các cấp uỷ cấp trên giao cho;
các đảng bộ cơ sở này còn là một trong những nguồn cung cấp quan trọng về
đội ngũ cán bộ đã đợc đào luyện kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn cho các
cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc các cấp.
Trên cơ sở xác định rõ vị trí và vai trò của các đảng bộ các xã tỉnh An
Giang nh trên, cho phép ta có thể dễ dàng xác định một cách chuẩn xác vị trí
và vai trò cụ thể của ĐNĐV đang hoạt động ở các đảng bộ xã này nh sau:
- Một là, từng đảng viên với t cách là những ngời đợc tổ chức đảng
phân công thực hiện các nhiệm vụ đợc giao, trực tiếp liên hệ với quần chúng
nhân dân, trực tiếp tiếp thu và xử lý tất cả những thông tin về mọi mặt tình
hình kinh tế-xã hội, về những nhu cầu bức xúc, tâm t, nguyện vọng chính
đáng và hợp pháp của tuyệt đại bộ phận nhân dân nơi địa bàn mình phụ trách.
Qua đó, họ phản ánh, báo cáo trực tiếp với chi bộ, đảng bộ cơ sở những tâm t,
nguyện vọng của nhân dân. Mặt khác, từng đảng viên với t cách là những ng-
cụ thể cho từng đảng viên; quản lý, kiểm tra, phân tích chất lợng đảng viên;
tham gia xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch vững mạnh; tổ chức vận động
quần chúng đóng góp, tham gia xây Đảng, xây dựng chính quyền và các tổ
chức mặt trận đoàn thể nhân dân. Vận động, tổ chức, tạo mọi điều kiện thuận
lợi để quần chúng đợc thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của công dân, phát
huy đầy đủ quy chế dân chủ ở cơ sở cấp xã, đấu tranh có hiệu quả với các
hiện tợng sai trái, tiêu cực, lãng phí, quan liêu tham nhũng trong đội ngũ cán
20
bộ, ĐNĐV, nhất là những đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ
sở.
- Năm là, ĐNĐV thay mặt tổ chức đảng, tổ chức chính quyền và nhân
dân đề xuất những ý kiến, đề đạt những nguyện vọng của cơ sở lên các cấp có
thẩm quyền. Căn cứ những ý kiến và nguyện vọng đó, các cơ quan Đảng và
Nhà nớc cấp trên kịp thời bổ sung, điều chỉnh chủ trơng, chính sách cho phù
hợp.
- Sáu là, ĐNĐV ở đây là những ngời hoạt động ở cơ sở, hằng ngày đối
mặt với những diễn biến sinh động, phức hợp đa chiều của cuộc sống; trực
tiếp tiếp xúc với mọi tầng lớp nhân nhân nên họ nhanh chóng tích lủy đợc
nhiều kinh nghiệm quý giá, nhất là những kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo
thực tiễn, kinh nghiệm nắm bắt tâm t, nguyện vọng của nhân dân, đặc biệt là
nông dân. Do vậy, họ là những ngời giàu kinh nghiệm lãnh đạo, tổ chức, vận
động quần chúng nông dân tham gia các phong trào cách mạng ở nông thôn
An Giang. Mặt khác, do đợc đào luyện trong thực tiễn công tác ở cơ sở, nên
họ cũng nhanh chóng trởng thành về nhiều mặt, tạo ra nguồn cán bộ dồi dào
cung cấp cho các cơ quan Đảng và Nhà nớc ở cấp trên.
Do ĐNĐV ở các Đảng bộ xã tỉnh An Giang có vị trí và vai trò rất
quan trọng nh đã nêu trên, cho nên một trong những nội dung đặc biệt quan
trọng công tác xây dựng Đảng ở các đảng bộ các xã ở đây là xã phải thờng
xuyên NCCLĐNĐV lên những tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đợc
giao.
số ĐV của toàn tỉnh, còn nếu so với tổng số ĐV của các xã, phờng và thị trấn
thì tỉ lệ này là 72,28% (xem phụ lục 6).
Năm 2003 còn tới 8.714 ĐV có trình độ cấp II phổ thông trở xuống
chiếm 33,07% so tổng số ĐV toàn tỉnh, số đảng viên này chủ yếu sống và
làm việc ở các xã nông thôn. Hiện nay, số ĐV đã đợc học qua chơng trình cao
cấp và đại học chính trị là 2.215 ĐV chiếm 8,40% tổng số ĐV của tỉnh, trong
đó đa số họ thuộc diện cán bộ lãnh đạo chủ chốt đơng chức cấp Huyện, cấp
Tỉnh và một phần của cấp xã; họ theo học chủ yếu các dạng lớp thuộc hệ tại
chức và đa phần từ mời năm trở lại đây, là con số vợt trội so với tất cả các tỉnh
Đồng bằng sông Cữu Long. Còn về trình độ chuyên môn: cao đẳng có 1.570
ĐV, chiếm 5,95%, và đại học là 3.532, chiếm 13,36% so tổng số ĐV của tỉnh
(xem phụ lục 7).
Xuất phát từ thực tế đặc thù An Giang là một tỉnh biên giới Tây Nam
Bộ thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, khá đa dạng phức tạp về điều kiện tự
nhiên, có cả những mặt thuận lợi lớn, nhng cũng đan xen trong đó không ít
khó khăn. Cho đến nay, dù đã có nhiều cố gắng, nhng An Giang vẫn đang là
một tỉnh nông nghiệp với trình độ phát triển trung bình. Tất cả các xã ở đây
22
đều là nông thôn, lao động sản xuất chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp.
Công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn chỉ mới ở giai đoạn đầu, còn
rất nhiều khó khăn đang ở phía trớc.
Những năm gần đây, đã xuất hiện một số khá đông nông dân An
Giang làm ăn khấm khá, cá biệt đã có những triệu phú, thậm chí tỷ phú giàu
có nổi tiếng cả vùng. Có đợc nh vậy, là nhờ sự nghiệp đổi mới đã tạo ra cơ hội
cho những nông dân này tận dụng đợc điều kiện thuận lợi về tự nhiên, tiền
vốn, đất đai, và sự cần cù trong lao động để trở nên giàu có. Do nhạy bén nắm
bắt đợc thời cuộc, nhanh chóng tiếp thu những chính sách cởi mở, đổi mới
của Đảng và Nhà nớc, nhất là những chủ trơng về chuyển đổi cơ cấu kinh tế,
vật nuôi, cây trồng và việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ sinh
học vào đồng ruộng, cho nên đã tạo ra một phong trào thi đua sôi nổi, làm
yếu ở nông thôn; cuộc sống của họ gắn bó chặt chẽ với thôn ấp, bản làng, có
sự ràng buộc khá chặt chẽ bởi quan hệ họ hàng quyến thuộc. Vì vậy, họ là
những ngời nắm rất vững tâm t nguyện vọng của nhân dân lao động ở các xã,
nhất là nông dân. Thông qua sự lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ ở đó, họ thực sự
là những chiếc cầu trực tiếp nối liền Đảng với dân, giữa TCCSĐ với các cấp
trên của Đảng. Đó cũng là một trong những cơ sở khách quan để họ có thể
thực sự trở thành những đại biểu trung thành lợi ích của các tầng lớp nhân dân
lao động sống ở nông thôn An Giang.
- Hai là, do họ trởng thành trực tiếp từ thực tiễn, nhất là ở những vùng,
khu vực đặc biệt khó khăn, nên ít đợc đào tạo qua trờng lớp một cách bài bản
và có hệ thống, và lại do họ xuất thân từ nông dân nên trình độ nhận thức của
họ nhìn chung là thấp; cách nghĩ, cách nhìn nhận vấn đề thờng không sâu; ph-
ơng pháp nhận thức và hành động chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, nên hiệu
quả công tác không cao, tính thuyêt phục của công tác t tởng thấp. Có thể nói,
cả trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ của một
bộ phận khá đông đảng viên ở đây nhìn chung là hạn chế, còn một khoảng
cách khá xa mới có thể đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ CNH, HĐH đất nớc.
- Ba là, ĐNĐV ở đây phần đông vào Đảng từ sau năm 1975. Chỉ còn
một số đảng viên trởng thành trớc năm 1975, còn tham gia sinh hoạt đảng và
sinh sống ở đây. Nếu các đảng bộ xã ở An Giang còn quá ít đảng viên cao tuổi
đời, nhiều tuổi đảng thì ngợc lại, ở các đảng bộ thị trấn, phờng, ven đô số
đảng viên cao tuổi hoặc đã nghỉ hu khá đông. Với thực tế đó tạo cho các đảng
bộ các xã ở An Giang vừa có thuận lợi mặt này nhng đồng thời lại cũng gặp
khó khăn ở mặt khác, tỷ lệ đảng viên trẻ hoạt động ở các đảng bộ xã cao là
một thuận lợi lớn, nhng cũng có khó khăn do thiếu sự dìu dắt, giúp đỡ của thế
hệ đảng viên lớn tuổi.
24
- Bốn là, có khá đông đảng viên đang đợc giữ những trọng trách ở cơ
sở, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở các xã thờng không yến tâm
làm việc lâu dài ở cơ sở. Nhiều ngời trong số họ tìm mọi cách để đợc làm việc
- Chất lợng đảng viên có nội dung rất toàn diện, bao gồm cả phẩm
chất đạo đức cách mạng, cả tri thức và năng lực hoạt động thực tiễn của mỗi
25