BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
NGUYỄN HỒNG THẮNG
XÂY DỰNG NGÂN HÀNG NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM
THÀNH TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG ĐA NĂNG
TRONG KHU VỰC CHÂU Á
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60.31.07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐẶNG THỊ NHÀN
HÀ NỘI - 2007
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1
1.1.
TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN VÀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH
NGÂN HÀNG ĐA NĂNG .......................................................... 4
Khái niệm và quá trình hình thành các tập đoàn trên thế giới ................. 4
năng tại Việt Nam. ............................................................................................... 24
1.3.1.1. Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng ............ 24
1.3.1.2. Nhu cầu tất yếu về việc hình thành Tập đoàn tài chính - ngân hàng đa
năng tại Việt Nam ..................................................................................... 26
1.3.2. Điều kiện hình thành Tập đoàn TC - NH đa năng tại Việt Nam ...................... 28
1.3.2.1. Tổng quan về các Ngân hàng Thương mại Việt Nam .............................. 28
1.3.2.2. Điều kiện hình thành Tập đoàn tài chính - ngân hàng đa năng tại Việt
Nam ........................................................................................................... 35
CHƢƠNG 2
2.1.
THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM........... 41
Khái quát về Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam .................................... 41
2.1.1. Lịch sử phát triển của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ............................. 41
2.1.2. Các lĩnh vực hoạt động chính và các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam .................................................................................................. 44
2.1.2.1. Lĩnh vực hoạt động ................................................................................... 44
2.1.2.2. Các nghiệp vụ cơ bản ................................................................................ 45
2.2.
Thực trạng mô hình tổ chức và hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Ngoại thƣơng Việt Nam ............................................................................... 50
3.2.1. Xây dựng mô hình tổ chức và quản trị mới : ..................................................... 84
3.2.1.1. Đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá. ................................................................. 84
3.2.1.2. Xây dựng mô hình Tập đoàn tài chính - ngân hàng đa năng đa năng
(VCB-Group) ............................................................................................ 87
3.2.2. Các giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh theo hướng Tập đoàn tài chínhngân hàng đa năng: ............................................................................................. 91
3.2.2.1. Nâng cao năng lực tài chính: .................................................................... 91
3.2.2.2. Mở rộng hoạt động kinh doanh:................................................................ 94
3.3.
Kiến nghị: ................................................................................................... 107
3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước và các cơ quan hữu quan: ........................................ 107
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước ................................................................. 108
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 110
Tài liệu tham khảo ................................................................................................... 112
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BIDV
(Asset - Liability Management Committee) Ủy ban Quản lý Tài
sản Nợ - Tài sản Có
Ngân hàng Đầu tư và phát triền
CAR
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Ngân hàng Thương mại nhà nước
ROA
ROE
TCKT
TCTD
TĐTC-NH
TĐTC-NHĐN
VAS
VBARD
(Return on Asset) Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên Tổng tài sản
(Return on Equity) Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên Vốn tự có
Tổ chức kinh tế
Tổ chức tín dụng
Tập đoàn Tài chính – Ngân hàng
Tập đoàn Tài chính – Ngân hàng đa năng
(Vietnamese Accounting Standard) Tiêu chuẩn kế toán Việt Nam
Ngân hàng nông nghiệp Phát triển nông thôn
VCB
WTO
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
(World Trade Organization) Tổ chức thương mại thế giới
Ngân hàng Nhà nước
đến 03/2007
Lợi nhuận của NHNTVN giai đoạn 2002-2006
Cơ cấu huy động vốn của NHNTVN theo nguồn huy động từ 20042006
Tình hình dư nợ tín dụng NHNTVN 2004-2006
Hoạt động thanh toán quốc tế của NHNTVN 2004 - 2006
Hoạt động kinh doanh thẻ của NHNTVN 2004-2006
Một số chỉ tiêu so sánh của NHNTVN và các NHTM năm 2005
Một số chỉ tiêu của NHNTVN so sánh với các nhóm Ngân hàng quốc tế
Qui mô một số Ngân hàng Châu Á – 2004
Lộ trình tăng vốn của NHNTVN trong trường hợp phần vốn góp của
Nhà nước giữ nguyên và giảm tỷ lệ xuống tới 51% đến năm 2010
Trang
12
15
29
32
33
60
61
63
67
71
79
81
82
92
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Kết cấu tỷ trọng của các khoản thu nhập trên tổng thu nhập từ HĐKD
74
của NHNTVN 2004-2006
Vốn tự có và hệ số CAR theo VAS năm 2004 – 2006 của NHNTVN
76
Vốn tự có và hệ số CAR theo IAS năm 2004 – 2006 của NHNTVN
76
Chỉ tiêu lợi nhuận/vốn và chi phí/thu nhập các NHTM 2005
80
Lượng kiều hối từ nước ngoài chuyển về Việt Nam 2001-2005
103
Tên sơ đồ
Trang
Mô hình tổ chức của tập đoàn Ngân hàng đa năng
16
Mô hình TĐTC-NH đa năng kiểu công ty mẹ - Cty con
17
Mô hình TĐTC-NH đa năng kiểu Holding Company
18
Mô hình hoạt động của Citigroup
21
Mô hình tổ chức theo cơ cấu phòng ban của NHNTVN
51
Mô hình tổ chức theo khối công ty của NHNTVN
53
Mô hình TĐTC-NH đa năng NHNTVN theo kiểu Công ty mẹ - con
88
Mô hình TĐTC-NH đa năng NHNTVN theo chức năng hoạt động
89
thuật, chất lượng dịch vụ và loại hình sản phẩm, cũng như khả năng ứng phó với
cạnh tranh, rủi ro...Điều này đòi hỏi mỗi Ngân hàng thương mại trong nước phải tìm
-2-
ra chiến lược phát triển riêng của mình mà trong đó hướng phát triển trở thành các
ngân hàng mạnh, đa năng đủ sức cạnh tranh cũng như thích ứng với môi trường
kinh doanh hiện đại là một yêu cầu bức thiết và là xu hướng tất yếu. Trong số các
Ngân hàng thương mại Nhà nước của Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam được Chính phủ lựa chọn là một trong những Ngân hàng thương mại Nhà
nước đầu tiên của Việt Nam thực hiện cổ phần hóa, Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam đang gấp rút thực hiện đề án cổ phần hóa để trình Chính phủ, đồng thời từng
bước chuẩn bị để đối đầu với những thử thách mới khi các ngân hàng nước ngoài
được phép hoạt động như các ngân hàng trong nước kể từ năm 2010.
Trước yêu cầu đó tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Xây dựng Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam trở thành tập đoàn tài chính ngân hàng đa năng trong khu
vực châu Á” cho Luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu:
Hiện nay, trên thế giới chưa có khái niệm, định nghĩa chính thức về tập đoàn nói
chung và tập đoàn tài chính ngân hàng đa năng nói riêng. Tại Việt Nam, cũng chưa
có công trình nghiên cứu chính thức nào về mô hình tập đoàn và tập đoàn tài chính
ngân hàng. Hầu hết các nghiên cứu về tập đoàn tài chính ngân hàng ở Việt Nam là
các trao đổi, hội thảo khoa học phục vụ định hướng phát triển của các Ngân hàng
thương mại Việt Nam, mà chưa đưa ra giải pháp phát triển cụ thể cho riêng ngân
hàng nào.
3. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng đa năng,
luận văn tìm ra các giải pháp nhằm xây dựng Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
thành một tập đoàn tài chính ngân hàng đa năng trong khu vực Châu Á
Chƣơng 1: Tổng quan về tập đoàn và tập đoàn tài chính ngân hàng đa năng.
Chƣơng 2: Thực trạng về mô hình tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam.
Chƣơng 3: Các giải pháp xây dựng Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thành tập
đoàn tài chính ngân hàng đa năng trong khu vực châu Á.
-4-
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN VÀ
TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG ĐA NĂNG
1.1.
KHÁI NIỆM VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN TRÊN
THẾ GIỚI
1.1.1.
Tập đoàn và tập đoàn kinh tế:
1.1.1.1.
Khái niệm và đặc trưng của tập đoàn:
Khái niệm :
Cho đến nay chưa có định nghĩa hay khái niệm chính thức cũng như thống nhất về
tập đoàn. Tuy nhiên, tập đoàn có thể được hiểu theo một cách chung nhất đó là tổ
hợp hay liên minh của một số đơn vị thành viên hoạt động trong một hay nhiều
nghành nghề khác nhau, tại một hay nhiều vùng, quốc gia hay lãnh thổ khác nhau.
có chung quyền được bảo vệ để có thể tránh khỏi những nguy cơ bị thôn tính hay
chèn ép của các đơn vị ngoài tập đoàn cũng như từ các tập đoàn khác.
1.1.1.2.
Tập đoàn kinh tế:
Khái niệm:
Về cơ bản, cũng chưa có định nghĩa chính thức về tập đoàn kinh tế, tuy nhiên có
thể hiểu rằng: Tập đoàn kinh tế là một hình thức tổ chức liên kết kinh tế. Các tập
đoàn kinh tế là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay những ngành
khác nhau trong phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một công ty nắm
quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến
lược phát triển [3].
Tập đoàn kinh tế thường là các tập đoàn xuyên vùng gồm nhiều hình thức sở hữu,
đa chức năng như sản xuất, thương mại, nghiên cứu khoa học, tài chính, vận tải, du
lịch, bảo hiểm…Tập đoàn kinh tế theo mô hình “Mẹ - con” thường có quy mô rất
lớn về vốn, lao động, thị trường với phạm vi hoạt động rộng về mặt địa lý, ngành
nghề, lĩnh vực hoạt động, có kết cấu tổ chức nhiều cấp, trong đó các đơn vị thành
-6-
viên của tập đoàn đều là thực thể kinh tế có tư cách pháp nhân, tự chủ kinh doanh,
hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh.
Nói chung không có khuôn mẫu chung cho tất cả các tập đoàn kinh tế. Tuy nhiên
thông thường, đối với mô hình tập đoàn kinh tế theo dạng Công ty mẹ – công ty con
là các công ty độc lập về mặt pháp lý. Công ty mẹ thường là các công ty cổ phần
nắm quyền chi phối trong các công ty con. Công ty mẹ là chủ sở hữu tài sản của
chính công ty đồng thời sở hữu các tài sản là vốn góp cho các công ty con, công ty
mẹ cũng là nơi ra các quyết định về chiến lược cũng như các chính sách kinh doanh
Các tập đoàn kinh tế thường hoạt động và quản lý tập trung một số mặt như
huy động nguồn lực, điều tiết, quản lý vốn, đào tạo, nghiên cứu triển khai, xây
dựng các chiến lược từ tổng thể đến chi tiết.
Tập đoàn kinh tế có thể kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành. Ngày nay thì
các tập đoàn kinh tế phát triển theo xu hướng hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực
là phổ biến nhưng luôn có một ngành, một lĩnh vực giữ vị trí mũi nhọn. Bên
cạnh các đơn vị sản xuất là các tổ chức tài chính, ngân hàng, thương mại, dịch
vụ, nghiên cứu... Các tổ chức tài chính, ngân hàng và nghiên cứu ứng dụng
ngày càng được chú ý hơn vì đó là đòn bẩy cho sự phát triển của tập đoàn.
Trong xu thế toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn thì
các tập đoàn kinh tế tăng cường hoạt động thôn tính, sáp nhập, liên minh rộng rãi và
địa phương hoá sản xuất, kinh doanh.
Nguyên tắc hoạt động:
Nguyên tắc chung của các tập đoàn kinh tế đó là tối đa hoá lợi nhuận. Công ty mẹ
nắm giữ cổ phần chi phối trong các công ty con nhằm mục tiêu chính là tạo ra lợi
nhuận. Số lượng cổ phần này sẽ có ảnh hưởng tới các quyết định quan trọng của các
công ty con như bán tài sản, cơ cấu lại, sáp nhập…thông qua các hoạt động đầu tư,
kiểm soát tài chính, chiến lược phát triển, hình thức quản lý, cách thức tiếp thị.v.v.
Đó là sự chi phối bằng quan hệ tài chính, bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình
của công ty mẹ - ví dụ như là thương hiệu- đối với các công ty con.
Với cách chi phối như vậy thêm vào đó là sự phân chia thị trường một cách
tách bạch giữa các công ty con và đôi khi có thêm các thoả thuận khác, Tập
-8-
đoàn sẽ tạo được sự ổn định trong toàn hệ thống, đồng thời hạn chế được sự
cạnh tranh trong nội bộ của tập đoàn. Hơn nữa, điều đó sẽ giúp cho sự phối
không xa rời mục tiêu mà tập đoàn đề ra.
1.1.2.
Quá trình hình thành các tập đoàn trên thế giới
Chúng ta có thể thấy rằng, vào cuối thế kỷ 19 đầu 20 duới tác động của cuộc cách
mạng công nghiệp và tiến bộ khoa học kỹ thuật ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, lực
lượng sản xuất đã phát triển một cách nhanh chóng. Những thành tựu khoa học kỹ
thuật thời kỳ này, một mặt làm xuất hiện những ngành sản xuất mới đòi hỏi xí
nghiệp, công ty phải có quy mô lớn; mặt khác, nó dẫn đến tăng năng suất lao động,
đi cùng với nó là quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, tăng khả năng tích luỹ tư
bản, thúc đẩy phát triển sản xuất lớn, từ đó hình thành các xí nghiệp, công ty có quy
mô rất lớn.
Trong điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tác động của quy luật kinh tế
của chủ nghĩa tư bản như quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích luỹ…ngày càng
mạnh mẽ, làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản
xuất quy mô lớn.
Cạnh tranh khốc liệt buộc các nhà tư bản phải tích cực cải tiến kỹ thuật, tăng quy
mô tích luỹ để thắng thế trong cạnh tranh. Đồng thời, canh tranh gay gắt làm cho
các nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản, còn các nhà tư bản lớn phát tài, làm giàu với
số tư bản tập trung và quy mô xí nghiệp ngày càng to lớn.
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 trong toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa làm
phá sản hàng loạt các xí nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy nhanh chóng quá trình tích
tụ và tập trung tư bản.
Sự phát triển của hệ thống tín dụng tư bản chủ nghĩa trở thành đòn bẩy mạnh mẽ
thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành các công ty cổ phần, tạo tiền
đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền và các tập đoàn lớn trên thế giới [1].
Trong giai đoạn hội nhập và giao lưu kinh tế cả về chiều rộng và chiều sâu, các tổ
chức độc quyền và các công ty lớn chuyển sang các hoạt động mang tính quốc tế
hàng.
Nói chung chúng ta có thể hiểu rằng: TĐTC-NH là một tổ chức bao gồm hai hay
nhiều định chế tài chính - ngân hàng được liên kết lại với nhau trong một chỉnh
thể thống nhất. Đó là sự liên kết giữa nhiều chủ thể khác nhau hoạt động trên các
lĩnh vực tài chính – ngân hàng nhằm hướng tới mục tiêu nhất định như mở rộng
hoạt động kinh doanh, đầu tư và tăng khả năng cạnh tranh và mục tiêu cuối cùng
là thu được lợi nhuận cao nhất [3].
Mặc dù không có khái niệm chính thức về TĐTC-NH hay TĐTC-NH đa năng tuy
nhiên, về nguyên tắc một tập đoàn được coi là TĐTC-NH phải đáp ứng được những
yêu cầu sau:
-11-
Thứ nhất, phải là một tập đoàn hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tài chính –
ngân hàng.
Thứ hai, phải là một tập đoàn mà hoạt động chính của nó phải bao gồm 2 trong
số các mảng tài chính quan trọng: ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán.
Đối với TĐTC-NH đa năng, ngoài các hoạt động chính nêu trên thì mảng hoạt
động của các tập đoàn còn rộng hơn nữa, không chỉ đơn thuần là các loại dịch vụ tài
chính như: dịch vụ đầu tư, quản lý quỹ đầu tư, cho thuê tài chính, dịch vụ thẻ, mua
bán nợ...mà còn mở rộng sang các lĩnh vực như: đầu tư bất động sản, kinh doanh
thương mại, đầu tư hạ tầng...
Về khái niệm TĐTC-NH thì ở mỗi nước và mỗi khu vực có cách hiểu khác nhau:
Tại các nƣớc thuộc liên minh châu Âu: thì TĐTC-NH thường có tên gọi là
“financial conglomerate” và để được gọi như vậy phải thoả mãn các điều kiện sau:
Trong tập đoàn phải có ít nhất một công ty thực hiện các hoạt động về ngân
hàng và ít nhất một công ty hoạt động về chứng khoán hoặc bảo hiểm.
Công ty thực hiện các hoạt động ngân hàng, chứng khoán hay bảo hiểm phải là
hạt nhân của cả tập đoàn, cụ thể là các hoạt động tài chính này phải chiếm hơn
Nƣớc
1
2
3
4
5
6
7
Citigroup
Bank of America
HSBC Holdings
General Electric
JPMorgan Chase
American Intl Group
ExxonMobil
Mỹ
Mỹ
Anh
Mỹ
Mỹ
Mỹ
Mỹ
8
Royal Dutch Shell
Banking
Banking
Conglomerates
Banking
Insurance
Oil & Gas
Operations
Oil & Gas
Operations
Diversified
Financials
Insurance
146,56
116,57
121,51
163,39
99,30
113,19
335,09
21,54
21,13
16,63
20,83
14,44
14,01
39,50
1.884,32
153,44
9,65 1.615,05
93,99
Nguồn: www.forbes.com
Qua bảng 1.1 có thể thấy rằng trong 10 tập đoàn lớn nhất thế giới thì đã có tới 7 tập
đoàn tài chính, ngân hàng. Nếu xét rộng hơn, theo bảng xếp hạng của Forbes tính
đến tháng 03/2007, trong 2000 tập đoàn lớn nhất thế giới có 590 TĐTC-NH, tuy
nhiên các TĐTC-NH này lại chiếm hơn 75% giá trị tổng tài sản của cả 2000 tập
đoàn này (77.283,46 tỷ USD so với 102.695,53 tỷ USD) [22].
Cấu trúc của các TĐTC-NH thường là rất phức tạp, TĐTC-NH là sự kết hợp
chặt chẽ của nhiều công ty trong một tổ chức thống nhất. Hạt nhân là một tập
đoàn thường là một ngân hàng cỡ lớn nắm quyền quyết định, tiếp đến là các
công ty con và các công ty cổ phần trung gian và dưới nữa là các công ty con
-13-
của công ty con. TĐTC-NH thường được tổ chức theo ngành dọc, đứng đầu là
Chủ tịch tập đoàn sau đó là giám đốc phụ trách các khối, mảng kinh doanh
khác nhau.
Mô hình thường gặp của TĐTC-NH đa năng là tổ chức kiểu Công ty mẹ -công
ty con. Trong mô hình này, ngân hàng mẹ và các công ty con đều có tư cách
pháp nhân độc lập, có tài sản và bộ máy quản lý riêng. Giao dịch giữa ngân
hàng mẹ và các công ty con hay giữa các công ty con với nhau là giao dịch thị
trường. Ngân hàng mẹ có thể nắm giữ toàn bộ hoặc một phần nhất định vốn cổ
phần của các công ty con. Ngân hàng mẹ đề ra chiến lược và định hướng phát
triển chung cho cả tập đoàn, đồng thời phân bổ nguồn lực của tập đoàn thông
Trong vài thập kỷ trở lại đây, cùng với tiến trình toàn cầu hoá, hoạt động của các
ngân hàng quốc tế và các TĐTC-NH đa năng đã có những thay đổi sâu sắc. Trước
đây các ngân hàng quốc tế cũng như các TĐTC-NH quốc tế thực hiện hoạt động của
mình thông qua việc thu hút vốn trong nước và tiến hành đầu tư, cho vay ở nước
ngoài. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin là sự
lớn mạnh của các quốc gia đang phát triển trên thế giới. Do đó, để tăng qui mô hoạt
động cũng như giữ vững thị trường, các ngân hàng quốc tế và tập đoàn tài chính
quốc tế đã thực hiện toàn cầu hoá hoạt động của mình thông qua việc thiết lập các
chi nhánh của mình và tiến hành các hoạt động tại chỗ như thu hút vốn, cung cấp
các dịch vụ cho vay, thế chấp, quản lý tài sản...Trong quá trình cạnh tranh gay gắt
các ngân hàng buộc phải duy trì quy mô lớn nhằm giảm chi phí bằng cách mở rộng
mạng lưới khắp nơi trên thế giới. Với xu hướng phát triển như vậy các vụ mua bán
sáp nhập diễn ra ngày một nhiều và có quy mô cũng rất lớn, các ngân hàng lớn hơn
tiến hành mua các ngân hàng nhỏ và biến nó thành các chi nhánh, công ty con của
mình nhằm tận dụng hệ thống và mạng lưới sẵn có của các ngân hàng này, không
chỉ ở nước sở tại mà còn ở cả nước ngoài. Các vụ sáp nhập của các ngân hàng
không chỉ diễn ra trong biên giới lãnh thổ một quốc gia mà còn mang tính chất quốc
tế. Các ngân hàng, tập đoàn tài chính lớn muốn mở rộng hoạt động của mình đồng
thời tận dụng cơ sở vật chất sẵn có của các ngân hàng sở tại ở các thị trường tiềm
năng, đã tiến hành mua lại hay sáp nhập với các ngân hàng khác thông qua đó
chiếm lĩnh được các thị trường này đồng thời giảm thiểu được các chi phí. Điển