1
MỞ ĐẦU
Formatted: Level 1, Indent: Left: 0", Hanging:
0.17"
1. Lý do chọn đề tài
Formatted: Level 2, Indent: First line: 0.5"
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,
Formatted: Indent: First line: 0.5"
HĐH) với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở
thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định thắng lợi
của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn lực người Việt
Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng
cao.Việc này đòi hỏi nền giáo dục nước nhà phải đổi mới mạnh mẽ và sâu sắc, toàn
diện. Hội nghị ban chấp hành trung ương khoá VIII cũng đã khẳng định:“Đổi mới
phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học, áp dụng những phương pháp
giáo dục hiện đại, bồi dưỡng học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn
đề.”và nhấn mạnh một lần nữa: “ Đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục
lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp
dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp dạy học hiện đại vào quá trình học ”
Luật giáo dục, điều 28.2,đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp
Formatted: Condensed by 0.2 pt
Formatted: Condensed by 0.2 pt
1.1.1. Nhiệm vụ của quá trình dạy học.
Dạy học là một hoạt động đặc trưng của loài người nhằm truyền lại cho thế hệ
Formatted: Justified, Level 2, Indent: First
line: 0.5"
Formatted: Justified, Level 3, Indent: First
line: 0.5"
Formatted: Indent: First line: 0.5"
sau những kinh nghệm mà loài người đã tích luỹ được, biến chúng thành “vốn liếng”
kinh nghiệm và phẩm chất, năng lực của cá nhân người học. Hoạt động dạy học bao
gồm hai hoạt động liên quan với nhau và tác động qua lại với nhau: Hoạt động dạy của
giáo viên và hoạt động học của học sinh. Hai hoạt động này có cùng mục đích cuối
cùng là làm cho học sinh lĩính hội được nội dung học, đồng thời phát triển nhân cách,
năng lực của mình. Quá trình dạy học xảy ra rất phức tạp và đa dạng trong đó sự phối
hợp giữa giáo viên và học sinh có ý nghĩa quyết định.
Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức tâm lý tích cực có liên quan đến
nhu cầu hứng thú của học sinh. Dạy học không những chỉ chú ý phát triển động cơ
học tập của học sinh ngay trong quá trình dạy học mà còn phải đi trước sự phát
triển. Nhiệm vụ của quá trình dạy học không chỉ giới hạn ở sự hình thành các kiến
thức, kĩ năng, kĩ xảo mà phải phát triển được trí tuệ, hình thành và phát triển được
nhân cách toàn diện của học sinh. Sự phát triển trí tuệ vừa là điều kiện đảm bảo cho
học sinh nắm vững kiến thức, vừa đảm bảo cho học sinh có khả năng tiếp thu,
nghiên cứu, tìm tòi, giải quyết nhiệm vụ học tập, đáp ứng những đòi hỏi đa dạng
của hoạt động thực tiễn sau này.
Quá trình dạy học là một quá trình xã hội, sự học tập của học sinh sẽ tạo thuận lợi và
có hiệu quả hơn nhờ sự trao đổi và sự tranh luận với bạn qua vùng phát triển gần nhất. Bởi vậy
học tập của học sinh cần được tổ chức theo các hình thức làm việc khác nhau: Cá nhân, theo
nhóm và giữa các nhóm. 4
thực tiễn và nhân cách của người học. Nhưng học sinh chưa đủ điều kiện để tự lực giải
quyết vấn đề trong các tình huống và thông qua đó tìm được các quy tắc, quy luật logic
mà chỉ đúc rút được kinh nghiệm thông qua hành động học tập hàng ngày dưới sự giúp
đỡ của giáo viên.
Formatted: Level 3, Indent: First line: 0.5",
Line spacing: Multiple 1.45 li
Formatted: Indent: First line: 0.5", Line
spacing: Multiple 1.45 li
6
b. Bản chất của sự dạy
Formatted: Indent: First line: 0.5"
Theo AM. Machinski thì dạy học phải làm cho người học phát triển được trí tuệ,
động cơ học tập và hứng thú nhận thức. Do vậy, sự dạy là sự tổ chức, hình thành và
phát triển nhân cách. Dạy học phải luôn tạo ra sự “ mất cân bằng” về mặt tâm lý, tạo ra
xung đột xã hội, nhận thức trong bản thân học sinh, nhằm thiết lập sự “cân bằng” mới
trong quá trình học tập.
Theo GS. TS Phạm Hữu Tòng: Nếu học là hành động xây dựng kiến thức cho bản
thân mình và vận dụng kiến thức của mình thì dạy học là dạy hành động chiếm lĩnh tri thức
và hành động vận dụng kiến thức. Do đó, trong dạy học, giáo viên phải tổ chức các tình
huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của học sinh để qua đó học sinh chiếm lĩnh được tri thức,
đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của mình. Về mặt nhận thức luận, dạy học
có vai trò điều khiển, tổ chức nhận thức tri thức khoa học cụ thể của học sinh theo một tiến
trình nhận thức khoa học: Đề xuất vấn đề, suy đoán giải pháp, khảo sát lý thuyết và thực
nghiệm, kiểm tra vận dụng kết quả. . 4
với nhận thức của nhà khoa học. Nhà khoa học phải tìm ra cái mới, giải pháp mới mà
trước đây loài người chưa biết tới, còn học sinh lại tìm cho bản thân mình cái mà loài
người đã khám phá, tích luỹ, cái mà giáo viên đã biết; Về thời gian, nhà khoa học có
nhiều thời gian, thậm chí cả cuộc đời mình để khám phá ra một định luật, xây dựng
một thuyết nào đó, còn học sinh chỉ có thời gian ngắn; Về phương tiện, học sinh chỉ có
những dụng cụ thí nghiệm đơn giản. Với sự khác nhau đó ta không hy vọng làm cho
học sinh nhờ áp dụng phương pháp khoa học, chỉ mong các em làm quen với cách suy
nghĩ, tư duy khoa học, tạo ra những yếu tố ban đầu hoạt động sáng tạo.
Năng lực nói chung và năng lực sáng tạo không phải bẩm sinh mà được hình
thành và phát triển trong quá trình hoạt động của chủ thể. Bởi vậy, muốn hình thành
năng lực phải chuẩn bị cho học sinh những điều kiện cần thiết để họ thực hiện thành
công hoạt động đó. Những điều kiện đó là:
Formatted: Level 3
9
a) Đảm bảo cho học sinh có điều kiện tâm lý thuận lợi để tự lực hoạt động:
- Tạo mâu thuẫn nhận thức, gợi động cơ, hứng thú tìm tòi cái mới, ta thường gọi
là xây dựng tình huống có vấn đề.
- Tạo môi trường sư phạm thuận lợi.
b) Tạo điều kiện để học sinh giải quyết thành công những nhiệm vụ được giao:
- Lựa chọn một logic nội dung bài học thích hợp.
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
- Rèn luyện cho học sinh thực hiện một số thao tác cơ bản gồm thao tác chân tay
và thao tác tư duy.
10
trình nắm vững kiến thức.
Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính mình đã giành được bằng hoạt
động của bản thân. Học sinh sẽ hiểu và ghi nhớ những gì trải qua hoạt động nhận thức
tích cực của mình, trong đó các em phải có những cố gắng trí tuệ, đó là chưa nói tới
một trình độ nhất định, thì sự học tập sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học
cũng phải tìm ra kiến thức mới cho nhân loại. 16
1.3.2. Các biểu hiện của tính tích cực học tập.
Có những trường hợp tính tích cực học tập biểu hiện ở hoạt động cơ bắp nhưng
quan trọng là sự biểu hiện ở hoạt động trí tuệ: hai hình thức biểu hiện này thường đi
liền với nhau. Theo G.I.Sukina (1979) có thể nêu nững dấu hiệu của tính tích cực hoạt
động trí tuệ như sau:
- Học sinh khao khát tự nguyện tham gia trả lời câu hỏi của giáo viên, bổ sung câu trả lời
của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra.
- Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để nhận
ra vấn đề mới.
- Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới mẻ lấy từ
những nguồn thông tin khác nhau, vượt ra ngoài phạm vi bài học.
Ngoài những biểu hiện nói trên mà giáo viên dễ nhận thấy – còn có những biểu
hiện về mặt xúc cảm, khó nhận thấy hơn như : thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc
nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi tìm ra
lời giải cho một bài tập. Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng cá thể học
sinh, bộc lộ rõ ở các lớp học sinh bé, kín đáo ở học sinh lớp trên. G.I.sukina còn phân
biệt những dấu hiệu tích cực học tập về mặt ý chí:
- Tập trung chú ý vào vấn đề đang học.
- Kiên chì làm xong bài tập.
- Không nản trước những tình huống khó khăn.
cách giải khác nhau để tìm ra lời giải hợp lý nhất.
c.Sáng tạo:Học sinh nghĩ ra cách giải mới độc đáo hoặc cấu tạo những bài tập mới,
Formatted: Condensed by 0.3 pt
hoặc cố gắng lắp đặt những thí nghiệm mới để chứng minh bài học. Dĩ nhiên mức độ sáng
tạo của học sinh là có hạn nhưng đó chính là mầm mống để sáng tạo về sau. 16
Formatted: Condensed by 0.3 pt
Formatted: Condensed by 0.3 pt
1.3.4. Mức độ tích cực của học sinh
Formatted: Level 3
Về mức độ tích cực của học sinh có thể dựa vào một số dấu hiệu sau:
- Có tự giác học tập không hay bị bắt buộc bởi những động tác bên ngoài? ( gia
đình, bạn bè, xã hội...).
Formatted: Justified, Line spacing: 1.5 lines
Formatted: English (United States)
Formatted: Tab stops: 0", Left + Not at 0.38"
12
- Thực hiện nhiệm vụ của thầy theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa?
Formatted: Line spacing: Multiple 1.52 li
bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo.
A. Distecvec thì cho rằng người giáo viên tồi là người cung cấp cho học sinh chân
lí, người giáo viên giỏi là người dạy cho họ tìm ra chân lí.
Formatted: English (United States)
Formatted: Level 3, Line spacing: Multiple
1.52 li
Formatted: Line spacing: Multiple 1.52 li
13
K.D. Usinxki nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đièu khiển, dẫn dắt học sinh
Formatted: Expanded by 0.2 pt
của thầy giáo.
Trong thế kỉ 20, các nhà giáo đều kiếm tìm con đường tích cực hoá hoạt động dạy
Formatted: Condensed by 0.3 pt
học. Chúng ta thường kể đến tư tưởng của các nhà giáo dục nổi tiếng như B.P.Êxipôp, M.A.
Danilôp, M.N. Xeatkin, I.F. Kharlamôp, L.I. Xamôva (Liên Xô), Okon (Ba Lan), Skinner
(Mĩ)... Ở Việt Nam, các nhà lí luận dạy học cũng đã viết nhiều về tích cực
Formatted: English (United States),
Condensed by 0.3 pt
nhận thức, tư tưởng dạy học tích cực đã là một chủ trương quan trọng của ngành giáo
1.4. Tự học.
1.4. 1. Khái niệm tự học.
Formatted: Level 2, No widow/orphan control
14
Trong quá trình dạy học ở nước ta hiện nay, tự học của người học đang là vấn đề
đặc biệt được quan tâm. Để học được suốt đời thì phải có khả năng tự học. Khả năng
này cần rèn luyện ngay trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Lí thuyết dạy học theo cơ chế “ chuyển vào trong ” thế giới nội tâm của người học
kho tàng tri thức, tri thức trở thành tài sản riêng của người học là lý thuyết có ý nghĩa
sâu sắc để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học. Muốn tri thức tự nhiên và xã hội
trở thành tài sản riêng của người học thì người học dưới sự hướng dẫn, tổ chức, khơi
gợi của người dạy họ phải thực sự có tự do nội tâm ( hoạt động nhận thức rất tích cực,
khả năng liên tưởng, tưởng tượng và được phát triển cá tính ) và niềm đam mê cao cả
( động cơ học tập ).
Vì vậy, quá trình dạy học phải bao hàm dạy tự học. Cho nên việc dạy học trước hết rèn
luyện năng lực tự học sách giáo khoa cho học sinh để từ đó giúp học sinh biết phương pháp
tự học, tự học suốt đời trong xã hội học tập là một yêu cầu cực kỳ quan trọng và có tính tất
yếu. Dạy học sinh có phương pháp tự học với hạt nhân của động cơ học tập mạnh mẽ, sâu
sắc là con đường cơ bản giúp các em giải quyết tốt nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của mục
tiêu đào tạo. Việc dạy tự học đương nhiên chỉ có thể thực hiện được trong một cách dạy học
mà người học là chủ thể, tự họ hoạt động để đáp ứng nhu cầu của xã hội đã chuyển hoá
thành nhu cầu của chính bản thân họ.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tự học:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đào tạo, GS. Viện sĩ Nguyễn Cảnh
Toàn - một tấm gương lớn về tự học cho rằng: “ Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,
sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp...) và có khi cả cơ
Formatted: Condensed by 0.2 pt
nhiên là phải tự học, chính là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập cao của từng
các nhân. Chính hoạt động tự học tạo cơ hội cho người học phát huy được trí tuệ, tư duy
đồng thời giúp học sinh có lòng ham học. Kết quả tự học cao hay thấp còn phụ thuộc vào
năng lực của mỗi cá nhân, khả năng tự học tiềm ẩn trong mỗi con người.
1.4. 2. Vai trò của việc tự học của học sinh
Tự học có vai trò và có ý nghĩa rất lớn, không chỉ trong giáo dục nhà
trường mà nó còn có ý nghĩa cả trong cuộc sống. Trong nhà trường, bản chất của sự
học là tự học. Do đó mà kết quả học tập của học sinh tỷ lệ thuận với năng lực tự học
của họ. Ngoài ra, tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động
độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hội cho họ học tập suốt
đời.
Theo V.P.Xtơrôcôrin tổ chức tự học cho học sinh có những vai trò sau:
Formatted: Level 3, Indent: First line: 0.5"
16
- Nâng cao tính tích cực tự giác và tính vững chắc trong việc nắm kiến thức của
học sinh.
- Rèn cho học sinh kĩ năng, kĩ xảo được quy định trong chương trình của mỗi bộ
môn, phù hợp với mục đích của nhà trường.
- Dạy cho học sinh biết cách áp dụng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã thu nhận được vào
cuộc sống và lao động công ích.
- Phát triển khả năng nhận thức của học sinh ( tính quan sát, tính ham hiểu biết,
khả năng tư duy lôgíc, tính tích cực sáng tạo).
- Luyện cho học sinh khả năng lao động có kết quả, biết say mê vươn tới mục
đích đặt ra.
mình, cá nhân hoá việc học, đồng thời hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp học
dưới sự hướng dẫn của giáo viên – xã hội hoá lớp học.
1. 6. Tính tự lực học tập 33
Formatted: Level 2, Indent: First line: 0.5"
1.6.1. Cở sở lý luận của tính tự lực học tập
Formatted: Level 3, Indent: First line: 0.5"
1.6.1.1. Bản chất của tính tự lực
Formatted: Font: Not Bold
a) Khái niệm tính tự lực
Formatted: Indent: First line: 0.5"
Tính tự lực là một trong những phẩm chất trung tâm của nhân cách, thể hiện ở:
- Sự tự làm lấy, tự giải quyết lấy vấn đề, không a dua, không ỷ lại, nhờ cậy
người khác.
Formatted: Indent: First line: 0.5"
20
- Sự tự làm lấy bắt đầu từ những việc đơn giản như tự uống, tự ăn, tự thu dọn đồ
chơi..., nhưng tự lực làm hoàn chỉnh bắt đầu từ việc đặt mục đích, nhiệm vụ, tổ chức hoạt
động, kiểm tra, đánh giá trên cơ sở sủ dụng tối đa các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của mình
chất tự lực, vì chỉ có thể tự lực hoạt động khi nhận thức được sâu sắc bản chất của sự
vật, hiện tượng và nắm chắc phương pháp hoạt động.
- Niềm tin vào sự đúng đắn của công việc mình làm, vào năng lực bản thân.
Niềm tin này tạo ra sự vững vàng, sự kiên định về tâm thế, không dao động trước
những tác động bên ngoài.
- Có tình cảm, hứng thú, yêu thích kết quả và quá trình tự hoạt động. Những yếu
tố này kích thích tính tự giác của hoạt động mà không phải dùng sức mạnh của ý chí.
Thí dụ, đi hỏi vợ thì dù người rụt rè, dút dát đến đâu cũng là một hoạt động tự lực.
- Có nhu cầu, động cơ. Nhu cầu và động cơ càng mạnh thì tính tự lực càng cao.
- Có sự lỗ lực của ý chí.
- Thể chất tốt và có lòng dũng cảm. Đây là cơ sở vật chất cần thiết đảm bảo cho
hoạt động tự lực.
- Có tính quyết đoán, dứt khoát, rõ ràng, không chần chừ, do dự.
- Có tính mục đích và có tính kỷ luật.
- Tính kiên trì, nhẫn nại, không sờn lòng nản chí trước khó khăn.
- Tính kế hoạch, năng lực tổ chức làm cho hoạt động tự lực đạt hiệu quả.
22
- Thói quen tự lực, không trông chờ ỷ lại cũng là một phẩm chất cần được rèn
uyện từ nhỏ để trở thnàh một thói quen, một phản xạ tự nhiên của con người mà không
cần vận dụng sức mạnh của trí tuệ và ý chí.
1.6.1.2. Vai trò của tính tự lực trong việc hình thành nhân cách.
a) Tính tự lực có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách.
Formatted: Font: Not Bold
Formatted: Indent: First line: 0.5"
Khi con người đã có một ít vốn sống, đã tích luỹ được những kiến thức, kỹ năng,
23
Tính tự lực cũng có quan hệ chặt chẽ với tính sáng tạo.Để phát hiện ra một vấn
Formatted: Condensed by 0.2 pt
đề mới mà chưa ai biết, con người phải tiến hành một quá trình tư duy và tưởng tượng trên
cơ sở tái hiện những vấn đề đã biết. Như vậy, về bản chất quá trình sáng tạo là một quá
trình làm việc độc lập lâu dàivà gian khổ của cá nhân, nó manh màu sắc cá nhân rõ nét.
c) Tính tự lực và rèn luyện đạo đức tư cách
Khi con người tự lực hoạt động, dù hoạt động chân tay hay trí óc họ đều được
rèn luyện các phẩm chất như: tính chính xác, thận trọng, vì những phẩm chất này là cần
thiết để đảm bảo chất lượng công việc; quý trọng thành quả lao động, biết thương yêu
người lao động vì cảm nhận được nỗi vất vả của họ, biết đoàn kết gắn bó với tập thể vì
các sản phẩm lao động thường là do công sức của nhiều người; được trải nghiệm niềm
hạnh phúc của sự thành công và nếm mùi cay đắng khi thất bại...
Tính tự lực làm cho con người được rèn luyện trong thực tiễn, sớm trưởng
thành, phát triển tốt cả trí tuệ, tâm hồn ý chí và sức khoẻ.
d) Tính tự lực và cảm xúc
Trong vòng hơn một thập kỷ trở lại đây việc nghiên cứu trí tuệ, xúc cảm đang
nổi lên, thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều người. Hiện nay người ta đã chứng minh
được rằng trí thông minh, xúc cảm có vai trò ta lớn cho những thành tích xuất sắc, sự
thăng tiến nghề nghiệp trong cuộc đời mỗi con người. Đặc biệt trong xã hội phát triển,
khi mà khoa học kỹ thuật, kèm theo đó là tự duy con người được đề cao, dễ dẫn đến
con người sống trong môi trường duy lý cực đoan, vô cảm, tàn lụi đi những cảm xúc
tích cực, thì trí thông minh xúc cảm hết sức cần thiết để đảm bảo cho sự cân bằng về trí
tuệ và cảm xúc trong mỗi con người, cho sự phát triển cá nhân và xã hội. Trí thông
minh xúc cảm được nhận diện như là năng lực làm chủ, điều khiển , kiểm soát tình
cảm, xúc cảm của mình và của người khác để tách biệt các phạm trù này, để sử dụng
thông tin này, định hướng cách suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. Cấu trúc của