BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
BÙI ÁNH TUYẾT
-
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2007
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH TẬP
ĐOÀN TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
5
1.1.
Tập đoàn tài chính - ngân hàng
5
1.1.1.
Lịch sử ra đời của tập đoàn tài chính-ngân hàng
5
1.1.2.
Khái niệm về tập đoàn tài chính- ngân hàng
7
1.1.3.
Đặc trưng cơ bản của tập đoàn tài chính- ngân hàng
8
1.1.4.
Nguyên tắc hoạt động của tập đoàn tài chính- ngân hàng
11
1.2.
Các mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng
12
1.2.1.
Ngân hàng đa năng
12
15
1.3.1.2.
Điều kiện từ chính bản thân các NHTM:
16
1.3.2.
Hình thức thành lập
22
1.4.
Vai trò của tập đoàn tài chính - ngân hàng đối với sự
phát triển nền kinh tế quốc gia
27
1.5.
Kinh nghiệm của một số nước trong việc xây dựng
tập đoàn tài chính - ngân hàng
28
1.5.1.
Mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng Citigroup
28 1.5.2.
Mô hình của tập đoàn OCBC
30
1.5.3.
Mô hình của tập đoàn tài chính-ngân hàng tại Trung Quốc
31
1.5.4.
Các kinh nghiệm rút ra
32
CHƯƠNG II
44
2.2.2.2.
Điều kiện bên trong các ngân hàng
47
2.2.3.
Quy trình xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng tại
Việt Nam
56
2.2.4.
Đánh giá chung
56
2.2.4.1.
Thuận lợi
56
2.2.4.2.
Khó khăn
57
CHƯƠNG III
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN
VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN TÀI
CHÍNH - NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
60
3.1.
Sự cần thiết phải thành lập các tập đoàn tài chính -
ngân hàng tại Việt Nam hiện nay
60
3.1.1
Thành lập các tập đoàn tài chính - ngân hàng là một tất
yếu khách quan
hoạt động của tập đoàn tài chính - ngân hàng
65
3.4.1.2.
Nghiên cứu, lựa chọn mô hình chuyển đổi thành lập Tập
đoàn Tài chính-Ngân hàng
66
3.4.2
Giải pháp vi mô
67
3.4.2.1
Các NHTM Nhà nước cần đẩy nhanh tốc độ thực hiện
Đề án cơ cấu lại NHTM đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt
67
3.4.2.2
Tăng cường vốn chủ sở hữu
68
3.4.2.3
Phát triển đa dạng và chuyên nghiệp các dịch vụ ngân
hàng mới
71
3.4.2.4
Đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ
72
3.4.2.5
Mở rộng và phát triển mạng lưới ngân hàng
73
3.4.2.6
Đổi mới công nghệ sử dụng trong hoạt động ngân hàng
74
Bảng
Trang
1.1
Mười tập đoàn ngân hàng xuyên quốc gia lớn nhất thế
giới xếp hàng theo tổng tài sản (năm 2003)
6
1.2
Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của các loại hình Tập
đoàn tài chính - ngân hàng
9
1.3
Mười vụ sáp nhập tài chính - ngân hàng lớn nhất thế giới
từ năm 1995
25
1.4
Mười Vụ đầu tư nước ngoài lớn nhất vào ngân hàng Trung
Quốc
26 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ MÔ HÌNH
Biểu đồ
Trang
1.1
Cơ cấu thu nhập theo vùng năm 2005
29
HĐQT
Holding Company
IMF
KTQT
M&A
NHCP
NHNN
NHTM
NHTMCP
NHTMNN
NHTW
OCBC
OTC
Parent Subsidiary
TCTD
TNHH
Universal Banking
WTO
XHCN
Hiệp hội các nước Đông Nam á
Máy rút tiền tự động
Bis
Hệ số an toàn vốn tối thiểu
Tập đoàn tài chính Citigroup
Cổ phần hóa
Doanh nghiệp nhà nước
Hội đồng quản trị
Mô hình tập đoàn tài chính
Quỹ tiền tệ quốc tế
Kinh tế quốc tế
Do hạn chế về năng lực và thời gian nghiên cứu, Luận văn chắc chắn
không thể tránh khỏi những sai sót, tác giả rất mong được sự đóng góp ý kiến,
chỉ bảo của thầy cô và các bạn bè đồng nghiệp. Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2007
Tác giả Bùi ánh Tuyết
- 1 -
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, nhiều công ty, doanh nghiệp với năng lực sản
xuất, năng suất lao động khác nhau, dẫn tới quy mô và tốc độ phát triển khác
nhau đã xuất hiện các hiện tượng chèn ép, thôn tính, hoặc tự nguyện tìm cách
“chung sống” hoà bình với nhau trên cơ sở những liên minh hay tổ hợp để
“phân chia” thị trường và khai thác những tiềm năng riêng có của từng công
ty, doanh nghiệp trong một “vỏ bọc” vững chắc hơn bởi một liên minh rộng
hơn. Từ đó, chúng ta đã từng nghe và đọc được những danh từ từ cuối thế kỷ
19, đầu thế kỷ 20 như “Cartel”, “Association” và gần đây hơn là các
“Cheabol”; “Group” tất cả đều có chung một ý nghĩa chủ đạo là: liên minh,
liên kết nhóm cùng thoả thuận tuân thủ một số nguyên tắc điều chỉnh chung
như: phối hợp chiến lược, kiểm soát qua góp vốn, cung ứng sản phẩm; phân
chia chiếm lĩnh thị trường; thống nhất phương thức, nguyên tắc kiểm soát nội
bộ; Trong các liên minh nói trên, có một công ty đóng vai trò “thương hiệu”
hàng ở Việt Nam hiện tại, xu hướng xây dựng trong tương lai và đề xuất một
số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng
là một yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế. Để thực hiện được mục tiêu nói trên, tác giả đã quyết định lựa chọn
vấn đề: “Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam đáp
ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” cho luận văn thạc sỹ của mình .
2. Tình hình nghiên cứu
Trong yêu cầu chung của quá trình hội nhập, hệ thống NHTM cũng đã
có những động thái tích cực trong việc chuẩn bị nội lực cho việc xây dựng mô
hình tập đoàn tài chính. Đã có một số công trình nghiên cứu, báo cáo khoa
học cấp Bộ, Ngành, cũng như các buổi hội thảo nghiên cứu quá trình hội
nhập của Việt Nam ở lĩnh vực tài chính, ngân hàng và các cơ hội, thách thức
của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình hội nhập. Ví dụ
- 3 -
như: Cuộc hội thảo khoa học với chủ đề: “Xây dựng mô hình tập đoàn tài
chính - ngân hàng ở Việt Nam” do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp
với Ngân hàng Công thương Việt Nam tổ chức tháng 8 năm 2006. Tuy nhiên,
chưa có một công trình nào chuyên nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề
xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng hệ thống ngân
hàng Việt Nam; xem xét các điều kiện để hình thành mô hình tập đoàn tài
chính - ngân hàng tại Việt Nam, trên cơ sở đánh giá những thuận lợi khó khăn
mà hệ thống tài chính – ngân hàng Việt Nam đang đối mặt, luận văn đưa ra
một số giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy việc xây dựng tập đoàn tài chính
- ngân hàng ở Việt Nam hiện nay trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Chương I – Lý luận chung về mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng
Chương II - Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân
hàng tại Việt Nam hiện nay trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương III - Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện việc xây dựng
mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam.
Danh mục tài liệu tham khảo - 5 - CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
1.1. Tập đoàn tài chính - ngân hàng
1.1.1. Lịch sử ra đời của tập đoàn tài chính - ngân hàng
Vào cuối thế kỷ 19, sau một thời kỳ phát triển kinh tế mạnh mẽ dưới
tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, nhu cầu vốn của các công ty tăng
lên để mở rộng lĩnh vực hoạt động và địa bàn kinh doanh không những ở
Một đặc điểm cuối của tập đoàn tài chính - ngân hàng là nó có thể kinh
doanh chuyên ngành hoặc đa ngành. Ngày nay thì các tập đoàn tài chính -
ngân hàng phát triển theo xu hướng hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực là phổ
biến nhưng luôn có một ngành, một lĩnh vực giữ vị trí mũi nhọn. Bên cạnh
các đơn vị sản xuất là các tổ chức tài chính, ngân hàng và nghiên cứu ứng
dụng ngày càng được chú ý hơn vì đó là đòn bẩy cho sự phát triển của tập
đoàn.
Trong bối cảnh mà toàn cầu hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ, cạnh
tranh ngày càng gay gắt hơn thì các tập đoàn tài chính - ngân hàng tăng cường
thực thi sáp nhập, thôn tính, liên minh rộng rãi và địa phương hoá kinh doanh.
Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều tập đoàn tài chính - ngân hàng
khổng lồ và nổi tiếng. Dưới đây là 10 tập đoàn tài chính - ngân hàng lớn nhất
theo số liệu thống kê năm 2003 về tổng tài sản. Các tập đoàn này đều là
những ngân hàng xuyên quốc gia với chi nhánh đặt tại nhiều quốc gia khác
nhau.
Bảng 1.1: Mƣời tập đoàn ngân hàng xuyên quốc gia lớn nhất thế giới
xếp hàng theo tổng tài sản (năm 2003)
- 7 -
Tên ngân hàng
Tổng tài sản (Triệu
USD)
Số nước ngân hàng có
chi nhánh
Citigroup (Mỹ)
1.264.032
77
Banking)
1.1.2. Khái niệm về tập đoàn tài chính –ngân hàng
Khái niệm về tập đoàn tài chính - ngân hàng ở các nước và khu vực khác
nhau cũng có những nét khác nhau, cụ thể:
Ở các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU): Họ gọi tập đoàn tài chính -
ngân hàng là những tập đoàn liên kết phải thoả mãn điều kiện sau:
- Liên kết đó có ít nhất một công ty thực hiện các hoạt động về ngân hàng
hoặc chứng khoán và ít nhất một công ty thực hiện hoạt động về bảo hiểm.
- Công ty thực hiện các hoạt động ngân hàng, chứng khoán hay bảo hiểm
là hạt nhân của tập đoàn, một cách cụ thể hơn, nghĩa là tỷ lệ tổng tài sản thuộc
lĩnh vực tài chính này trong bảng cân đối của tập đoàn phải lớn hơn 40%.
Trong mỗi lĩnh vực tài chính (ngân hàng/chứng khoán hay bảo hiểm) tỷ lệ
trung bình về tài sản của nó so với tổng tài sản trong tập đoàn phải lớn hơn
10% hoặc tổng tài sản của công ty nhỏ nhất kinh doanh trong lĩnh vực tài
chính phải lớn hơn 6 tỷ Euro. [5]
Ở Mỹ, người ta gọi những tập đoàn tài chính – ngân hàng là: “Financial
holding company” nó đơn thuần chỉ là một tổ chức mà trong đó một công
- 8 -
ty được nắm giữ những công ty khác cung cấp đa dạng những dịch vụ tài
chính. Thực tế không yêu cầu chỉ là mô hình công ty mẹ con mà còn là
công ty thực hiện đồng thời các hoạt động kinh doanh như ngân hàng,
chứng khoán và bảo hiểm.
Luật tài chính của Nhật quy định về tập đoàn tài chính - ngân hàng cũng
tương đối giống với những quy định về tập đoàn ở Mỹ. Trong những cuộc hội
thảo quốc tế cũng đã đi đến thống nhất, tập đoàn tài chính – ngân hàng được
hiểu là một liên kết và phải đáp ứng hai yêu cầu sau:
Một là, một liên kết bao gồm ít nhất hai trong số các lĩnh vực tài chính và
động cho vay và các dịch vụ ngân hàng truyền thống. Những lợi thế về vốn
cũng giải thích được lý do tại sao các tập đoàn do ngân hàng đứng đầu là rất
phổ biến.
Bảng 1.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của các loại hình tập đoàn
tài chính - ngân hàng
Loại hình
Ngân hàng đa năng
(univeral banking)
Mô hình công ty mẹ-
con (Parent-
subsidiary
relationship
Mô hình công ty sở
hữu tài chính
(financial Holding
Company)
Mô hình
Ban điều
hành
bảo
hiểm
Cổ đông
Ngân hàng
Công
ty
chứng
khoán
Công
ty bảo
hiểm
Ngân
hàng
Cổ đông
Ngân hàng
Công
ty bảo
hiểm
Công ty
chứng
khoán
- 10 -
khoán thông qua
quyền nắm giữ cổ
phần tại các công ty
này
nhất định. Công ty
mẹ có một phần tác
động nhất định lên
các công ty con
Dễ dàng ngăn ngừa sự
lan truyền rủi ro giữa
các công ty. Giữa các
công ty có sự độc lập
tương đối và không
chịu rủi ro trực tiếp
lẫn nhau
Nguồn: Tài liệu hội thảo về việc xây dựng mô hình tài chính – ngân hàng
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 8/2006
Phần lớn các tập đoàn tài chính - ngân hàng do các ngân hàng đứng đầu.
Điều này phản ánh động lực ngày càng gia tăng của ngân hàng trong việc
tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh khác do việc giảm sút lợi nhuận từ hoạt
động cho vay và các dịch vụ ngân hàng tuyền thống. Những lợi thế về vốn
cũng giải thích được lý do tại sao các tập đoàn do ngân hàng đứng đầu là rất
phổ biến.
Trong một số trường hợp, các công ty sở hữu trung gian được thành lập
để quản lý các khu vực hoặc các vùng cụ thể. Mục đích của vấn đề này là
giảm thiểu chi phí quản lý đối với các vùng lãnh thổ liền kề và quản lý các
dịch vụ tài chính tương tự; hoặc giải quyết các vấn đề liên quan đến luật pháp,
các chuẩn mực kế toán và thuế.
b. Dịch vụ đa dạng
- 11 -
Các hoạt động và các dịch vụ của tập đoàn tài chính - ngân hàng đang
chứng khoán, tuy nhiên trong lĩnh vực bảo hiểm thì phần lớn các tập đoàn tài
chính- ngân hàng chỉ bán các sản phẩm bảo hiểm mà không tham gia bảo lãnh
bảo hiểm. Gần đây, một số tập đoàn tài chính- ngân hàng đã bán các công ty
bảo hiểm mà trước đây họ mua lại. Tại Nhật Bản, theo luật, các ngân hàng,
công ty chứng khoán tham gia vào lĩnh vực của nhau thông qua các công ty
con, các tập đoàn tài chính- ngân hàng thường do ngân hàng đứng đầu và
không một tập đoàn nào có công ty bảo hiểm. Tại Châu Âu, từ cuối những
năm 1980, xu hướng hợp nhất giữa ngân hàng và bảo hiểm hình thành một
loạt tập đoàn ngân hàng bảo hiểm, đem lại lợi nhuận từ việc kinh doanh "dịch
vụ toàn diện".
1.1.4. Nguyên tắc hoạt động của tập đoàn tài chính - ngân hàng
Một tập đoàn tài chính- ngân hàng có thể hoạt động theo mô hình này
hay mô hình khác, nhưng cũng cần đảm bảo một số nguyên tắc hoạt động sau:
Thứ nhất, là tối đa hoá lợi nhuận.
Thứ hai, là đảm bảo tính ổn định trong toàn hệ thống; các công ty con
chủ động sử dụng vốn tự có trong sản xuất - kinh doanh, tập đoàn không có
quyền can thiệp vào phần lợi nhuận thu được từ nguồn vốn này.
Thứ ba, quan hệ tài chính giữa công ty mẹ và công ty con chủ yếu là
quan hệ hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho công ty con vay vốn từ nguồn vốn
chung của tập đoàn và các công ty con khác trong tập đoàn được hưởng lãi
suất từ việc cho vay này theo tỷ lệ vốn góp.
Thứ tư, công ty mẹ không chỉ đóng vai trò tập trung mà còn điều hoà
nguồn vốn giữa các công ty con nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, việc dịch
chuyển vốn từ công ty mẹ tới công ty con và ngược lại cũng được tính lãi suất
theo quy định của tập đoàn.
Thứ năm, vốn tích luỹ đóng vai trò rất quan trọng và là nguồn vốn chủ
yếu trong việc tăng cường quy mô của tập đoàn.
Kinh
doanh
ngân
hàng
Kinh
doanh
bảo
hiểm
Kinh
doanh
chứng
khoán
- 14 -
1.2.1.3. Tính ưu việt của ngân hàng đa năng:
Ngân hàng đa năng nhờ quy mô lớn nên có thể chiếm lĩnh được thị
trường, dành thế độc quyền và có khả năng cạnh tranh lành mạnh. Còn trong
quá trình tập trung hoá và quốc tế hoá hệ thống ngân hàng, do cơ cấu vốn lớn
và đa dạng nên ngân hàng đa năng có đủ nguồn tài chính để cung cấp những
khoản tín dụng lớn hay đầu tư đổi mới công nghệ nhờ đó mà có sức cạnh
tranh cao nên nguy cơ đổ vỡ của ngân hàng đa năng là rất nhỏ.
Ở Châu Âu, ngân hàng có thể kinh doanh trong lĩnh vực chứng
khoán nhưng các nước công nghiệp lớn không cho phép bất kỳ một
công ty đơn lẻ nào được kinh doanh trong cả ba lĩnh vực (ngân hàng,
bảo hiểm, chứng khoán).
1.2.2. Mô hình công ty mẹ - con
1.2.2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty mẹ con
Mô hình công ty mẹ con (Parent –subsidiary relationship) theo đó công ty
thực hiện ở Nhật Bản (gọi là mô hình các công ty con trong lĩnh vực cá biệt)
1.2.2.3. Tính ưu việt của mô hình công ty mẹ - con
Mô hình công ty mẹ - con kết hợp được nguyên tắc tập trung và phân
quyền theo hướng các nhà quản lý cấp cao của tập đoàn tập trung và các
CÁC CỔ ĐÔNG
NGÂN HÀNG
Công ty
chứng
khoán
Công ty
bảo
hiểm
- 16 -
quyết định mang tính chiến lược, dài hạn và quan trọng nhằm đảm bảo tối ưu
hoá toàn bộ các hoạt động của tập đoàn, các quyết định điều hành kinh doanh
được phân cho cấp dưới thực hiện.
Một điều cần nhấn mạnh là sự tối ưu hoá toàn bộ hoạt động của tập đoàn
và các công ty thành viên được thực hiện thông qua việc huy động các nguồn
lực lớn hơn để xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh một cách có hiệu
quả, điều hoà các giao dịch bên trong của tập đoàn. Văn phòng và các ban
chức năng của tập đoàn thực hiện chức năng nghiên cứu , xây dựng chiến
lược và điều hành giao dịch nội bộ tập đoàn đã tạo ưu thế trong việc phân bổ
hiệu quả các nguồn lực trong tập đoàn.
Với mô hình “công ty mẹ - con”, công ty mẹ đóng vai trò quản lý chung,
đặc biệt là vai trò phân phối vốn. Các tập đoàn tài chính có thể hình thành các
công ty con theo quy định chung của pháp luật và quy định trong lĩnh vực
tính định hướng lớn, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy tốt nhất sự ra đời của
tập đoàn tài chính - ngân hàng.
1.3.1.2. Điều kiện từ chính bản thân các NHTM
Các ngân hàng phải có tình trạng tài chính tốt, đáp ứng đủ năng lực về
vốn, về tỷ lệ an toàn, về nợ quá hạn theo chuẩn mực quốc tế. Từ đó, các ngân
hàng cần đề ra các mục tiêu mà mình cần phải vươn tới để trở nên hoàn thiện
hơn như: xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn với mục tiêu kinh doanh rõ
ràng trong đó xác định được sản phẩm cốt lõi của ngân hàng, đa dạng hoá các
loại hình sản phẩm phù hợp với trình độ công nghệ của ngân hàng, chú trọng
việc hình thành công ty mẹ mạnh về vốn, khoa học công nghệ tiên tiến, có
khả năng quản lý nhân lực và thị trường tốt để từ đó hình thành nên các công
ty con. Bên cạnh đó, về cơ cấu tổ chức và năng lực quản trị, cần có sự phân
định tính trách nhiệm phù hợp, có sự liên kết, phối hợp tốt giữa các thành
viên, giữa các bộ phận lãnh đạo, trong đó quyền và nghĩa vụ được qui định