Xu hướng hình thành tập đoàn tài chính - ngân hàng thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập - thực tiễn trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam - Pdf 13



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
XU HƢỚNG HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH - NGÂN
HÀNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG MUA LẠI VÀ SÁP
NHẬP – THỰC TIỄN TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Hà Lê Quỳnh Nga
Lớp : Anh 11
Khóa : 44C
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Phan Trần Trung Dũng

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP VÀ TẬP ĐOÀN TCNH
1
I. Lý luận về mua lại và sáp nhập (M&A) 1
1. Khái niệm về mua lại và sáp nhập 1
2. Các hình thức mua lại và sáp nhập 3
2.1 Dựa theo mức độ liên hệ giữa hai tổ chức 3
2.2 Dựa theo phạm vi lãnh thổ 5
2.3 Dựa theo chiến lược mua lại công ty 6
2.4 Dựa trên cách thức tiến hành tài trợ (bằng nợ hoặc vốn tự có) 7
2.5 Dựa theo các cách phân loại khác 7
3. Động cơ thực hiện mua lại và sáp nhập 8
3.1 Giảm xung lực cạnh tranh, tạo lợi nhuận độc quyền 8
3.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động 9
3.3 Giảm chi phí gia nhập thị trường 10
3.4 Thực hiện đa dạng hóa và dịch chuyển trong chuỗi giá trị 11
3.5 Tham vọng bành trướng và tập trung quyền lực thị trường 11
4. Các phương thức thực hiện mua lại và sáp nhập 11
4.1 Chào thầu (tender offer) 12
4.2 Lôi kéo các cổ đông bất mãn (Proxy fights) 13

1.3 Kinh nghiệm từ thành công, thất bại của tập đoàn 44
2. Tập đoàn TCNH J.P. Morgan Chase 49
2.1 Giới thiệu về tập đoàn J.P. Morgan Chase 49
2.2 Lịch sử M&A của tập đoàn J.P. Morgan Chase 50
2.3 Kinh nghiệm từ thành công và thất bại của tập đoàn 52
3. Tập đoàn TCNH Allianz 55
3.1 Giới thiệu về tập đoàn Allianz 55
3.2 Lịch sử M&A của tập đoàn Allianz 56
3.3 Thành công, thất bại và bài học kinh nghiệm 57
4. Kinh nghiệm của một số tập đoàn khác 61
4.1 Tập đoàn TCNH Wachovia 61
4.2 Deutsche Bank và Morgan Grenfell & Co 62
4.3 Credit Suisse Group và công ty bảo hiểm Winterthur 63
4.4 General Electric Capital Service (GECS) 631
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN TCNH THÔNG
QUA MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP Ở VIỆT NAM DỰA VÀO BÀI HỌC
KINH NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI 66
I. Khái quát về mua lại và sáp nhập trong lĩnh vực TCNH tại Việt Nam 66
1. Hành lang pháp lý cho hoạt động M&A trong lĩnh vực TCNH 66
2. Thực tiễn hoạt động mua lại và sáp nhập ngân hàng ở Việt Nam 66
2.1 Tình hình M&A ngân hàng tại Việt Nam thời gian qua 67
2.2 Tình hình M&A hướng đến hình thành tập đoàn TCNH tại Việt
Nam 70
3. Đánh giá hoạt động M&A theo định hướng hình thành tập đoàn TCNH
tại Việt Nam 73
3.1 Những thành tựu đạt được 73
3.2 Những tồn tại cần khắc phục 74

NH TMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
TCNH
Tài chính – ngân hàng
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TDND
Tín dụng nhân dân
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
2. TÊN VIẾT TẮT CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Tên viết tắt
Nội dung đầy đủ
ACB
Ngân hàng TMCP Á Châu
Agribank
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BIDV
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Eximbank
Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu
GP Bank
Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu
Habubank
Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội
Sacombank
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
Techcombank
Ngân hàng TMCP Kỹ Thương
VIBank

Biểu đồ 2.7: Giá cổ phiếu tập đoàn Allianz giai đoạn tháng 10/2001 đến
31/12/2003 so với chỉ số DAX 60
Sơ đồ 1.1: Mô hình tập đoàn ngân hàng đa năng 20
Sơ đồ 1.2: Mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần túy 21
Sơ đồ 1.3: Mô hình công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh 22
LỜI MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, hoạt động mua lại và sáp nhập (M&A) đã bắt đầu vào
cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Làn sóng M&A thường song hành với các giai
đoạn phát triển kinh tế nóng. Đó là thời điểm mà các công ty liên tục hoạt
động dưới sức ép cạnh tranh rất lớn từ thị trường, đó có thể là thời điểm nền
kinh tế đối mặt với khủng hoảng (ví dụ như thời kỳ khủng hoảng tài chính –
tiền tệ ở các nước Châu Á 1997-1998…). Ngành ngân hàng là một trong
những lĩnh vực thể hiện rõ nét nhất vai trò của M&A. M&A ngân hàng đã
xuất hiện từ lâu nhưng phát triển mạnh mẽ nhất là vào những năm 90 của thế
kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Đi đầu trong hoạt động này là khu vực tài chính ngân
hàng Mỹ, sau đó đến Châu Âu, Châu Á… Những giao dịch mua lại, sáp nhập
trong lĩnh vực này đều có những đặc trưng khác nhau nhưng cùng một mục
đích là cải tổ hệ thống ngân hàng, tăng cường tính cạnh tranh và thông qua
đó, thành lập tập đoàn TCNH vững mạnh. Nhờ M&A, quy mô và số lượng
tập đoàn ngày càng tăng lên, tạo điều kiện cho các tập đoàn mở rộng hoạt
động kinh doanh rộng rãi trên toàn thế giới. Bước sang thế kỷ 21, nền kinh tế
thế giới tiếp tục chứng kiến một làn sóng M&A mới dưới hình thức đa dạng
và quy mô lớn chưa từng có. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế đang khủng
hoảng, hàng loạt ngân hàng trên thế giới (nhất là ở Mỹ) phá sản, M&A lại có
cơ hội thể hiện vai trò của mình.
Đối với ngành tài chính – ngân hàng Việt Nam, mặc dù M&A còn khá

hướng hình thành tập đoàn TCNH.
IV. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên các phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp khác như: thống kê, phân tích so sánh, tổng hợp, dự báo, kết hợp nền tảng lý luận và thực tế trong lĩnh vực
kinh tế nói chung, tài chính – ngân hàng nói riêng.
V. Cấu trúc nội dung của đề tài
Nội dung của khóa luận gồm 3 phần chính:
Chƣơng 1: Lý luận về mua lại, sáp nhập và tập đoàn TCNH
Chƣơng 2: Thực tiễn hình thành tập đoàn TCNH thông qua mua
lại và sáp nhập trên thế giới
Chƣơng 3: Giải pháp hình thành tập đoàn TCNH thông qua mua
lại và sáp nhập ở Việt Nam dựa vào bài học kinh nghiệm trên thế giới
Do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài khó tránh khỏi nhiều sai sót,
rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Qua đây, người viết xin chân thành cảm ơn GVHD ThS. Phan Trần
Trung Dũng, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và đưa ra những nhận xét
quý báu để người viết có thể hoàn thành khóa luận này.
1
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP VÀ TẬP ĐOÀN TCNH
I. Lý luận về mua lại và sáp nhập (M&A)
1. Khái niệm về mua lại và sáp nhập
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều tài liệu đưa ra định nghĩa về mua lại,
sáp nhập và hợp nhất giữa các tổ chức. Tuy nhiên nội dung của các định nghĩa

Tất nhiên, không nhất thiết tất cả các công ty mục tiêu đều ngưng hoạt động.
Theo Luật cạnh tranh Việt Nam (2004) tại Chương II, Mục 3, Điều 17,
các khái niệm về sáp nhập, hợp nhất, mua lại được định nghĩa như sau:
Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển
toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh
nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hay nhiều doanh nghiệp chuyển toàn
bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một
doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp
nhất.
Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua lại toàn bộ hoặc
một phần tài sản của doanh nghiệp đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một
ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại.
Như vậy, nhìn chung, khái niệm mua lại và sáp nhập được hiểu theo
quan niệm quốc tế cũng như theo hệ thống pháp lý Việt Nam khá tương đồng.
Hoạt động mua lại và sáp nhập về cơ bản có cùng bản chất là sự kết hợp giữa
hai chủ thể riêng biệt, thông qua đó, các công ty đạt được lợi ích kinh tế nhờ
tăng quy mô, giảm chi phí, mở rộng thị trường… Tuy nhiên, chiến lược công
ty, tình hình tài chính, thuế và cả những ảnh hưởng văn hóa giữa các thành
viên có thể khác nhau tùy thuộc vào từng loại giao dịch. Sáp nhập là sự kết
hợp giữa hai công ty thông qua trao đổi cổ phiếu, kết quả thường tạo ra một
công ty với tiềm lực mới, hoặc thành lập công ty hoàn toàn mới (trong trường 3
hợp hợp nhất). Mục đích của hoạt động sáp nhập là cả hai bên cùng có lợi.
Trong khi đó, mua lại dùng để chỉ hành động “cá lớn nuốt cá bé”, được thực
hiện thông qua việc mua lại tài sản hoặc cổ phần cả dưới hình thức tiền mặt,
chứng khoán hay tài sản của người bán. Kết quả mua lại thường không hình
thành công ty mới, mục đích mua lại là nhằm thâu tóm “công ty mục tiêu”.

vừa có khả năng sản xuất và vừa cung cấp quần áo đến tay người tiêu dùng.
+ Lùi (backward): thương vụ này diễn ra khi một công ty mua lại nhà
cung cấp nguyên liệu đầu vào cho mình, chẳng hạn như công ty sản xuất sữa
mua lại công ty bao bì, đóng chai hoặc công ty chăn nuôi bò sữa… Kết quả là
thương vụ này sẽ hình thành một công ty với quy mô và mô hình kinh doanh
hoàn thiện, chủ động hơn. Một ví dụ điển hình là vào năm 1993, công ty dược
phẩm lớn nhất thế giới, Merck, mua công ty Medeo Containment Services,
nhà buôn lớn nhất về hàng dược phẩm kê toa, với giá 6 tỷ USD. Thương vụ
kết thúc, Merck từ hãng dược phẩm lớn nhất trở thành nhà sản xuất và phân
phối dược phẩm lớn nhất.
2.1.3 Mua lại và sáp nhập tổ hợp
Đây là hoạt động M&A giữa các công ty không thuộc ngành nghề cạnh
tranh cũng không nằm trong mối quan hệ mua bán. M&A tổ hợp được phân
thành 3 nhóm:
+ M&A tổ hợp thuần túy: đây là hình thức M&A mà hai bên tham gia
không hề có mối quan hệ nào với nhau, như trường hợp công ty thiết bị y tế
mua một công ty sản xuất ô tô. Một ví dụ điển hình là công ty thuốc lá Philip
Moris đã mua lại các công ty thực phẩm như General Food vào năm 1985,
Kraff năm 1988 và Nabico năm 2000. Ngày nay, Philip Moris (được gọi là
Altria) đã sử dụng các dòng tiền từ kinh doanh thực phẩm và thuốc lá để thay
đổi thành một công ty nội địa nghiêng nhiều về kinh doanh thực phẩm. 5
+ M&A mở rộng thị trường địa lý: trong trường hợp này, các công ty
thực hiện M&A hoạt động ở các vùng địa lý khác nhau, cùng sản xuất một
loại sản phẩm nhưng tiêu thụ ở hai thị trường hoàn toàn cách biệt. Một ví dụ
của hình thức này là trường hợp công ty Daiichi- Nhật Bản mua lại Bảo Minh
CMG Việt Nam. Ngay sau khi việc chuyển nhượng hoàn tất, công ty đổi tên
thành Công ty bảo hiểm nhân thọ Daiichi Việt Nam và hoàn thiện hoạt động

(12/2005),
sau đó tiếp tục bán thêm 5% (7/2007); Habubank bán 10% cổ phần cho
Deutsche Bank AG (Đức) tháng 6/2007; Eximbank bán 15% cổ phần cho Tập
đoàn Sumitomo Mitsui (Nhật Bản) với trị giá 225 triệu USD (8/2007) [49].
2.3 Dựa theo chiến lược mua lại công ty
2

2.3.1 Mua lại thông qua con đường thương lượng (friendly takeover)
Khi có ý định mua lại “thân thiện”, công ty mua lại đặt vấn đề chào
mua trực tiếp với ban giám đốc và hội đồng quản trị công ty mục tiêu. Nếu
mọi việc diễn biến tốt đẹp, họ sẽ đạt được mục đích thông qua quá trình
thương lượng thống nhất giữa hai bên. Trong trường hợp này, công ty mục
tiêu có thể coi hành động mua lại như là cơ hội để phát triển sang những lĩnh
vực mới và tận dụng những nguồn lực sẵn có của công ty mua lại. Hình thức
này thường xảy ra đặc biệt đối với những công ty nhỏ có hoạt động kinh
doanh hiệu quả, muốn phát triển và mở rộng nhưng thiếu vốn.
2.3.2 Mua lại với ý đồ thôn tính (hostile takeover)
Hình thức này diễn ra khi một công ty có ý đồ mua lại một công ty
khác bằng mọi cách cho dù công ty đó có đồng tình hay không. Hành động
thôn tính này thường được thực hiện thông qua việc âm thầm mua lại các cổ
phiếu của hội đồng quản trị để cuối cùng đạt được tỷ lệ sở hữu đa số và nắm
quyền kiểm soát công ty. Điều này cũng không dễ thực hiện trừ khi cổ phần
của công ty mục tiêu được sở hữu rộng rãi và dễ mua lại (tính thanh khoản
cao). Mua lại với ý đồ thôn tính được coi là hành động cướp công ty. 1
Tập đoàn ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải.
2
Cách thức phân loại này chỉ áp dụng cho hoạt động mua lại công ty.

hoạt động chức năng, hệ thống phân phối… 3
Cách thức phân loại này chỉ áp dụng cho hoạt động mua lại công ty. 8
+ Mua lại và sáp nhập mở rộng thị trường (Market-extentions M&A):
Đây là hoạt động M&A diễn ra giữa các công ty hoạt động trên các thị trường
khác biệt, không trùng nhau. Hình thức M&A này không quá chú trọng đến
những cơ hội giảm chi phí mà chủ yếu nhắm đến cơ hội thâm nhập thị trường
mới, đa dạng hóa nguồn thu nhập, và tăng doanh thu.
+ Ngoài ra, hoạt động mua lại và sáp nhập còn xảy ra dưới các hình
thức:
 Một công ty nhỏ mua lại một công ty lớn hơn.
 Một công ty tư nhân mua lại công ty cổ phần.
 Sáp nhập tăng thêm EPS (Accretive Merger): Đây là hình thức một
công ty có P/E cao sáp nhập với một công ty có P/E thấp và tạo ra công ty
mới có EPS tăng cao.
 Sáp nhập pha loãng EPS (Dilutive Merger): Đây là hình thức một
công ty có P/E thấp sáp nhập với một công ty có P/E cao và tạo ra một công
ty mới có EPS thấp hơn.
3. Động cơ thực hiện mua lại và sáp nhập
3.1 Giảm xung lực cạnh tranh, tạo lợi nhuận độc quyền
Đây là động cơ thể hiện nhu cầu M&A để tồn tại trong một môi trường
cạnh tranh khốc liệt. Để không bị đối thủ cạnh tranh thâu tóm và địa vị công
ty của mình không bị đe dọa, ban quản trị và điều hành luôn phải chủ động
tìm cơ hội thực hiện M&A để giành lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Chắc
chắn số lượng công ty sẽ giảm đi khi có một thương vụ mua lại hoặc sáp nhập

M&A với một công ty đang thua lỗ nhằm mục đích tránh thuế cho phần lợi
nhuận của bản thân; sử dụng các lợi ích về thuế; có trường hợp công ty thực
hiện M&A để đạt được thị phần khống chế nhằm áp đặt giá cho thị trường.
Ngoài ra, M&A còn có thể giúp các công ty nâng cao hiệu quả hoạt
động nhờ sự năng động, tính linh hoạt, phản ứng nhanh với những thay đổi 10
của thị trường thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư, phân tán rủi ro nhờ đa
dạng hóa sản phẩm, nắm bắt thông tin tốt nhờ mối quan hệ rộng rãi, nắm nhu
cầu thị trường tốt, hạn chế bất lợi về thông tin bất cân xứng.
3.3 Giảm chi phí gia nhập thị trường
Ở những thị trường có sự điều tiết mạnh của chính phủ, việc gia nhập
thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều điều kiện khắt khe hoặc
chỉ thuận lợi trong một giai đoạn nhất định thì những công ty đến sau chỉ có
thể gia nhập thị trường đó thông qua mua lại hoặc sáp nhập với những công ty
đã hoạt động trên thị trường. Điều này rất phổ biến đối với đầu tư nước ngoài
ở Việt Nam, đặc biệt là trong ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm. Theo cam
kết của Việt Nam với WTO, đến tháng 4/2007 các ngân hàng nước ngoài có
thể thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài nhưng không được lập chi
nhánh phụ, không được huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam sau 5 năm
(đến 2012) [9]. Như vậy rõ ràng nếu các ngân hàng nước ngoài không muốn
chậm chân trong việc giành thị phần trong giai đoạn phát triển rất mạnh của
thị trường tài chính – ngân hàng của Việt Nam, thì họ buộc phải mua lại cổ
phần các ngân hàng trong nước (tuy cũng bị hạn chế 30%).
Hơn nữa, không những tránh được những rào cản về thủ tục đăng ký
thành lập (vốn pháp định, giấy phép), bên mua lại còn giảm được cho mình
chi phí cũng như rủi ro trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất và cơ sở khách
hàng ban đầu. Trong một số trường hợp, mục đích chính của người thực hiện
M&A không chỉ là gia nhập thị trường mà còn nhằm mua lại ý tưởng kinh

Cách thức thực hiện mua lại và sáp nhập rất đa dạng tùy thuộc vào mục
tiêu, đặc điểm quản trị, cấu trúc sở hữu và ưu thế so sánh của các công ty liên
quan trong từng trường hợp cụ thể. Dưới đây là một số cách thức phổ biến
thường được sử dụng trong mua lại và sáp nhập. 12
4.1 Chào thầu (tender offer)
Công ty sáp nhập, đi mua có ý định mua đứt công ty mục tiêu sẽ đề
nghị cổ đông hiện hữu của công ty đó bán lại cổ phần của họ với một mức giá
cao hơn thị trường. Giá chào thầu đó phải đủ hấp dẫn để đa số cổ đông tán
thành việc từ bỏ quyền sở hữu cũng như quản lý công ty của mình. Ví dụ như
công ty A đưa ra mức giá 65 USD/cổ phần của công ty B trong khi giá của cổ
phiếu đó trên thị trường chỉ là 55 USD. Nếu công ty B có 70 triệu cổ phần có
nghĩa công ty A phải trả 4.550 triệu USD (so với giá thị trường là 3.850 triệu
USD – chênh lệch 700 triệu USD) để mua lại toàn bộ công ty B. Nếu cổ đông
của công ty B thấy mức giá đó hấp dẫn, theo luật pháp của nhiều nước, họ
phải tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông và tại đó quyết định bán toàn bộ cổ
phần của mình cho công ty A để nhận một lượng tiền mặt tương ứng. Công ty
A sau khi nắm giữ sở hữu có thể cơ cấu lại công ty B và bán dần cổ phần của
công ty này lại cho công chúng. Hình thức đặt giá chào thầu này thường được
áp dụng trong các thương vụ mua lại mang tính chất thù địch. Công ty bị mua
thường là công ty yếu hơn. Tuy vậy vẫn có trường hợp một công ty nhỏ
“nuốt” được một công ty lớn hơn, đó là khi họ huy động được một nguồn tài
chính khổng lồ từ bên ngoài để thực hiện thương vụ. Các công ty thực hiện
mua lại theo hình thức này thường huy động nguồn tiền mặt bằng cách: (1) sử
dụng thặng dư vốn; (2) huy động vốn từ cổ đông hiện hữu, thông qua phát
hành cổ phiếu mới hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành trái phiếu chuyển
đổi; (3) vay từ các tổ chức tín dụng. Điểm đáng chú ý trong thương vụ “chào
thầu” là ban quản trị công ty mục tiêu bị mất quyền định đoạt, bởi vì đây là sự

ngược tình thế của công ty mình trên thị trường.
Ngoài phương án chuyển nhượng cổ phiếu hay tài sản bằng tiền mặt
hoặc kết hợp tiền mặt và nợ, các công ty thực hiện mua lại, sáp nhập thân
thiện còn có thể chọn phương pháp hoán đổi cổ phiếu (stock swap) để biến cổ
đông công ty này trở thành cổ đông của công ty kia và ngược lại. Một hình 14
thức khá phổ biến khác trong thời gian gần đây là trao đổi cổ phần, để nắm
giữ chéo quyền sở hữu công ty của nhau. Thực chất, hình thức này mang tính
chất liên minh hơn là sáp nhập.
4.4 Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Công ty có ý định M&A sẽ giải ngân để gom dần cổ phiếu của công ty
mục tiêu thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, hoặc mua lại cổ
phiếu của các cổ đông chiến lược hiện hữu. Phương án này đòi hỏi thời gian,
đồng thời nếu để lộ ý đồ, giá của cổ phiếu đó có thể tăng vọt trên thị trường.
Ngược lại cách thâu tóm này nếu được thực hiện dần dần và trôi chảy sẽ đạt
được mục đích cuối cùng một cách “êm thấm”, không gây xáo trộn lớn cho
“con mồi”, trong khi chỉ cần trả một mức giá rẻ hơn so với hình thức chào
thầu rất nhiều.
4.5 Mua lại tài sản công ty gần giống với phương pháp chào thầu
Công ty sáp nhập, đi mua có thể đơn phương hoặc cùng công ty mục
tiêu định giá tài sản của công ty đó (họ thường thuê một công ty tư vấn
chuyên định giá tài sản độc lập). Sau đó các bên sẽ tiến hành thương thảo để
đưa ra mức giá phù hợp. Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt và nợ.
Điểm hạn chế của phương thức này là các tài sản vô hình như thương hiệu,
bạn hàng, nhân sự, văn hóa tổ chức rất khó được định giá và được các bên
thống nhất. Do đó, phương thức này thường chỉ áp dụng để tiếp quản các
công ty nhỏ, mà thực chất là các cơ sở sản xuất, nhà xưởng máy móc, dây
chuyền công nghệ, hệ thống cửa hàng, đại lý thuộc sở hữu của công ty đó.

tác định giá không có nghĩa là có thể chi phối các điều khoản hợp đồng. Có
rất nhiều phương pháp định giá, và trong nhiều trường hợp có thể dẫn đến
những kết quả khác nhau. Nhưng thật không may là, không phương pháp nào
có thể trả lời câu hỏi: “Giao dịch này chính xác trị giá bao nhiêu?”. Câu hỏi
này chỉ thật sự được trả lời trong các điều khoản của hợp đồng. Để đưa ra một
mức giá công bằng và được chấp nhận bởi cả hai bên, người ta đã dùng nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status