Tiểu luận môn Thị trường tài chính XU HƯỚNG HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM - Pdf 25

Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
Chương I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TẬP ĐOÀN TC - NH.
1.1. Khái niệm về tập đoàn TC - NH ( TC - NH)
Tập đoàn TC - NH là một thực thể kinh tế gồm một số doanh nghiệp
kinh doanh trong
lĩnh vực TC - NH và các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động TC - NH; mỗi thành
viên tập đoàn là những pháp nhân độc lập, trong đó có một doanh nghiệp làm nồng cốt. Giữa
các doanh nghiệp đó có mối liên
kết nhất định để cùng nhau thực hiện một liên kết kinh tế
có quy mô lớn nhằm đạt
được hiệu quả hoạt động tối đa.
Như thế, tập đoàn TC - NH, về mặt pháp lý, là một liên hợp pháp nhân; Tổ
chức
tập đoàn
gồm nhiều tầng lớp, với nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi. Điều này có nghĩa là không
cưỡng ép và không thể cứ “gom” các doanh nghiệp lại là có thể thành lập tập đoàn kinh tế.
Các thành viên trong tập đoàn TC - NH phải tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, cạnh
tranh lành mạnh, cùng nhau chia sẻ nguồn lực nhằm giảm các chi phí trong hoạt động, tăng
cường sức mạnh và tận dụng tổng lực của tập đoàn để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong lĩnh
vực hoạt động tài chính-tiền tệ đầy bất trắc.
Mục tiêu của việc hình thành tập đoàn TC - NH là mở rộng quy mô hoạt động và đổi
mới công nghệ, giảm chi phí để có thể tồn tại trong cạnh tranh, từ đó đem lại lợi nhuận tối
đa cho tập đoàn.
1.2. Khái quát chung về mô hình Tập đoàn Tài chính – ngân hàng trên thế giới
Cùng với quy luật hình thành và phát triển mô hình Tập đoàn kinh tế, việc hình thành và
phát triển các Tập đoàn TC - NH là một xu hướng phát triển của nhiều quốc gia, khu vực
trên thế giới và nhất là ở Mỹ, châu Âu, Nhật Bản trong những năm vừa qua. Từ cuối thập kỷ
60 thế kỷ 20 đến nay, xu thế hình thành nên những định chế tài chính, ngân hàng lớn, có tầm
ảnh hưởng và hoạt động xuyên quốc gia, đã chi phối không chỉ nền kinh tế của từng quốc gia
mà có ảnh hưởng đến toàn cầu. Việc hình thành và phát triển của các tập đoàn tài chính –

riêng, trụ sở của tập đoàn chính là trụ sở của Công ty /ngân hàng mẹ. Các Công ty /ngân
hàng trong tập đoàn nhân danh công ty /ngân hàng mình khi thiết lập các quan hệ với đối tác
bên ngoài. Đồng thời quan hệ giữa các Công ty /ngân hàng trong cùng Tập đoàn cũng dựa
trên quan hệ kinh tế, quan hệ thị trường và cũng giống như bất cứ khách hàng bên ngoài nào
khác của các Công ty /tập đoàn đó. Đây cũng chính là điều kiện, cơ sở để phân tán rủi ro
trong hoạt động tài chính, ngân hàng. Các quyết định của Công ty /ngân hàng mẹ đối với các
thành viên trong tập đoàn được thông qua việc biểu quyết, quyết định tại Đại hội đồng cổ
đông, Hội đồng quản trị, cử người tham gia quản trị, điều hành, đại diện phần vốn góp…
(ii) Tập đoàn TC - NH thiết lập Hệ thống nguyên tắc quản trị thống nhất trong tập đoàn
với việc thiết lập tầm nhìn, sứ mệnh, hệ thống giá trị cốt lõi, quy định, quy chế quản trị nội
Nhóm 7-Lớp TCDN Đêm 1 2
Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
bộ và xây dựng thương hiệu chung cho toàn bộ tập đoàn. Hệ thống nguyên tắc quản trị này
áp dụng
thống
nhất và ảnh hưởng đến tất cả các công ty /ngân hàng thành viên trong tập
đoàn. Ví như, slogan của HSBC được áp dụng trên toàn thế giới với khẩu hiệu “Ngân hàng
toàn cầu, am hiểu địa phương”.
(iii) Tập đoàn TC - NH tạo ra hàng loạt các uỷ ban, hội đồng (tài chính, kiểm toán, chiến
lược, nhân lực…) của tập đoàn trên cơ sở Công ty /ngân hàng mẹ chủ trì, các uỷ viên của uỷ
ban /hội đồng được các Công ty con trong Tập đoàn cử tham gia theo cơ chế kiêm nhiệm.
Theo đó, các Hội đồng /uỷ ban này xây dựng các kế hoạch và tổ chức hướng dẫn triển khai
kế hoạch cho toàn bộ các công ty, ngân hàng trong Tập đoàn.
(iv) Việc hình thành các Tập đoàn TC - NH theo chính quy luật của thị trường, đó là sự
kết hợp tổng thể các phương thức phát triển, có thể là con đường nội sinh của chính Công
ty /ngân hàng mẹ trên cơ sở thành lập, góp vốn thành lập hàng loạt các Công ty /NH trực
thuộc ở trong và ngoài nước và con đường ngoại sinh thông qua việc mua lại, sáp nhập, hợp
nhất các Công ty /ngân hàng trong lĩnh vực TC - NH để mở rộng phạm vi, thâu tóm thị
trường.
1.3. Cơ cấu tổ chức và mô hình cơ bản của tập đoàn TC - NH

triển tổng thể của tập đoàn, đồng thời phân bổ nguồn lực của tập đoàn thông qua các hoạt
động tài chính như phát hành, mua bán chứng khoán, cơ cấu lại tài sản của các công ty con.
Ngoài ra, ngân hàng mẹ còn sử dụng vốn của mình để đầu tư, góp vốn cổ phần, liên doanh,
liên kết để hình thành các công ty con hoặc công ty liên kết.
Các công ty con là những pháp nhân độc lập, hoạt động tự chủ và tự chịu trách
nhiệm. Hình thức pháp lý của công ty con
khá
đa dạng, có thể là công ty cổ phần do ngân
hàng mẹ nắm giữ cổ phần chi phối; công ty TNHH 2 thành viên trở lên, trong đó ngân hàng
mẹ giữ tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty liên doanh với nước ngoài do ngân hàng mẹ nắm giữ
tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty TNHH một thành viên do ngân hàng mẹ là chủ sở hữu.
b.2. Theo tính chất và phạm vi hoạt động
Tập đoàn TC - NH kinh doanh theo mô hình công ty mẹ - công ty con có hai loại: Mô
hình công ty mẹ nắm vốn thuần túy và mô hình công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh
doanh. Trên thực tế, không có sự tách bạch rõ ràng, nhiều tập đoàn kinh doanh theo mô
hình công ty mẹ - công ty con là hỗn hợp của hai loại hình trên. Tập đoàn TC - NH theo
mô hình công ty mẹ - công ty con cũng hoạt động theo mô hình hỗn hợp, trong đó ngân
hàng mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh một số công ty con, đồng thời chỉ nắm vốn
thuần túy một số công ty con khác.
Ngoài hoạt động kinh doanh ngân hàng, tập đoàn TC - NH còn cung cấp dịch vụ tài
chính phi ngân hàng (do các công
ty
con thực hiện), những dịch vụ này liên quan chặt chẽ
Nhóm 7-Lớp TCDN Đêm 1 4
Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
với hoạt động ngân hàng và mang lại lợi ích chung cho tập đoàn.
b.3. Một số cấu trúc tổ chức tập đoàn TC - NH trên thế giới
Hiện nay trên thế giới, tập đoàn TC - NH được xây dựng theo ba cấu trúc tổ chức chủ
yếu sau đây:
Mô hình ngân hàng đa năng (universal banking)

Mô hình 2: Mô hình công ty mẹ vừa nắm vốn
vừa trực tiếp kinh doanh ngân hàng
Mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần túy (holding company)
Trong mô hình này, một công ty mẹ sở hữu cổ phần của các Công ty /ngân hàng con;
công ty mẹ chủ yếu thực hiện hoạt động đầu tư tài chính và chịu trách nhiệm quản lý các
công ty con trên từng lĩnh vực. Các công ty mẹ thường có ưu điểm là có thể giảm thiểu rủi ro
cho các chủ sở hữu, cho phép sở hữu và kiểm soát số lượng các công ty khác nhau. Tại Mỹ,
có đến 80% trở lên số chứng khoán biểu quyết phải được nắm giữ trước thuế lợi tức trong
khi có thể yêu cầu miễn thuế đối với cổ tức. Đôi khi một công ty có ý định trở thành một
công ty mẹ thuần tuý sẽ tự định danh mình bằng cách thêm các từ như “Holdings” hoặc “
Nhóm 7-Lớp TCDN Đêm 1 6
Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
(Holdings)” vào tên của nó. Cũng tại Mỹ, là một là trong những công ty thương mại đại
chúng lớn nhất; công ty này sở hữu một vài công ty bảo hiểm, các thương nhân sản xuất; các
nhà bán lẻ và các loại công ty khác. Hai công ty mẹ thuần tuý khác là và, các công ty thương
mại đại chúng mà mục đích chính của chúng là sở hữu toàn bộ. Đối với lĩnh vực tài chính –
ngân hàng, ta có thể thấy mô hình này hiện diện ở Tập đoàn CitiGroup, HSBC… Các cổ
đông của công ty mẹ không trực tiếp quản lý những hoạt động của các công ty con. Với ưu
thế rủi ro của lĩnh vực này không ảnh hưởng đến lĩnh vực khác, mô hình này đặc biệt phổ
biến ở những tập đoàn tài chính quốc tế, ở Mỹ và cũng đã được cho phép ở Nhật Bản. Bên
cạch mô hình Công ty mẹ sở hữu vốn thuần túy thì còn có mô hình Công ty mẹ là Ngân
hàng. Hiện nay, theo thông tin tính đến ngày 31/03/2009 của Trung tâm Thông tin quốc gia
của Hoa Kỳ thì tại Mỹ có 50 định chế tài chính được tổ chức theo mô hình “Bank Holding
Company”.
Ví dụ: Điển hình là Tập đoàn TC - NH Citigroup
Citigroup là tập đoàn ngân hàng đa quốc gia, được hình thành thông qua việc hợp nhất
giữa Citicorp và Travelers Insurance, bao gồm nhiều công ty khác nhau, từ tín dụng thương
mại đến hỗ trợ tiêu dùng, môi giới đến bảo hiểm. Citigroup có trụ sở chính tại New York với
công ty mẹ là Citibank. Ngân hàng này đã mở chi nhánh đầu tiên tại Luân Đôn (năm 1902)
và Buenos Aires (năm 1914), các hoạt động quốc tế của ngân hàng phát triển mạnh trong

lên tập đoàn theo quy định chung. Do vậy, khái niệm tập đoàn thường kèm theo “công ty
xuất phát” hay “công ty gốc”, “công ty đứng đầu”, “công ty sáng lập”,v.v. .Vị thế của công
ty này trước hết biểu hiện ở biểu tượng (logo) của tập đoàn và ở khả năng chi phối hướng
phát triển của các công ty con hay công ty thành viên trong tập đoàn.
Lợi ích chung của các công ty trong tập đoàn là được hành động theo chiến lược chung,
theo “bản đồ” phân bố thị trường hay các quan hệ gắn bó về vốn, thương hiệu, văn hóa,
ngoại giao, v.v. Cơ chế điều hành chung của các tập đoàn chủ yếu dựa trên quan hệ về lợi
ích kinh tế minh bạch và uy tín cũng như các cam kết trong quy chế chung của tập đoàn mà
Nhóm 7-Lớp TCDN Đêm 1 8
Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
không dựa trên mệnh lệnh hành chính. Các pháp nhân trong tập đoàn có chung quyền được
bảo vệ để có thể tránh khỏi những nguy cơ bị thôn tính hay chèn ép trên thị trường từ
những công ty ngoài tập đoàn.
b. Đặc trưng riêng của các công ty trong tập đoàn
Đặc trưng quan trọng nhất là mỗi công ty trong tập đoàn phải là một pháp nhân độc lập:
Các công ty thành viên hoặc công ty con có sở hữu tài sản riêng, có trụ sở riêng, thị trường
riêng, thậm chí ngành nghề riêng. Chính vì vậy, giữa các công ty trong tập đoàn có sự khác
nhau về mức thu nhập, tình trạng rủi ro và quy mô tài chính. Nhìn

chung, các tập đoàn kinh
doanh được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện thông qua đàm phán để mua, bán, liên
doanh, sáp nhập, cam kết, v.v. Trong đó, một công ty khởi xướng và đóng vai trò sáng lập
ra tập đoàn (thông qua hình thức tập trung tư bản từ nhiều công ty thành viên), hoặc từ một
công ty lớn tách ra thành nhiều công ty con độc lập (thông qua hình thức tích tụ tư bản,
trong đó công ty mẹ vẫn đóng vai trò chi phối). Như vậy, việc hình thành một tập đoàn
kinh doanh không phải do “mệnh lệnh” hành chính của nhà nước mà do quyết định của nhà
doanh nghiệp, được dư luận xã hội, thị trường và nhà nước thừa nhận. Nói đúng hơn, sự
hình thành các tập đoàn là xuất phát từ nhu cầu của thị trường và vấn đề sống còn của
doanh nghiệp theo nguyên tắc tự nguyện.
c. Các phương thức hình thành tập đoàn TC - NH

và ứng dụng các thành tựu về công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh, mang lại nhiều lợi
nhuận cho tập đoàn và tiện ích cho khách hàng.
f. Điều kiện chủ quan
− Tiềm lực tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động và khả năng
phát triển lâu dài của tập đoàn. Trong đó, nguồn vốn có tác dụng hỗ trợ cho tập đoàn đổi
mới công nghệ, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh, phát triển dịch vụ mới, tăng cường năng
lực cạnh tranh và mở rộng thị phần. Các ngân hàng tiên tiến và tập đoàn tài chính mạnh
thường cung cấp dịch vụ đa dạng và đạt chất lượng cao với nhiều đối tượng khách hàng
khác nhau. Tương tự, chất lượng nguồn nhân lực cũng đóng vai trò không kém phần quan
trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng và tập đoàn tài chính.
1.5. Kinh nghiệm cần ghi nhận từ quá trình hình thành một số tập đoàn tài chính
ngân hàng trên thế giới

Nhóm 7-Lớp TCDN Đêm 1 10
Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
a) Tập đoàn TC - NH Citigroup
− Citigroup là tập đoàn ngân hàng đa quốc gia, được hình thành thông qua việc hợp
nhất giữa Citicorp và Travelers Insurance, bao gồm nhiều công ty khác nhau, từ tín dụng
thương mại đến hỗ trợ tiêu dùng, môi giới đến bảo hiểm. Citigroup có trụ sở chính tại New
York với công ty mẹ là Citibank. Ngân hàng này đã mở chi nhánh đầu tiên tại Luân Đôn
(năm 1902) và Buenos Aires (năm 1914), các hoạt động quốc tế của ngân hàng phát triển
mạnh trong những năm 1920-1940 (khoảng 100 văn phòng đại diện và chi nhánh tại gần
100 nước trên thế giới). Năm 1955, Citibank sáp nhập với First National (New York) để trở
thành một tổ hợp lớn với tên gọi First National City Bank. Năm 1968, ngân hàng này cải tổ
để trở thành một công ty mẹ (holding company) và hình thành tập đoàn ngân hàng dưới tên
gọi là First National City Corp (năm 1974 đổi tên thành Citicorp), trọng tâm là các dịch vụ
tài chính và ngân hàng bán lẻ. Citibank là ngân hàng đầu tiên lắp đặt máy rút tiền tự động
ATM (năm 1977) với trên 500 máy tại New York. Trong những năm 80, Citibank đã mua
lại một số tổ chức tài chính ở San Francisco, Chicago, Miami, Washington DC và năm
1998 sáp nhập với Travelers Group (công ty kinh doanh thẻ nổi tiếng) để trở thành tập

dịch vụ ngân hàng qua mạng lưới internet.
Cho vay tiêu dùng tại Mỹ (United States Consumer Lending)

Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Mỹ thông qua các kênh phân phối khác nhau được chia
làm 2 loại sau đây:
 Cho vay bất động sản (Real Estate Lending): cung cấp các khoản cho vay thế chấp
tài sản nhà ở được thực hiện trực tiếp đến khách hàng qua điện thoại, internet, tổ chức, các
chi nhánh của Citibank và các văn phòng đại diện của Primerica, hoặc gián
tiếp thông qua
các nhân viên môi giới, các công ty cầm cố đó là CitiMortgage và
Myhome Equity trực
thuộc Citibank.
 Cho vay đối với sinh viên (Student Loans): cung cấp các sản phẩm cho vay cho đối
tượng là sinh viên để tài trợ cho việc học tập thông qua các văn phòng đặt tại các trường
học.
 Hệ thống tự động (Auto): cung cấp các dịch vụ tài chính tự động và internet.
Nhóm hoạt động kinh doanh thương mại (Commercial Business Group)

 Chuyên cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho thuê, các sản phẩm và dịch vụ về
ngân hàng và bất động sản đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp sản
xuất.
Thẻ quốc tế (International Cards)

 Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ về thẻ cho hơn 20,9 triệu tài khoản ở 42 quốc
gia ngoài nước Mỹ.
Tài trợ tiêu dùng quốc tế (International Consumer Finance)

Nhóm 7-Lớp TCDN Đêm 1 12
Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
 Hoạt động tài trợ cho chi tiêu và dịch vụ cho vay địa phương ở 20 quốc gia ngoài

được chia thành 3 kênh chính như:
- Ngân hàng toàn cầu (Global Banking): chuyển tải sự am hiểu, các giải pháp về vốn
hàng đầu cho các tổ chức tài chính lớn, chính phủ các quốc gia về các dịch vụ tư vấn tài
Nhóm 7-Lớp TCDN Đêm 1 13
Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
chính, cơ cấu nguồn vốn hợp lý, cho vay, công cụ phái sinh, phân bổ tài sản và nợ, quản lý
tiền mặt, các biến động về tỷ giá hối đoái và lãi suất.
- Thị trường vốn toàn cầu (Global Capital Markets): giúp khách hàng tổ chức và các
nhà đầu tư nhỏ lẻ nhận biết khả năng tài chính, việc phân bổ doanh thu, nợ, giá trị tài sản bao
gồm trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ, cho vay công ích, các hợp đồng kỳ hạn…, và
cung cấp nguồn vốn trong các ngành công nghiệp sản xuất thông qua mạng lưới môi giới bán
lẻ lớn thứ hai tại Mỹ.
- Dịch vụ trong giao dịch (Transaction Services): cung cấp các dịch vụ trong các
giao dịch như quản lý tiền mặt, kho bạc, đầu tư thương mại, giám hộ, chi trả, nộp tiền, dịch
vụ đại lý uỷ thác, ngân quỹ đến các tổ chức vốn, công ty, chính phủ có tài sản đảm bảo, báo
cáo tài chính rõ ràng và hoạt động kinh doanh ở nhiều quốc gia.
Bộ phận đầu tư khác (Citi Alternative Investments)

Hoạt động đầu tư vào các dự án bao gồm các quỹ đầu tư, cơ cấu tín dụng, tài sản cá nhân,
bất động sản, phân bổ khác và các cơ hội đầu tư đặc biệt.
Khối quản lý tài sản toàn cầu
Hoạt động của nhóm là cung cấp các dịch vụ tư vấn về quản lý tài sản,quản lý tiền mặt,
quản lý các danh mục đầu tư, các giải pháp về vốn, chiến lược kinh doanh, bất động sản,
giáo dục cho các khách hàng cá nhân, công ty, các quỹ đầu tư ở các quốc gia trên thế giới.
Ngoài ra Citi cũng là đơn vị nghiên cứu, phân tích vĩ mô và định lượng về tài chính cho thị
trường toàn cầu, thông qua 3 thương hiệu sau đây:
Citi Private Bank: Là một trong những ngân hàng tư nhân lớn nhất trên thế giới cung cấp
hàng loạt sản phẩm ngân hàng, dịch vụ tư vấn tin cậy, các giải pháp về vốn, chiến lược đầu
tư hiệu quả cũng như tính thanh khoản tiền mặt trong nền kinh tế toàn cầu thông qua 470 các
ngân hàng trực thuộc và đội ngũ chuyên gia ở hơn 30 quốc gia.

OCBC cung cấp hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ trong lĩnh vực tiêu dùng để đáp ứng
các nhu cầu khác nhau cho hơn nửa triệu khách hàng tại Singapore và Malaysia, với chi phí
hợp lý và chất lượng dịch vụ tốt nhất trong các giao dịch tài chính, nộp tiền mặt, cho vay
mua nhà, mua xe, thẻ tín dụng, cho vay đầu tư bất động sản, cho vay hộ gia đình, bảo
hiểm…
Khối ngân hàng kinh doanh (Business Banking)

OCBC cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng truyền thống như cho vay, dịch vụ
quản lý tiền mặt,…đến đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, công ty có qui
mô lớn, chính phủ, các tổ chức, công ty bất động sản chủ yếu tại thị trường Singapore và
Malaysia, bao gồm 3 nhóm hoạt động chính đó là Nhóm Doanh nghiệp (Enterprise
Banking), Nhóm Bất động sản (Real Estate) và Nhóm Tổ chức thương nghiệp (Wholesale
Corporate Marketing).
Khối ngân hàng đầu tư (Investment Banking)

Bộ phận này bao gồm thị trường về vốn (Capital Markets), tài trợ cho tổ chức (Corporate
Finance), và Tổ chức vốn Mezzanine (Capital Mezzanine) luôn phối hợp chặt chẽ với khối
ngân hàng trong lĩnh vực kinh doanh để phát triển và mang đến các sản phẩm và dịch vụ tiện
ích đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Nhóm 7-Lớp TCDN Đêm 1 16
Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
Khối ngân hàng giao dịch (Transaction Banking)

Chuyên cung cấp các dịch vụ liên quan đến quản lý tiền mặt, đầu tư thương mại, ủy thác,
dịch vụ thu chi hộ đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các tổ chức lớn, cơ quan tài chính,
chính phủ tại Singapore và Malaysia, thông qua hệ thống chuyển tiền điện tử tiên tiến nhất
cùng với đội ngũ chuyên gia giỏi để mang đến cho khách hàng các giải pháp trong thanh
toán một cách nhanh chóng, dễ dàng và chính xác.
Khối tài chính toàn cầu (Global Treasury)


thiết như quy mô, quản trị, thương hiệu, nguồn nhân lực… để đáp ứng kinh doanh nhiều
mảng khác nhau của hoạt động tài chính (góp vốn, thành lập các ngân hàng, công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty quản lý
quỹ, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản bảo đảm… và phi tài chính (công ty bất động
sản ngân hàng, công ty đầu tư xây dựng hạ tầng công trình, hạ tầng giao thông, công ty
kinh doanh vàng bạc…) nhưng vẫn chưa chính thức tuyên bố là tập đoàn TC - NH.
Xu hướng mới
Trên thế giới, mô hình Tập đoàn TC - NH đã tồn tại từ lâu. Tuy nhiên, ở nước ta vì
nhiều hạn chế, chủ yếu là từ nguồn vốn và hệ thống pháp lý, việc đưa các ngân hàng trở
thành tập đoàn đầu tư tài chính vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập. Chỉ đến khi Thủ tướng
Chính phủ trực tiếp chỉ đạo Vietinbank xây dựng đề án thí điểm để hình thành Tập đoàn
TC - NH, dường như người ta mới nhìn nhận vấn đề này rõ ràng hơn. Trên thực tế, hầu hết
các ngân hàng quốc doanh lớn như Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) hay Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) khi trình Chính phủ đề án thực hiện cổ phần hóa, họ
cũng đều đưa ra mục tiêu cụ thể về hướng trở thành Tập đoàn TC - NH. Xét về khía cạnh
Nhóm 7-Lớp TCDN Đêm 1 18
Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
phát triển đầu tư tài chính, đây là bước đi tất yếu của các ngân hàng sau cổ phần hoá, nhất
là ở giai đoạn hội nhập chung của đất nước.
Trước khi Vietinbank được phép thí điểm mô hình Tập đoàn TC - NH, Thủ tướng
Chính phủ cũng đã cho phép Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam trở thành Tập đoàn Tài
chính - Bảo hiểm Bảo Việt sau cổ phần hoá. Đáng chú ý, thời gian này, Chính phủ cũng đã
có những văn bản liên quan cho phép việc hình thành các Tập đoàn TC - NH. Nó không
chỉ khuyến khích giới ngân hàng tự thân vận động để phát triển theo hướng chuyên nghiệp,
mà còn là động lực giúp thị trường có thêm sức mạnh để hội nhập.
Những năm gần đây, giới ngân hàng cũng đã có những động thái chuẩn bị ấn tượng cho
cái vỏ lớn hơn qua các hoạt động phi ngân hàng rất hiệu quả. Với sự nhanh nhạy và khả
năng thích ứng cao, giới ngân hàng đã làm rất tốt việc mở rộng hoạt động kinh doanh sang
các lĩnh vực khác, qua đó thu về những khoản lợi nhuận ấn tượng. Có thể kể đến lần nhập
cuộc đáng chú ý của Vietcombank và BIDV, với vai trò là chủ đầu tư xây dựng tuyến

Ngoài ACB và Sacombank đã tuyên bố là Tập đoàn thì với các NHTM Nhà nước đã và
đang cổ phần hóa như VietinBank, Vietcombank, BIDV thì con đường trở thành tập đoàn
có lẽ chỉ còn là thời gian. Vì đến nay, VietinBank cũng đã chuẩn bị những cơ sở cho mình
để trở thành một Tập đoàn tài chính mạnh của Việt Nam. Hiện VietinBank sở hữu 6 công
ty con hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực tài chính như: công ty cho thuê tài chính, công
ty quản lý nợ và khai thác tài sản, công ty bảo hiểm phi nhân thọ, công ty vàng bạc đá quý,
công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán. Tổng số vốn góp của VietinBank vào các công
ty con tính đến thời điểm này là 1.527 tỷ đồng, bên cạnh đó còn có 10 công ty liên kết và
một công ty liên doanh. Theo chiến lược phát triển đến 2015, VietinBank sẽ tiếp tục đa
dạng hóa cơ cấu sở hữu và giảm dần sự nắm giữ của Nhà nước ở mức 51%. Tiến hành các
thủ tục IPO quốc tế và niêm yết trên thị trường quốc tế. Tổng tài sản của VietinBank đạt
460.838 tỷ đồng, vốn điều lệ 20.229 tỷ đồng.
Đối với Vietcombank với số vốn điều lệ khoảng 19.698 tỷ đồng, tổng tài sản đạt
khoảng 366.750 tỷ đồng, với tổng vốn đầu tư tham gia góp vốn là 4.900 tỷ đồng vào 33
đơn vị và hiện có 7 công ty con. Tổng tài sản của Sacombank đạt 141.000 tỷ đồng, vốn
điều lệ đạt 10.739 tỷ đồng. Hiện Sacombank có 9 công ty con với tổng số vốn góp là
1.768.200 tỷ đồng. Mục tiêu đến năm 2020, mạng lưới của Sacombank dự kiến đạt 600
điểm, ngoài các điểm đã mở tại Lào và Campuchia, Sacombank dự kiến mở rộng hoạt động
sang Malaysia, Singapore, Mỹ, Australia, châu Âu và một số nước khác trong khu vực
Nhóm 7-Lớp TCDN Đêm 1 20
Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
ASEAN. Còn mục tiêu của ACB đến năm 2015 sẽ trở thành một trong bốn ngân hàng lớn
nhất và hoạt động hiệu quả nhất tại Việt Nam và có quy mô của một ngân hàng trung bình
khu vực. Hiện ACB đang sở hữu 4 công ty con hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tài chính.
Tổng tài sản của ACB khoảng gần 206.000 tỷ đồng, vốn điều lệ hiện đang là 9.376 tỷ đồng.
Sau khi cổ phần hóa BIDV là NHTM có số vốn điều lệ lớn nhất trong hệ thống đạt
28.251 tỷ đồng, tổng tài sản khoảng 398.583 tỷ đồng. Việc BIDV thực hiện IPO và trở
thành NHTMCP tạo điều kiện cho việc trở thành Tập đoàn TC - NH. Đến nay, BIDV đang
có trong tay 6 công ty con với các lĩnh vực hoạt động đa dạng, ngoài các công ty mấu chốt
của hệ thống tài chính, hiện BIDV đang sở hữu công ty TNHH Quốc tế tại HongKong với

cho khách hàng các dịch vụ tài chính kết hợp khác gồm môi giới chứng khoán, đầu tư. Bảo
Việt quan hệ đầu tư để kết hợp với các tổ chức khác cung cấp cho khách hàng các dịch vụ
như ngân hàng, bất động sản, vui chơi giải trí, khách sạn, in ấn và các lĩnh vực sản xuất
kinh doanh khác. Bảo Việt đã được công nhận là một trong số 25 doanh nghiệp lớn nhất
của Việt Nam; là doanh nghiệp bảo hiểm lâu đời, được tin cậy đối với đông đảo các tầng
lớp dân cư, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp.
Ngày 29/08/2003, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 175/2003/QĐ-TTg phê duyệt
chiến lược phát triển Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) thành một Tập đoàn tài
chính, bảo hiểm hàng đầu ở Việt Nam, có khả năng cung cấp đa dạng và kết hợp các dịch
tài chính chất lượng cao.
Kể từ tháng 10 năm 2003, hoạt động kinh doanh của Bảo Việt đã được tổ chức lại theo
mô hình tập đoàn tài chính với vốn điều lệ là 3000 tỷ VNĐ (tức 200 triệu USD). Bên cạnh
đó, bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 năm 2004, hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ được
thực hiện bởi Bảo Việt Nhân Thọ, một đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Bảo
Việt. Bảo Việt Nhân Thọ hoạt động với một mạng lưới toàn quốc bao gồm 61 công ty
thành viên, 250 phòng phục vụ khách hàng và hơn 25.000 đại lý ở tất cả các tỉnh thành
trong nước. Kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2004, hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân
thọ cũng đã được chính thức tách ra, chuyên môn hóa và hạch toán độc lập dưới tên gọi là
Bảo Việt Việt Nam.
Ngày 28/11/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 310/2005/QĐ-TTg về việc
phê duyệt Đề án cổ phần hóa Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam và thí điểm thành lập Tập
đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt.
Ngày 31/5/2007 đánh dấu một sự kiện, một mốc lịch sử quan trọng của Bảo Việt, đó là
Nhóm 7-Lớp TCDN Đêm 1 22
Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
việc Bảo Việt bán cổ phần lần đầu ra công chúng chính thức trở thành công ty cổ phần kinh
doanh đa ngành, đa lĩnh vực. Ngày 15/10/2007, Tập đoàn Bảo Việt đã hoàn thành Đăng ký
kinh doanh công ty cổ phần có sự tham gia của đối tác chiến lược là các tập đoàn kinh tế
hàng đầu trong nước (Vinashin) và nước ngoài (HSBC Insurance (Asia - Pacific) Holdings
Limited); hình thành Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt.

 Cung cấp các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ (bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ,
bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tai nạn con người), tái
bảo hiểm, quản lý quỹ và các hoạt động đầu tư khác
 Kết quả kinh doanh năm 2010: Tổng doanh thu đạt 6.124 tỷ đồng. Lợi nhuận trước
thuế đạt 600 tỷ đồng.
 Hệ thống mạng lưới 60 công ty thành viên với hơn 200 điểm phục vụ khách hàng
trên toàn quốc, cùng đội ngũ gần 2.000 nhân viên và 19.500 tư vấn viên bảo hiểm
a.3) Công ty Quản lý Quỹ Bảo Việt (BVF) do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 100% vốn
điều lệ (hoạt động từ năm 2005)
 Là một trong hai công ty Công ty Quản lý Quỹ có tổng tài sản lớn nhất Việt Nam.
 Các dịch vụ quản lý quỹ: Quản lý danh mục đầu tư ủy quyền tòan bộ; Quản lý danh
mục đầu tư theo chỉ định; Các dịch vụ quản lý Quỹ dành cho các nhà đầu tư cá nhân và tổ
chức
 Chiến lược phát triển và ứng dụng hệ thống sẽ giúp BVF tăng cường năng lực, tiếp
cận các lĩnh vực mới của thị trường thông qua việc mở rộng mạng lưới khách hàng tổ chức
và liên kết với các nhà cung cấp bên ngoài.
 Kết quả kinh doanh năm 2010: Tổng doanh thu đạt 56 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế
đạt 23 tỷ đồng.
b) Danh sách các Công ty mà Bảo Việt nắm giữ quyền kiểm soát và cổ phần chi
phối
b.1) Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư
60% vốn điều lệ (hoạt động từ năm 1999)
 Là công ty cổ phần chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam.
Nhóm 7-Lớp TCDN Đêm 1 24
Thị trường tài chính GVHD: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN
 Vốn điều lệ hơn 722 tỷ đồng
 Các lĩnh vực kinh doanh: môi giới chứng khoán và tư vấn đầu tư; Bảo lãnh phát
hành và đại lý phát hành chứng khoán; Tái cơ cấu, mua bán sáp nhập doanh nghiệp; Lưu
ký chứng khoán; Các dịch vụ tiện ích; Tự doanh, phân tích và nghiên cứu; Tư vấn doanh
nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status