Tăng cường giám sát từ xa đối với các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở tại chi nhánh bảo hiểm tiền gửi khu vực Đông Bắc bộ - Pdf 39

i

TÓM TẮT LUẬN VĂN
Chương 1: Tổng quan về hoạt động giám sát từ xa của Bảo hiểm tiền gửi
đối với các tổ chức tín dụng hợp tác
Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức tín dụng được hình thành và hoạt động
với tư cách pháp nhân của một hợp tác xã. Hay nói cách khác, tổ chức tín dụng hợp
tác cũng chính là loại hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tín dụng, thực hiện
kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng.
Hoạt động kinh doanh của các TCTD luôn chứa đựng những nguy cơ rủi ro
tiềm ẩn. Hơn thế nữa, rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có hiệu ứng dây
truyền, lây lan, phức tạp. Sự đổ vỡ một TCTD có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hệ
thống, đến toàn bộ nền kinh tế và có thể lan rộng quy mô quốc tế. Đối với các tổ
chức TDHT, rủi ro cũng như đối với hoạt động ngân hàng nói chung và có tính đặc
thù riêng. Các rủi ro cơ bản, phổ biến đối với các tổ chức TDHT: rủi ro tín dụng, rủi
ro lãi suất, rủi ro thanh khoản…
BHTG ra đời nhằm mục đích phát hiện, cảnh báo và ngăn chặn những rủi ro
đó. BHTG ra đời từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, theo thời gian tổ chức này phát
triển bên cạnh các tổ chức tài chính có nhận tiền gửi, nó như một sản phẩm tất yếu
của kinh tế thị trường, một định chế tài chính không thể thiếu của hoạt động ngân
hàng. Sự cần thiết của hoạt động BHTG được khẳng định gián tiếp thông qua hoạt
động của hệ thống ngân hàng. Hoạt động BHTG góp phần củng cố niềm tin của
công chúng đối với hệ thống ngân hàng. Hoạt động BHTG cung cấp đầy đủ hơn cho
công chúng thông tin về các ngân hàng; hỗ trợ các TCTG BHTG có vấn đề về mặt
tài chính để giúp giải quyết khó khăn tạm thời nhằm duy trì hoạt động; chi trả tiền
bảo hiểm cho người gửi tiển trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi bị đóng cửa
hoặc mất khả năng thanh toán.
Tuỳ vào mục đích và mô hình tổ chức của tổ chức BHTG ở mỗi quốc gia mà


ii

iii

hành quy chuẩn tài chính trong Hiệp định Basel là nhằm tạo ra một sự ổn định và
lành mạnh hệ thống tài chính ngân hàng quốc tế. Hiệp định Basel mang tính chất
thỏa thuận quốc tế và các tiêu chuẩn về vốn đã trở thành chuẩn mực quốc tế về vốn
tự có. Nó quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và quản lý rủi ro tín dụng đối với
ngân hàng, là một trong những căn cứ, tiêu chuẩn để các ngân hàng của các quốc
gia trên thế giới áp dụng quản lý, bảo đảm an toàn trong hoạt động.
Hệ thống CAMELS là hệ thống đánh giá hoạt động ngân hàng toàn diện,
được dùng phổ biến trên thế giới. Để góp phần nâng cao hiệu quả thanh tra giám sát
ngân hàng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Hệ thống CAMELS phân tích 6 khía
cạnh truyền thống được xem là quan trọng nhất trong hoạt động của trung gian tài
chính. Các lĩnh vực phản ánh các điều kiện tài chính và khả năng hoạt động nói
chung của một TCTD gồm: Khả năng tự cân đối vốn (C); Chất lượng tài sản (A);
Quản lý (M); Khả năng sinh lời (E); Khả năng thanh khoản (L) và Độ nhạy cảm với
rủi ro thị trường (S).
Các tổ chức BHTG trên thế giới sử dụng hệ thống CAMELS để giám sát
hoạt động của các TCTG BHTG. Từ kinh nghiệm giám sát hoạt động ngân hàng
của các quốc gia trên thế giới có thể rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt
Nam về: lựa chọn phương pháp giám sát thống nhất cho mọi tổ chức có chức năng
giám sát hoạt động ngân hàng, trong xu thế hiện nay thực hiện giám sát theo mô
hình CAMELS với các tiêu chí giám sát theo chuẩn mực quốc tế về đảm bảo an
toàn theo các nguyên tắc của ủy ban Basel là thích hợp; phát hiện và có biện pháp
ứng phó với những dấu hiệu cảnh báo; quyết định thứ tự ưu tiên, phạm vi và tần
suất kiểm tra cung cấp thông tin cho việc quản trị rủi ro của các TCTD; thực hiện
các biện pháp can thiệp và là công cụ giảm thiểu rủi ro cho tổ chức tham gia BHTG;
sau khi giám sát thực hiện phân loại các TCTG BHTG theo các mức rủi ro; tính
điểm số cho hệ thống tính phí theo mức độ rủi ro; sớm xây dựng Luật để quy định
rõ quyền hạn và vai trò giám sát của BHTG.



v

và 1 ngân hàng thương mại cổ phần.
Giám sát từ xa đối với các QTDNDCS trên địa bàn của Chi nhánh luôn được
coi trọng hàng đầu. Song song với việc giám sát hoạt động các đơn vị theo phần
mềm giám sát Divas CIS, Chi nhánh cũng giám sát thông qua các ứng dụng của
Micosoft Excel. Cán bộ quản lý cũng tiến hành nhập số liệu từ báo cáo nhận được
của đơn vị, sau đó Excel tự động tính toán và đưa ra mẫu biểu và các chỉ tiêu cần
thiết cho hoạt động giám sát. Các chỉ tiêu giám sát của BHTG cơ bản dựa trên các
chỉ tiêu giám sát theo các văn bản quy phạm pháp luật của NHNN và các Bộ ngành
liên quan khác. BHTGVN sử dụng mô hình CAMELS với các tiêu chí giám sát
theo chuẩn mực quốc tế về đảm bảo an toàn theo các nguyên tắc của Basel để
giám sát hoạt động của các QTDND. Nhờ đó, BHTG nắm rõ được tình hình hoạt
động của từng đơn vị mà có những chấn chỉnh kịp thời.
BHTGVN đã xây dựng một hệ thống mẫu biểu các chỉ tiêu giám sát. Trong
đó tập trung giám sát về cơ cấu nguồn vốn, tài sản; vốn tự có; chất lượng tài sản;
các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng; kết quả hoạt động kinh doanh của các
QTDNDCS. Chi nhánh BHTG KV ĐBB đã thực hiện giám sát 100% các
QTDNDCS trên địa bàn phụ trách.
Thông qua giám sát từ xa, Chi nhánh đã đạt được một số kết quả như: Chi
nhánh BHTG KV ĐBB đã bước đầu thực hiện hiện đại hóa giám sát theo yêu cầu
của BHTGVN, nối mạng với các QTDNDCS để đảm bảo kênh thông tin đầy đủ,
chính xác và kịp thời hơn. Chi nhánh đã lần lượt hỗ trợ đường truyền cho một số
các QTDNDCS trên địa bàn quản lý. Từ khi các QTDNDCS thực hiện gửi báo cáo
qua đường truyền tin cho BHTG, báo cáo các đơn vị gửi cho BHTG đã đầy đủ hơn
về số lượng, chính xác hơn về chất lượng báo cáo và kịp thời về mặt thời gian. Chi
nhánh BHTG KV ĐBB đã giám sát hoạt động của 100% các QTDNDCS theo yêu
cầu của BHTGVN và theo tiêu chuẩn Việt Nam và có tiếp thu kỹ thuật và chuẩn
mực quốc tế. Phương pháp giám sát được chuyển từ giám sát tuân thủ sang giám sát

đối với các QTDNDCS không nộp báo cáo hay nộp báo cáo chậm cho BHTG. Một
nguyên nhân khách quan nữa là do chậm chễ hoặc thất lạc báo cáo trên đường bưu
điện. Thêm vào đó, phần mềm giám sát Divas CIS của BHTGVN mới được triển


vii

khai nên vẫn còn một số bất cập. Sự cố mạng máy tính và lỗi đường truyền vẫn còn
xảy ra. Mặc dù lượng thông tin được gửi qua đường truyền đầy đủ hơn, chính xác
và kịp thời hơn nhưng Chi nhánh vẫn chưa được quyền kiểm soát kết quả phân tích
thông tin nên phần mềm này chưa phát huy được hiệu quả. Một số chỉ tiêu không có
đủ thông tin để giám sát như việc chấp hành giới hạn tín dụng đối với khách hàng,
tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, việc phân loại tài sản có rủi ro…
Việc tính toán các chỉ tiêu trên đòi hỏi rất nhiều thông tin mà thông qua giám sát từ
xa không thể xác định được hoặc chỉ tính toán được một cách tương đối. Hơn nữa,
hệ thống mẫu biểu của BHTGVN xây dựng trước khi một loạt các quy định mới của
NHNN ra đời như Quyết định 1328/QĐ-NHNN, Quyết định 493/QĐ-NHNN;
Quyết định 18/QĐ-NHNN nên một số chỉ tiêu vẫn chưa được chỉnh sửa kịp thời.
BHTG mới chỉ giám sát được một số khía cạnh theo các chỉ tiêu CAMELS nên
chưa đánh giá được toàn diện hoạt động của các TCTG BHTG. Việc xếp hạng các
TCTG BHTG mới chỉ trong giai đoạn xây dựng và thử nghiệm, chưa có hệ thống
điểm đánh giá cụ thể. Ngoài ra Chi nhánh còn gặp phải khó khăn về cơ sở vật chất,
số lượng và tốc độ máy vi tính chưa đáp ứng yêu cầu trong trao đổi và cập nhật dữ
liệu giám sát. Đội ngũ cán bộ của Chi nhánh BHTG KV ĐBB còn có những hạn chế
nhất định về số lượng, năng lực chuyên môn và kỹ năng để thực hiện có hiệu quả
công tác giám sát.
Chương 3. Giải pháp tăng cường giám sát từ xa đối với quỹ tín dụng
nhân dân cơ sở tại Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi khu vực Đông Bắc Bộ
Với thành công của mô hình QTDNDCS trong thời gian qua, hiện nay hàng
loạt các QTDNDCS mới trên địa bàn quản lý của Chi nhánh BHTG KV ĐBB được

các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố trên những địa bàn quản lý để chia sẻ thông
tin, tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát từ xa, tránh chồng chéo
không cần thiết.
Cần phải có hệ thống giám sát từ xa đối với các TCTG BHTG nói chung và
riêng đối với QTDNDCS phù hợp với chuẩn mực quốc tế và đặc thù của Việt Nam.
Nghĩa là hệ thống giám sát của BHTGVN cần được xây dựng theo hướng giám sát


ix

rủi ro, kết hợp chặt chẽ giữa giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ.
Thông tin về các TCTG BHTG là cơ sở để thực hiện giám sát. BHTG phải
được nắm giữ một chế tài rõ ràng hơn về việc chấp hành chế độ thông tin báo cáo
của các TCTG BHTG. Đồng thời đôn đốc các TCTG BHTG thực hiện tốt chế độ
thông tin báo cáo theo yêu cầu của BHTGVN. Thực hiện tốt quy trình tiếp nhận và
xử lý thông tin đầu vào trong nội bộ BHTG.
Để giám sát đạt độ chính xác cao và kịp thời thì Chi nhánh cùng với
BHTGVN sớm đẩy nhanh việc hỗ trợ đường truyền thông tin báo cáo cho các
TCTG BHTG, xây dựng một hệ thống các danh mục báo cáo ngắn gọn nhưng vẫn
đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết cho giám sát. Nghiên cứu, khắc
phục những nhược điểm của phần mềm giám sát Divas CIS để sớm đưa phần mềm
này hoạt động thực sự có hiệu quả nhất.
Ngoài ra thông qua phần mềm giám sát Divas CIS, BHTGVN cũng cần có
cơ chế cho phép Chi nhánh truy cập thông tin về TCTG BHTG từ các đơn vị thực
hiện giám sát khác như NHNN và xây dựng một ngân hàng lưu trữ thông tin về
khách hàng để có nguồn dữ liệu so sánh và theo dõi sát sao hơn đối với các TCTG
BHTG.
Hiện nay BHTGVN chưa có quy định cụ thể về phân loại các TCTG BHTG.
Căn cứ các chỉ số giám sát, kiểm tra được và các chỉ tiêu định tính khác; Chi nhánh
có thể chấm điểm theo thang điểm và xếp loại theo định kỳ quý (năm) đối với các

nghị tập trung chủ yếu về các vấn đề cung cấp cho BHTGVN một chế tài để thực
hiện giám sát từ xa và xử lý sau giám sát, ban hành các quy định về thông tin báo
cáo cho BHTG, xây dựng một hệ thống giám sát hoàn chỉnh phù hợp với thông lệ
quốc tế, hợp tác tốt hơn nữa với BHTG, thực hiện xếp hạng các QTDNDCS…


11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status