TÀI LIỆU THAM KHẢO tóm tắt các tác PHẨM KINH điển CHÍNH TRỊ học ; LUẬN NGỮ; đạo đức KINH; mặc tử; TINH THẦN PHÁP LUẬT; KHẾ ước xã hội; ;lão tử - Pdf 39

TÓM TẮT LUẬN NGỮ CỦA KHỔNG TỬ
1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Luận ngữ của Khổng tử ra đời từ thời Xuân thu Chiến Quốc, các giã
sử Trung Hoa chia thời Đông Chu thành hai thời kỳ là thời Xuân thu (722497), Thời Chiến Quốc (479-221) trước Tây lịch, nhưng đã có người chia
lại thời Xuân thu (770-403), thời Chiến Quốc (403-221).
Thời đó Trung Quốc chia nhỏ đến trên một trăm ngàn chư hầu, tới
đầu Đông Chu chỉ còn trên một trăm nước, nhiều nước nhỏ bị nước lớn
thôn tính, thời Xuân Thu chỉ còn 14 nước là đáng kể: Tấn, Tần, Tề Ngô,
Việt, Sở, Lỗ, Vệ, Yên, Tào, Tống, Trần, Thái, Trịnh. Sau đó là ngũ bá: Tề,
Tần, Tấn, Tống, Sở.
Khổng Tử thấy cảnh tranh giành ngôi báu, chiến tranh chém giết
lẫn nhau, ông cũng khen một vài ông vua là tạm được, còn thì là một
phường dâm loạn. tuy nhiên thời Xuân thu cũng có một số chính trị gia như
Quản Trọng, An Anh ở Tề…
Về kinh tế và xã hội, thời Xuân thu người Trung Hoa đã biết nấu sắt
và có thể có lưỡi cày bằng sất, họ đã biết trồng trọt và làm thủy lợi đã có
một số thương nhân làm giàu.
Về văn hóa, ngoài những thể chế lễ nghi, tế tự thời Xuân thu đã cải
thiện chữ viết, dùng thẻ tre tiện hơn mai rùa và xương thú để ghi những
điều muốn nhớ. Sau đó biết dùng cây nhọn nhúng vào sơn viết lên thẻ tre
hoặc lụa nhanh hơn khắc nhiều. Nhờ vậy nhà vua và chư hầu nào cũng có
sử quan chép sử của triều đình và tương truyền trước Khổng tử đã có
những kinh, thư, lễ, nhạc, dịch.
Các học giả ngày nay cho rằng các sách thời Xuân thu mà Khổng
được đọc chỉ có ít bộ sử của một số nước (nhất là Lỗ có thể Chu nữa), kinh
thi, mươi thiên trong kinh thi, một số thiên trong kinh lễ (không biết những

1


thiên nào) kinh nhạc và bộ sách bói tức kinh dịch, di sản thời Tây Chu để



Năm 502 đến 479 công Sơn phất nhiễu làm loạn ở Lỗ, chiếm đất
phí, mời ông tới, ông định tới rồi nghe lời can của Tử Lộ không đi. Lỗ
Định công dùng ông làm trung đồ tể, ông cất lên chức tư không làm đại tư
khấu. Theo Định Công đi hội kiến vơi vua Tề ở Giản cốc, làm á tướng
nước Lỗ, khuyên vua lỗ phá ba thành của ba họ: Mạnh, Quý, Thúc. Chỉ phá
được hai thành của họ Quý, thúc.
Giết Thiếu Chính Mão, vua Lỗ và họ Quý không trọng dụng ông
nữa, ông bỏ quê hương sang Vệ ở mươi tháng. Bị giam ở thành Khuông.
Ông qua Bồ một tháng rồi về Vệ, vào yết kiến ở Nam Tứ, lai bỏ Vệ qua
Tào, Tống.
Ở Tống Hoàn Khôi muốn hại ông, ông phiêu bạt sang Trịnh, qua
Tần. Tần và Sở tranh nhau ngôi bá, thường xâm lấn Trần, ông trở về Bồ, bị
nạn ở Bồ, về Vệ rôi lại rơiVệ.
Bật Thật ở Tấn mời ông tới ông định đi rôi nghe lời tử Lộ can lại
thôi. Ông định qua Tấn để gập đại phu tấn là Triệu Giản tử, tới sông Hoàng
Hà lại quay về Vệ. Vệ Linh Công hỏi về chiến trận có thể vào lúc này. Lúc
ong 60 tuổi đang ở Trần, có tin Lỗ Đinh Công chết rồi Quý hoàn Tử chết.
Con Hoàn Tử là Khang tử mời Nhiễm Cầu về Lỗ giúp mình. Qua Diệp (Sở)
Diệp Công hỏi về chính trị, trở về Thái, dọc đường gặp mấy ẩn sĩ trường
thư, Kiệt Nịch…thầy trò Khổng tử bị vây và tuyệt lương ở trần, Thái, Sở.
Chiêu cho quân lại giải vây cho ông, ông qua Sỏ vua Sở tính dùng ông, bị
quần thần cản lại thôi. Ông chán nản muốn đi cưu di có lẽ vào lúc này.
Trở về vệ, bàn về thuyết chính danh, Quý Khang tử mời về Lỗ, ông
về nhưng không tham chính. Lỗ Ai Công và Quý Khang Tử hỏi về chính
trị, năm này có lẽ Bá Ngư chết. Ông cự chính hành vi chính trị của Nhiễm
Cầu trong việc thu thuế và đánh nước chuyên Du.
Nhan Hồi chết vào năm này, từ khi về nước ông lo sửa nhạc và viết
bộ xuân thu. Ông chấm dứt bộ xuân thu ở việc bắt được con kỳ lân, ông

nhiều công sức thu thập tài liệu lịch sử và tài liệu của người xưa, ông đã
chép lại và soạn lại thành Ngũ kinh (kinh dịch, kinh thi, kinh thư, kinh lễ,
kinh xuân thu và tứ thư).
Học thuyết củ ông là đề cập vấn đề chính trị-xã hội vì vậy nó là học
thuyết chính trị, học thuyết của ông cơ bản là học thuyết chính trị -đạo đức.

4


Tư tưởng của ông được thể hiên tập trung trong quan niệm về nhân lễ chính
danh và mối quan hệ giữa chúng. Theo Khổng tử thì:
+ Nhân: Chính là lòng người, lòng thương người, nhân là thương
người, nhân là ái nhân, yêu người. Nó được thể hiện rõ căn bản ở 3 điểm
sau " người nhân là mình muốn lập thân thì cũng muốn giúp cho người lập
thân, mình muốn thông đạt thì cũng giúp người thông đạt và điều gì mình
không muốn thì cớ đem đến sử với người khác". Theo ông thì điều đầu tiên
con người phải mang cái bản chất chân chính của con người, vứt bỏ điều
nhân đâu còn là quân tử, nhân mang tính phổ biến trong mọi người, trong
mọi người nó là cầu nối đẻ thực hiện mọi sự tập hợp và liên kết mọi người
trong xã hội.
Theo ông người nhân cũng là người quân tử mà quân tử là làm cho
cái đẹp, cái thiện nảy nở trong mỗi người, không khoi dậy cái ác, theo ông
nhân là nền móng, là gốc từ đó nảy sinh ra phẩm chất đạo đức khác. Người
nhân tất có trí, dùng hiếu, đễ. Người quân tử khi gặp nạn thì bình tĩnh,
người tiểu nhân khi gạp nạn thì làm liều. Ông cũng cho rằng người quân tử
có thể làm điều bất nhân do không rèn luyện tu dưỡng… nhưng kể tiểu
nhân thì không thể làm được điều nhân, nhân để làm gì theo ông nhân là để
khôi phục lễ.
+Lễ: Vừa là hình thức vừa là nội dung, cơ chế phương thức, để điều
chỉnh tất cả cả các quan hệ xã hội. Lễ theo nghĩa rộng là không thể bao

với phẩm chất và năng lực của mỗi người. Vấn đề cả người hiền tài và sử
dụng người hiền tài có ý nghĩa rất quan trọng trong những biểu hiện của
nền chính trị tiến bộ.
Tóm lại, theo Khổng Tử phạm trù nhân là quán xuyến toàn bộ đạo
đức của ông, có nhân rồi phải có lễ, đồng thời nhân để khôi phục lễ, khi đã
có nhân lễ rồi thì phải chính danh như thế xã hội tốt xã hội ổn định.
5. Đánh giá của chúng ta trên cơ sở chủ nghĩa duy vật mác xít
Khổng Tử đã xa chúng ta trên 2500 năm nhưng sức sông của nó
vẫn còn mãnh liệt. Nhiều nước Châu á trong đó có chúng ta vẫn dùng
những tư tưởng tiến bộ của ông như đạo đức, lễ, chính danh vào học tại các
trường phổ thông hay giáo dục truyền miệng trong cuộc sống đời thường.

6


Tại sao tư tưởng của ông lại có sức sống lớn như vậy? Vì học
thuyết của ông là học thuyết dân dã, dễ hiểu không có tính chất bác học, nó
khuyên con người ta sống đẹp và sống tốt hơn, sống có trên có dưới, có tôn
ty, trật tự. Triết lý của ông là triết lý hành động, học đi hành đạo giúp đời,
có tư tưởng về thé giới đại đồng, triết lý nhân sinh đúng đắn. Khổng Tử
quan tâm đến văn hoá, lễ giáo tạo ra truyền thông hiếu học, học không biết
chán, dạy không biết mỏi.
Về chính trị thì thuyết của ông cũng khuyên là cai trị phải thu phục
nhân tâm, thu phục lòng người, chứ không giết chóc đánh đập đây là tư
tưởng tiến bộ thời bấy giờ mà ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Hạn chế của tác phẩm
Thế giới quan của Khổng tử cũng không có thế giới quan chật chẽ
theo đúng nghĩa của nó, cũng khong hề đặt ra bản chất của vũ trụ, khởi
nguyên của thế giới, học thuyết của ông chỉ thi, thư, nhạc vấn đề vè chính
trị nhân sự. Ông dùng đức để trị là điều khó, ông tin vào mệnh trời, ông cho

sống thì bị cấm đoán, truy nã. Nhưng tư tưởng của sách thì tạo sự chuyển
biến lớn lao trong xã hội và đã trở thành di sản trí tuệ quý báu cho nhiều
thế hệ mai sau. Khế ước xã hội được coi như "kinh coran" của cách mạng
dân chủ.
2. Nội dung tác phẩm
Khế ước xã hội là tên gọi tắt của bản luận văn lớn mà tác giả J.J
Rousseau dặt dưới một nhan đề khá dài " Bàn vè khế ước xã hội hay là các
nguyên tắc của quyền chính trị". Bàn về khế ước xã hội là một nỗ lức phân
tích chứng tỏ rằng xã hội không thể sống trong trạng thái tự nhiên vô chính
phủ, với một nền tự do thơ mộng, đầy dẫy những sự bắt bình đẳng giữa kẻ
yếu và người mạnh, kể nghèo và người giàu. Vì vậy mọi người phải biết tự
giác ký kết với nhau một "khế ước" bằng cách nhượng bớt một số tự do cho
nhà nước làm trung gian trọng tài, nhằm bảo đảm an ninh, quyền tư hữu và
những quyền cá nhân khác cho mình. Tác giả viết: "Tôi muốn tìm xem
trong trật tự dân sự có hay không một số quy tắc, cai trị chính đáng, vững
chắc biết đối đãi với con người như con người". Theo ông nhà nước phải là
một tổ chức cai trị theo " khế ước xã hội", vì thế nó phải phục tùng ý chí
của toàn dân, vói luận văn này tác giả muốn gắn liền cái mà luật pháp cho
phép làm, vói cái mà lợi ích thúc đẩy phải làm, khiến cho công lý và lợi ích
không tách rời nhau.

9


Ngoài nhưỡng vấn đề có tính nguyên tắc chung của việc cai trị theo
pháp luật, ông còn bàn bạc khá cặn kẽ về các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp. Những phát biểu của ông là những lý luận căn bản cho việc xây dựng
những thiết chế dân chủ và nhà nước pháp quyền, có tính cách không thể
điều hoà đói với sự chuyên chế của vua chúa và giáo hội lúc bấy giờ, nên
sách đã bị cấm lưu hành và tác giả đã phải sống lưu vong sang nước khác,

quan hành pháp tức là chính phủ.
Với cái nhìn của Rouseau lực tổng quát của Chính phủ là lực quốc
gia, chính phủ mạnh thể hiện ở chỗ quốc gia mạnh, chứ không phải xây
dựng bộ máy cho đông người "Quan lại càng đông chính phủ càng yếu, đây
là một phương châm cơ bản" ông giải thích "chắc chắn là công việc càng
giao cho nhiều người thì càng chậm xong, làm ăn quá thận trọng thì khó
phát tài vì bỏ qua mất cơ hội và bàn cãi nhiều thì thường hỏng việc".
Ông nêu ra 3 loại chính phủ:
- Chính phủ dân chủ.
- Chính phủ quý tộc.
- Chính phủ quân chủ.
18 chương của quyển thứ ba đó là:
Chương 1: Chính phủ nói chung.
Chương XVIII: Biện pháp ngăn ngừa những vụ chính phủ cướp
quyền.
Quyển từ 4 gồm 9 chương bàn tiếp nhiều vấn đề trong đó nổi lên là
"cơ quan tư pháp".
Tác giả giành 4 chương đầu để làm rõ một nguyên lý "ý chí chung
của toàn dân là không thể phá huỷ" ngoài những hình thức bảo đảm dân
chủ như trên, còn phải có cơ chế thật hiệu lực đó là cơ quan tư pháp. Vấn
đề cuối cùng được tác giả bàn đến trong quyển thứ tư của tác giả là vấn đề
"tôn giáo dân sự".
9 chương của quyển thứ 4 đó là:
Chương I: Ý chí chung là không thể phá huỷ.
Chương IX: Kết luận.

12


Tác phẩm của ông kiến giải hình thức tổ chức của nhà nước. Xuất

13


do nhân dân yêu cầu ví dụ như: Có duy trì nhà nước hiện có không. Nhân
dân có hài lòng với cách điều hành của các quan chức trong cơ quan Chính
phủ không. Đây là hình thức giám sát hữu hiệu nhất.
Điều đó làm cho các quan chức của chính phủ làm hoàn thiện ý chí
chung của nhân dân.
Thực tế ít có Chính phủ làm tốt việc này, cho đến nay nhà nước nào
cũng khẳng định Nhà nước thuộc về nhân dân. Như nhà nước ta chẳng hạn
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nhưng trình độ nhận thức về pháp
lý, ý thức chấp hành pháp luật... của nhân dân ta còn hạn chế thì pháp luật
cũng bị hạn chế. Song những tư tưởng của ông thì trong công cuộc đổi mới
hiện nay của chúng ta vẫn còn rất giá trị.
Những tư tưởng của "Khế ước xã hội" đã lay động bao lớp người
không thỏa hiệp với chế độ quân chủ chuyên chế thời ấy. Mặc dù trên 200
năm đã trôi qua, kể từ ngày "khế ước xã hội" ra đời mà luồng ánh sáng do
tác phẩm dội ra vẫn còn ánh lên trước mắt chúng ta ngày nay và đó là
những tư tưởng tiến bộ để xây dựng một xã hội dân chủ và nhà nước điều
hành bằng pháp luật.
3. Một số nhận xét
Các quan điểm của Rousseau về nhà nước và pháp luật tiến bộ hơn
nhiều so với các nhà tư tưởng trước đó. Ông coi nguyên tắc cơ bản trong
học thuyết của mình là tư tưởng chủ quyền nhân dân. Các quan điểm chính
trị xã hội của ông nổi bật ở tư tưởng dân chủ thị dân, thấm nhuần sự quan
tâm đến người dân bình thường, những người bị chế độ chuyên chế đè nén
hơn cả. Ông không chỉ phê phán các thiết chế phong kiến nào đó mà bác bỏ
toàn bộ hệ thống chế độ chính trị pháp quyền áp bức nhân dân. Các tác
phẩm của ông trong đó có cuốn "Bàn về khế ước xã hội" đều thấm nhuần
sự căm thù chế độ chuyên chế và bè lũ áp bức, tình yêu nhân dân bị áp bức

Rousseau thừa nhận quyền của nhân dân phản kháng chống bạo
chúa. Cách mạng có ý nghĩa phúc lợi, có khả năng giúp nhân dân tránh
chiến tranh. Ông gắn trực tiếp vấn đề thiết chế nhà nước với việc đảm bảo
hoà bình.
Ảnh hưởng của Rousseau đối với những người đương thời, đặc biệt
vào thời kì cách mạng dã làm lu mờ ảnh hưởng của Vonte và Montesqieu.
Học thuyết của ông được những người trong phái lập hiến, những người
Giroongđanh và đặc biệt là Giacôbanh sử dụng rộng rãi. Không phải ngẫu

15


nhiên trong tác phẩm của ông vang lên khẩu hiệu vùng lên chống lại chế độ
chuyên chế. Cương lĩnh của ông là cương lĩnh cấp tiến của giai cấp tiểu tư
sản, là đỉnh cao mà cách mạng thế kỉ XVIII đã không thể vượt được.. Tư
tưởng của ông đã được ghi nhận trong "Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền" năm 1789 và 1793 cũng như trong các văn kiện cách mạng khác.
Rousseau đã nêu lên những tư tưởng rất đặc sấc về quyền lực nhà
nước, về chủ quyền nhân dân, sự phụ thuộc của hành pháp và tư pháp và
một nền dân chủ trực tiếp. Mặc dù ông không thấy sự hình thành nhà nước,
không thấy các lợi ích kinh tế đứng đằng sau các biến động chính trị, đằng
sau việc hình thành chính phủ cũng như sụ tha hoá của chính phủ. Song
trên thực tế, ảnh hưởng tư tưởng cuả Rousseau đã vượt qua giới hạn của cả
thế kỉ XVIII và vượt qua cả giới hạn tư tưởng dân chủ tư sản. các tư tưởng
của ông về con người sinh ra tự nhiên là như nhau, nghĩa vụ lao động đối
với tất cả mọi người, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân… đã làm ông
trở thành người tiên đoán những tư tưởng xã hội chủ nghĩa mặc dù bản thân
ông không phải là nhà xã hội chủ nghĩa.

16



- Theo Mặc Tử thương yêu mọi người phải trên cơ sở "cùng có lợi"
như vậy mới " Thương yêu rộng khắp, không có thứ bậc, thiên hạ sẽ thái
bình".
Ông nói "Xem nhà người khác như nhà mình thì còn ai tộm cắp,
xem thân người khác như thân mình thì còn ai làm hại, xem gia đình người
khác như gia đình mình thì còn ai làm loạn, xem nước người khác như
nước mình thì còn ai đánh phá".
- "Cùng có lợi"theo Mặc Tử đó là sự bình đẳng về hưởng thụ và
bình đẳng về tham gia lao động.
Lao động để sản xuất các thứ cần dùng cho đời sống hoạc cho
những lợi ích công cộng. Mỗi người phải làm việc theo sức mình để cùng
tham gia lao động. Mỗi người đã làm hết sức mình cũng không được phân
biệt " Của anh" "Của tôi"mà cùng hưởng thụ "Bình đẳng" có thừa sức thì
giúp nhau làm việc, có thừa của thì cùng nhau chia đều. Của cải do lao
động làm ra nên phải tiết kiệm để có lợi cho xã hội. Đây chính là những tư
tưởng tiến bộ của Ông nó mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa, một xã hội tốt
đẹp mà loài người đang phán đấu xây dựng xã hội đó.
Ông phản đối những nghi lễ phiền phức và sự sa hoa lãng phí của
bọn quý tộc, phản đối chiến tranh phi nghĩa giữa các tập đoàn phong kiến
các nước.
Ông cho rằng; "Chiến tranh không những phá hại của cải vật chất
nhiều, mà còn trực tiếp làm tổn hại số người lao động cho xã hội và nguy
hại rất lớn cho xã hội".
3. "Tôn trọng người hiền"và "Học tập người trên"
- Mặc Tử phản đối chế độ cha truyền con nối của bọn lãnh chúa
phong kiến, phê phán thuyết định mệnh của chúng và cho rằng "Không có
mệnh làm vua cha truyền con nối, cũng không có mệnh làm nô lệ, làm tôi
tớ mãi, hoạc con nhà nông cứ làm nông, con nhà thương cứ làm thương".

1. Kiêm ái
2. Phi công
3. Thương hiền
4. Thương đồng

19


5. Tiết dung
6. Tiết táng
7. Phi nhạc
8. Thiện chí
9. Minh quỷ
10. Phi mệnh
Những tư tưởng thể hiện rõ nét nhất của ông vẫn là " kiêm ái", "cần
hướng thiên hạ chi lợi, trừ thiên hạ chi hoạ ".Ông chủ trương thực hiện "Cơ
giả đức thực, hàm giả đức y lao giả đức tức" có được cuộc sống "an cư lạc
nghiệp"
Tóm lại: Học thuyết của ông phản ánh lợi ích của nông dân và của
những người bị áp bức dưới chế độ thời đó nên có nhiều yếu tố dân chủ
tiến bộ mang màu sắc của CNXH không tưởng.

20


TÓM TẮT TÁC PHẨM: "TINH THẦN PHÁP LUẬT"
"Tinh thần pháp luật’của Mont squien xuất bản năm1748.
I. Tác giả: Mông tetkiơ (1689-1755)là một nhà tư tưởng lớn, nhà
khai sáng Pháp thế kỷ 18.
Ông sinh ra trong một gia đình quý tộc Pháp do vậy ảnh hưởng

nhân trông một quóc gia nên ông nghiên cứu sự tự do chính trị và định
nghĩa tạm quyền (Luật pháp – hành pháp – tư pháp)
.* Phần thứ ba (Quyển XIV –XIX)ông chứng minh nguyên nhân có
tính cách vật chất (Khí hậu, đất đai) hay tinh thần (tập quán phong tục)
tham gia tạo thành luật pháp.
*. Phần thí tư (quyển XX – XXIII)ông nghiên cứu nguyên nhân có
tính chất kinh tế và nhân khẩu (Luạt pháp và thương mại, tiền tệ dân số)
*Phần thứ năm (Quyển XXIV – XXVII)trình bày những nguyên
nhân thuộc về tâm linh ảnh hưởng đến luật pháp (Luật pháp với tôn giáo)
• Phần thứ sáu (Quyển XXVIII – XXXI)là phần có tính cách lịch
sử, có những bài khảo cần về luật lệ la mã liên quan đến chế độ thừa kế về
nguyên nhân các luật lệ dân sự ở Pháp.
- Tác phẩm (Tinh thần pháp luật) đã phác hoạ những nét cơ bản về
một xã hội công dân và nhà nước pháp quyền. Trong đó ba quyền: Lập
pháp – hành pháp –tư pháp độc lập với nhau và tương tác lẫn nhau để bảo
công bằng xã hội và phát triển đất nước dươí quyền cai trị của một ông vua
sáng.
"Tinh thần pháp luật"đã đề cập và lý giải hàng loạt vấn đề lý luận
và thực tiễn trong luật học cũng như khoa học xã hoị đương thời, mà đến
nay vẫn còn giá trị kinh điển: ông phân tích nguyên tắc và hiện thực của
các loại thể chế khác nhau như: Hình thức cộng hoà: Thể chế của chính phủ
số đông cầm quyền (Quý tộc)
Hình thức quân chủ: thể chế của chính phủ do một người cầm
quyền tuân thủ theo hiến pháp.

22


Hình thức chuyên chế độc tài: Thể chế do một người cầm quyền
nhưng không tuân thủ theo hiến pháp luật lệ nào cả. Nghiên cứu như vậy để



Chính thể quân chủ là do một người cầm quyền làm theo hiến pháp
và pháp luật. Ông cho rằng tốt hơn chính phủ chuyên chế vì làm theo pháp
luật có sự quy định rõ ràng, xác đáng không tuỳ tiện.
Nguyên tắc là danh dự: Làm cho người chấp hành tuân thủ vì danh
dự, họ không làm dưới tầm danh dự của mình, danh dự còn cao hơn luật
theo nghĩa tốt. Danh dự đòi hỏi còn hay hơn pháp luật nó đòi hỏi ở đạo đức
lương tâm con người.
Chính phủ chuyên chế: Do một người cầm quyền nhưng không cai
trị theo pháp luật. Nguyên tắc là sợ hãi, nếu còn sợ hãi thì chính phủ còn
tồn tại, họ sợ trừng phạt. Ông ví người ta muốn hái quả người ta chặt cả cây
để hái quả.
Sự sa đoạ của các chính thể. Khi xa rời các nguyên tắc trên thì rơi
vào sa đọa. Từ dân chủ đến quý tộc đến quân chủ rồi chở thành chuyên chế
dẫn tới xa đoạ.
Từ đó ông có tư tưởng về nhà nước phân quyền. Từ sự chuyên
quyền nên phải có cách kiềm chế nó nếu không quyền công dân không
thực hiện được.
Quyền lực nằm trong tay một người thì dẫn đến độc đoán. Nên phải
phân quyền và quyền lực kiểm soát quyền lực. Quyền lực đó phải tách ra
có sự kiềm chế và đối trọng lẫn nhau đó là quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp.
Các quyền này tạo ra cơ chế cân bằng từ bên trong người phán
quyết không thể ra luật và thi hành luật, tránh sự lạm quyền. Cơ quan luật
pháp xem xét cơ quan hành pháp thực thi như thế nào. Cơ quan tư pháp có
vị trí độc lập hơn hai cơ quan trên. Tóm lại: Tư tưởng của Mongtexkiơ là
tiến bộ so với các nhà tư tưởng trước đó nó đánh dấu bước tiến mới nhưng
so với Rutxo thì tư tưởng của ông còn hạn chế hơn bởi nó chưa thực sự dân
chủ hoàn toàn, khi quý tộc phạm tội thì quý tộc lại xử quý tộc.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status