LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC - CHỨNG CỨ VÀ VẤN ĐỀ CHỨNG MINH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Năm 1989 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự; tiếp đến năm 1994 ban hành Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế; năm 1996 ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án lao động. Ba Pháp lệnh trên đã phần nào đáp ứng đòi hỏi bức thiết
trong tố tụng phi hình sự và là cơ sở cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ của
mình. Tuy vậy, các quy phạm pháp luật của ba pháp lệnh trên dần đã lộ rõ hạn
chế, mâu thuẫn. Đặc biệt, trong vấn đề chứng cứ và chứng minh không có quy
phạm nào chuẩn hóa khái niệm chứng cứ và chứng minh, và không quy định
đầy đủ về chế định này, điều đó gây khó khăn trong sử dụng, đánh giá chứng
cứ làm ảnh hưởng không nhỏ trong việc giải quyết vụ án.
Thực tiễn đặt ra cần phải có một Bộ luật Tố tụng dân sự hoàn thiện
hơn, ngày 15 tháng 6 năm 2004 Quốc hội đã ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự
Việt Nam. Bộ luật có phạm vi điều chỉnh rất rộng, bao gồm nhiều quan hệ
pháp luật tố tụng thuộc nhiều lĩnh vực như dân sự, hôn nhân, kinh tế, lao động
và thi hành án.
Từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01
năm 2005 đến nay vấn đề chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự vẫn
còn nhiều quan điểm khác nhau cần phải sáng tỏ như:
Về lý luận: Đã có nhiều cách hiểu khác nhau thậm chí trái ngược nhau
về chứng cứ và chứng minh. Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định tới 20 điều
luật, từ Điều 79 đến Điều 98.
Về thực tiễn: Trong công tác xét xử ở mỗi Tòa án, Viện kiểm sát,
luật sư... có cách vận dụng khác nhau, đánh giá về nguồn và xác định chứng




3

4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin và một số phương pháp cụ thể như: Lịch sử phân tích, so sánh, chứng
minh, tổng hợp và phương pháp xã hội, phương pháp khảo sát thăm dò v.v...
5. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu một cách có hệ thống toàn diện các vấn đề lý luận và thực
tiễn của chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự. Từ mục đích này,
nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản nhất, giúp cho việc
nhận thức một cách rõ nét về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự.
- Từ việc nghiên cứu những hạn chế, bất cập, vướng mắc trong thực
tiễn đề xuất những kiến nghị trong việc hoàn thiện các quy định về chứng cứ.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
- Xây dựng khái niệm khoa học về chứng cứ và khái niệm chứng minh
trong tố tụng dân sự.
- Chỉ ra những đặc trưng của chứng cứ trong tố tụng dân sự.
- Chỉ ra những bất cập của luật thực định và những vướng mắc về
chứng cứ và chứng minh trong thực tiễn cần phải giải quyết và nêu những
kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.


4

Chương 1


như: Việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự trên cơ sở nào? Các đương sự đã
cung cấp được các chứng cứ gì? Và có khả năng thu thập thêm được một số
chứng cứ gì khác? Từ đó, Tòa án sẽ tiếp nhận vụ việc và thực hiện tất cả các
biện pháp để nhằm thu thập đầy đủ, toàn diện, chính xác, đúng đắn các loại
nguồn của chứng cứ mà pháp luật có quy định để có cơ sở giải quyết khách
quan, đúng đắn vụ việc dân sự.
Có nhiều định nghĩa về chứng cứ của một số nước trên thế giới: Trong
Bộ luật Tố tụng dân sự của Liên bang Nga có quy định: "Chứng cứ trong tố
tụng dân sự là những sự thật khách quan và theo đó mà Tòa án có cơ sở để
Tòa án giải quyết vụ án dân sự"; hay Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản định
nghĩa: "Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được Tòa án công
nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó Tòa án được thuyết phục là một
tình tiết nhất định tồn tại hay không".
Về nội hàm của khái niệm một số nước trên tựu chung là khẳng định:
Chứng cứ là sự thật khách quan.
Ở Việt Nam, khái niệm chứng cứ được xây dựng dựa trên cơ sở tiếp
thu có chọn lọc những quan điểm khoa học về chứng cứ trong pháp luật tố
tụng dân sự ở các nước, đó là xuất phát từ thực tế khách quan của bản thân
chứng cứ không lệ thuộc vào ý thức con người; đánh giá chứng cứ trong mối
liên hệ biện chứng, mỗi chứng cứ đều có nguồn gốc dẫn đến sự hình thành
nên nó, sự tồn tại của chứng cứ luôn ở dạng động, liên quan đến nhau. Từ đó
Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam định nghĩa về chứng cứ như sau:
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được
đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án
hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự thục tục do Bộ luật này
quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự
phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng





7

Trên lập trường, quan điểm thế giới quan duy vật, xem xét chứng cứ
xuất phát từ thực tế khách quan của chính bản thân nó chứ không lệ thuộc vào
ý thức của con người.
Trong mối liên hệ biện chứng, nhìn nhận và xem xét chứng cứ trong
sự vận động, phát triển và toàn diện. Trong thế giới khách quan, mỗi chứng cứ
đều có nguồn gốc, có nguyên nhân dẫn đến hình thành ra nó. Sự tồn tại của
chứng cứ không ở dạng tĩnh lặng, bất động, riêng lẻ mà chúng có sự liên quan
lẫn nhau.
Từ những ý kiến bình luận trên, tác giả xin đưa ra định nghĩa như sau:
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những sự kiện, tình tiết, tin tức
phản ánh sự thật khách quan do đương sự, người bảo vệ quyền lợi của
đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức, người tham gia tố tụng giao nộp
hoặc Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục Bộ luật này quy định mà Tòa
án dựa vào đó để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.
1.1.2. Đặc điểm của chứng cứ
a) Tính khách quan của chứng cứ
Chứng cứ trước hết là những gì có thật tồn tại khách quan không phụ
thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Đương sự và các cơ quan tiến hành
tố tụng không được tạo ra chứng cứ, nếu vậy tính khách quan sẽ không còn;
do đó không thể coi là chứng cứ. Con người phát hiện tìm kiếm và thu thập
chứng cứ, con người nghiên cứu và đánh giá để sử dụng nó.
b) Tính liên quan của chứng cứ
Tính liên quan: Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998:
"Tính liên quan là sự liên hệ, dính dáng nhau ở một hay một số tính chất".




9

- Phải là một trong các nguồn hợp pháp mà Bộ luật Tố tụng dân sự
quy định.
- Phải từ phương tiện chứng minh hợp pháp mà Bộ luật Tố tụng dân
sự quy định.
- Phải được giao nộp trong một thời hạn hợp pháp (Bộ luật Tố tụng
dân sự đang để trống quy định này).
- Phải được công bố công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Phải được thu thập, cung cấp đúng pháp luật tố tụng dân sự.
1.1.3. Phân loại chứng cứ
Trên thực tế, chứng cứ thường được phân thành các loại khác nhau.
Những tình tiết, sự kiện tồn tại trong thế giới vật chất chung quy lại tồn tại
dưới hai dạng sau:
- Các dấu vết phi vật chất liên quan đến các tình tiết, sự kiện của vụ
việc dân sự được phản ánh vào đầu óc con người, từ đó con người ghi lại,
chụp lại và phản ánh có ý thức lại chính nó.
- Các dấu vết, vật chứng là vật chất.
Dựa vào hai dạng cơ bản trên mà có các cách gọi khác nhau như: chứng
cứ gián tiết, chứng cứ thuật lại, chứng cứ gốc, chứng cứ miệng, chứng cứ phủ
định, chứng cứ khẳng định, chứng cứ viết...; nhưng dù có gọi như thế nào thì
cũng không làm thay đổi giá trị của nó. Việc phân loại có giá trị trong việc nghiên
cứu và ban hành các quy định về chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự có hệ
thống và minh bạch.
- Chứng cứ theo người: Là chứng cứ được rút ra từ lời khai của đương
sự, người làm chứng.


10

11

- Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được
Các tài liệu đó phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng
thực hợp pháp hoặc do tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Bản chính
có thể là bản gốc hoặc bản được dùng làm cơ sở lập ra các bản sao. Các tài
liệu nghe được, nhìn được phải xuất trình kèm theo văn bản xác định xuất xứ
của tài liệu đó hoặc văn bản và sự liên quan tới cuộc thu âm, thu hình đó. Các
tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi hình, phim ảnh... Nếu đương sự
không xuất trình được các văn bản nêu trên thì tài liệu nghe, đọc, nhìn được
mà đương sự giao nộp không thể được coi là chứng cứ.
- Các vật chứng
Vật chứng phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc dân sự, nếu
không phải là hiện vật gốc nhưng phải là chứng cứ trong vụ việc dân sự đó.
Do vậy, vật chứng phải luôn có tính đặc định liên quan đến vụ việc dân sự thì
mới có giá trị pháp lý. Vì vậy, Tòa án không chỉ thu thập vật chứng theo trình
tự luật định mà phải bảo quản, giữ gìn để bảo đảm giá trị đặc tính của vật
chứng. Nếu đương sự cung cấp vật chứng, Thẩm phán phải lập biên bản miêu
tả chi tiết hình thức cũng như đặc tính lý hóa của sự vật, đặc biệt dấu vết thể
hiện trên vật chứng đó. Đối với vật không thể di chuyển được thì phải xem
xét tại chỗ; vật mau hỏng phải xem xét kịp thời và phản ánh đầy đủ trong quá
trình xem xét như ghi biên bản, chụp hình, ghi hình để lưu.
- Lời khai của đương sự
Đương sự là người có quyền và lợi ích gắn liền với vụ việc dân sự, họ
tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật đang có tranh chấp hay giải quyết của
mình tại Tòa án. Lời khai của đương sự dựa trên trí nhớ và sự kiện, tình tiết nên
thường mang tính chủ quan. Tâm lý trong lời khai của đương sự thường thiên về
bảo vệ cái quyền lợi cá nhân, nên xem xét yếu tố này để Tòa án thận trọng khi
đánh giá.




13

- Tập quán là nguồn của chứng cứ
Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất
và được công chúng thừa nhận. Đối với một tập quán được coi là chứng cứ
trong một vụ án cụ thể thì Thẩm phán phải yêu cầu đương sự trình bày rõ
nguồn gốc của tập quán đó và chứng minh tập quán đó bằng cách ghi nhận nó
bằng văn bản thể hiện việc cả cộng đồng dân cư nơi có tập quán đó thừa nhận,
như xác nhận vào văn bản cả cộng đồng dân cư và được chứng thực cũng như
xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tập quán đó được thừa nhận.
Thực chất, phong tục, tập quán chỉ là cơ sở để đánh giá chứng cứ. Bởi
lẽ, nó không có giới hạn cụ thể, rạch ròi, ở một mức độ nào đó nó có tính ước lệ
và suy đoán. Ví dụ, ở một cộng đồng dân cư, tính cục bộ tại địa phương đó dẫn
đến vì giúp cho một cá nhân nào đó mà cộng đồng dân cư có thể ký và xác thực
vào văn bản mà việc này vẫn không trái với đạo đức xã hội. Tóm lại, về cơ bản,
tập quán không được trái với các nguyên tắc của pháp luật và đạo đức xã hội
và đương nhiên tập quán đó chưa được khái quát để cụ thể hóa trong luật.
- Kết quả định giá tài sản
Định giá có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án. Định giá có
thể do đương sự yêu cầu, hay tự Tòa án nhận thấy cần định giá.
Kết quả định giá là nguồn của chứng cứ nên việc định giá do Hội đồng
định giá được lập thành văn bản và thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Khi định giá tài sản, Hội đồng định giá tiến hành định giá riêng từng
tài sản. Để xác định đúng giá trị tài sản của vụ việc dân sự phải căn cứ vào
mức phố biến giá cả thị trường địa phương tại thời điểm định giá mà có vật,
tài sản cần định giá.
1.2. KHÁI NIỆM VỀ CHỨNG MINH

cho Tòa án, đương sự muốn làm rõ được yêu cầu hay phản đối yêu cầu của


15

họ là có căn cứ hợp pháp thì trách nhiệm của họ là phải cung cấp, giao nộp
chứng cứ cho Tòa án để chứng minh.
Việc cung cấp chứng cứ còn có thể do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp.
- Thu thập chứng cứ là trách nhiệm của các đương sự, hoặc một số
trường hợp Tòa án thu thập. Việc thu thập, cung cấp và giao nộp chứng cứ để
chứng minh trong giải quyết vụ việc dân sự phải đúng hạn, nhanh chóng và
kịp thời.
- Nghiên cứu và đánh giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động chứng
minh. Nó là một quá trình lôgíc nhằm xác định giá trị chứng minh và sự phù
hợp của các chứng cứ - sự phù hợp của chứng cứ ở đây là sự phù hợp giữa
những tình tiết, sự kiện đã thu thập được với thực tế khách quan. Thông qua
nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, Tòa án hình thành các đối tượng chứng
minh và sắp xếp các sự kiện theo một trình tự nhất định. Việc suy đoán chứng
cứ có thể được sử dụng trong quá trình đánh giá chứng cứ, nhưng việc suy
đoán này phải dựa trên các chứng cứ khác hoặc trên tổng thể các chứng cứ có
trong hồ sơ chứ không được theo nhận thức chủ quan của người đánh giá.
Chứng minh trong tố tụng dân sự có ý nghĩa làm rõ, xác định các sự
kiện, tình tiết của vụ việc dân sự, đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ việc
dân sự. Chứng minh là biện pháp duy nhất để xác định các sự kiện, tình tiết
của vụ việc dân sự.
Thông qua hoạt động chứng minh, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và
các chủ thể khác thấy rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được giải
quyết. Đối với các đương sự, chứng minh là vấn đề rất quan trọng để các
đương sự làm rõ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, trên cơ sở đó thuyết phục
Tòa bảo vệ. Trước Tòa án, nếu đương sự không chứng minh được sự tồn tại

được tất cả các vấn đề liên quan đến vụ việc dân sự Tòa án có nhiệm vụ giải
quyết. Khi đưa ra yêu cầu, đương sự không chỉ phải đưa ra những tình tiết, sự


17

kiện dựa vào đó mà họ yêu cầu, mà còn đưa ra cả những căn cứ pháp lý của
các yêu cầu. Khi quyết định giải quyết vụ việc dân sự, trong bản án, quyết
định giải quyết vụ việc dân sự của mình Tòa án cũng phải chỉ rõ quyết định
được dựa trên những căn cứ thực tế và căn cứ pháp lý nào.
Vấn đề xác định rõ chủ thể chứng minh, quyền và nghĩa vụ của họ
như thế nào? Vì mỗi chủ thể tham gia tố tụng dân sự đều xuất phát từ những
mục đích, nhiệm vụ khác nhau nên quyền và nghĩa vụ của họ cũng khác nhau.
Trong đó, xác định nghĩa vụ chứng minh của đương sự, người đại diện của
đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và Tòa án
trong việc làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ án dân sự.
Chủ thể chứng minh trong tố tụng dân sự gồm đương sự, ngưòi đại
diện cho đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự, cá
nhân, cơ quan, tổ chức khác và Tòa án. Trong đó, đương sự có vai trò chủ
yếu để chứng minh cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của mình theo trình
tự thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo quy định tại các điều 06, 58, 63 64, 74, 79, 117, 118, 165, 230
của Bộ luật Tố tụng dân sự, chủ thể của hoạt động chứng minh bao gồm
đương sự và Tòa án cũng như cá nhân, cơ quan, tổ chức, người bảo vệ quyền
lợi cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc cung cấp chứng cứ và
chứng minh cho yêu cầu của mình thuộc về đương sự. Đây là một trong
những nguyên tắc xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự đối với việc
khởi kiện. Đương sự có yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp phải có nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu đó là hợp pháp. Ngược lại, nếu

theo pháp luật, người đại diện do Tòa án chỉ định có quyền và nghĩa vụ thực
hiện tốt các nghĩa vụ chứng minh đương sự họ đại diện. Người đại diện theo
ủy quyền của đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương
sự trong phạm vi ủy quyền.


19

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng
với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng có quyền
và nghĩa vụ chứng minh (khoản 2 Điều 64 Bộ luật Tố tụng dân sự). Ngoài
việc giúp đương sự về mặt pháp lý để đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của họ thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chứng
minh bằng việc đưa ra các chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho các yêu cầu
hoặc phản đối các yêu cầu là có cơ sở.
Tòa án là chủ thể có nhiệm vụ giải quyết vụ việc dân sự không có
nghĩa vụ chứng minh. Tuy vậy, để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự, trong
một số trường hợp, Tòa án vẫn phải chứng minh để làm rõ. Ví dụ, đối với
trường hợp đương sự không thể thu thập được chứng cứ thì có thể yêu cầu
Tòa án có thể tiến hành thu thập chứng cứ (khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng
dân sự). Tòa án thực hiện việc đánh giá, công bố công khai chứng cứ trước
khi sử dụng (Điều 96, Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự). Mặt khác, Tòa án
phải chỉ rõ cơ sở của quyết định giải quyết vụ việc dân sự. Như vậy, việc
chứng minh của Tòa án mang tính hỗ trợ cho việc chứng minh của đương sự
và phục vụ cho việc giải quyết vụ việc đúng đắn của Tòa án.
Việc thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ chứng minh của
một chủ thể có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự. Do
vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định các chủ thể chứng minh phải chịu trách
nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của họ.
1.2.3. Quá trình chứng minh

đầy đủ và chính xác; Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ; mọi chứng cứ phải
được công bố và sử dụng công khai như nhau, trừ trường hợp có liên quan
đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật đời tư của cá
nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự (Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự).
1.2.4. Đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự


21

Trong Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, tr. 274 ghi: Đối
tuợng, được hiểu: 1- Cái người ta nhằm tới để tìm hiểu, hành động. 2- Người
đang tìm hiểu để kết hôn hoặc kết nạp vào tổ chức.
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2003, tr. 328 ghi: Đối
tượng là người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ và
hành động.
Trong tố tụng dân sự, đối tượng chứng minh là một vấn đề hết sức
quan trọng, do đó khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải xác định được
tất cả các tình tiết, sự kiện liên quan, những tình tiết này là đối tượng
chứng minh trong việc việc dân sự.
Đối tượng chứng minh là tổng hợp những tình tiết sự kiện liên quan
đến vụ việc dân sự, dùng nó làm cơ sở giải quyết vụ kiện dân sự.
Các quan hệ cần giải quyết trong các vụ việc dân sự rất đa dạng nên
các tình tiết, sự kiện cần phải xác định trong các vụ việc dân sự cụ thể rất
phong phú. Do vậy, trong quá trình giải quyết, việc xác định những tình tiết,
sự kiện nào cần phải chứng minh. Để xác định được đối tượng chứng minh
của mỗi vụ việc dân sự, Tòa án phải dựa vào yêu cầu hay phản đối của đương
sự. Đương sự dựa vào tình tiết, sự kiện nào để có yêu cầu, hay phản đối yêu
cầu. Nói tóm lại, đối tượng chứng minh bao gồm những tình tiết, sự kiện
khẳng định của bên có yêu cầu và tình tiết, sự kiện có tính phủ định của bên
phản lại yêu cầu liên quan đến vụ việc dân sự cần xác định trong việc giải

1.2.5. Các phương tiện chứng minh trong tố tụng dân sự
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, tr. 610,
phương tiện được hiểu: "cái dùng để tiến hành công việc gì". Mỗi vụ việc dân
sự đều có đối tượng chứng minh riêng. Việt sử dụng phương tiện chứng minh
nào trong vụ việc dân sự là tùy thuộc vào những tình tiết, sự kiện thuộc đối
tượng chứng minh của vụ việc dân sự cần giải quyết. Một số công cụ thường


23

được thực hiện như lấy lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng,
kết luện của cơ quan giám định... gọi là phương tiện chứng minh.
Phương tiện chứng minh là những công cụ được sử dụng để làm rõ
các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự thông qua các chủ thể chứng minh
thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hoạt động chứng minh có quyết định đến kết quả giải quyết vụ việc
dân sự. Để đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn, Bộ luật Tố tụng
dân sự quy định những phương tiện chứng minh cụ thể để các chủ thể lấy đó
làm công cụ chứng minh cho mình: Các tài liệu đọc được phải là bản chính,
các tài liệu nghe được, nhìn được phải có văn bản xác định xuất xứ; các vật
chứng, lời khai của đương sự; người làm chứng phải được ghi lại dưới một
hình thức nhất định theo luật định.
Trong một vụ việc dân sự cụ thể, các đương sự có thể dùng nhiều
phương tiện chứng minh trong đó được làm rõ các sự kiện, tình tiết phải được
xác định đúng, rõ ràng và cần thiết.
1.3. MỘT SỐ NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CÁC QUY ĐỊNH VÀ CHỨNG
MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

- Giai đoạn từ 1945 đến 1989
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam

hòa giải đối với việc thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, cần chú ý phân biệt những
trường hợp sau đây:
a)...
b) Nếu điều ta thấy một bên kiên quyết muốn ly hôn, còn bên kia thị
không thực sự tự nguyên, nhưng do là tự ái, nông nổi, hoặc đã bị ép buộc mà
thuận tình ly hôn, thì Tòa án nhân dân có thể:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status