VIỆN DỆT MAY
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÔNG NGHỆ TỐI ƯU
NHUỘM TẬN TRÍCH MỘT SỐ LOẠI VẢI PES/WOOL
Mã số đề tài: 86.10 RD/HĐ-KHCN
Chủ nhiệm đề tài: KS.Trương Phi Nam
8304
Hà Nội - 11/2010
Danh sách những thành viên tham gia nghiên cứu đề tài
KS.Trương Phi Nam
- Viện Dệt May
TS. Nguyễn Văn Thông - Viện Dệt May
KS. Lưu Văn Chinh
- Viện Dệt May
KS. Võ Thị Hồng Bình
- Viện Dệt May
KS. Vũ Lượng
- Công ty cổ phần Dệt lụa Nam Định
Thí nghiệm nhuộm khảo sát quy trình nhuộm hiện tại của
II.3.1.
Công ty
Xây dựng quy trình công nghệ nhuộm tối ưu và áp dụng
II.3.2.
thử nghiệm tại Công ty Dệt lụa.
Chương III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Đánh giá kết quả đạt được
III.1.
Kết luận
III.2.
Kiến nghị
III.3.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
I.1
I.2.
I.2.1
I.2.2
I.2.3.
I.2.4.
I.2.5.
I.2.6
I.2.7
I.3.
Chương II.
II.1.
II.2.
đoạn nhuộm nhằm giảm chi phí, tăng năng suất, nâng cao chất lượng, giảm giá
thành.
Tối ưu hóa quy trình nhuộm dựa trên cơ sở các thông số công nghệ được
thể hiện đầy đủ, chính xác trong phần mềm phân tích các chỉ số đó.
Nội dung đề tài:
1.
Xây dựng tổng quan về thuốc nhuộm phân tán, thuốc nhuộm axit.
2.
Nghiên cứu và xây dựng bộ dữ liệu về nhuộm màu thuốc nhuộm phân tán
của các nhóm thuốc nhuộm chính: Dianix (DyeStar), Terasil (Huntsman), Foron
(Clariant).
3.
Nghiên cứu và xây dựng bộ dữ liệu về nhuộm màu thuốc nhuộm axit:
Lanaset (Huntsman).
4.
Nghiên cứu xác định thông số công nghệ và xây dựng quy trình nhuộm
với nhóm thuốc nhuộm tương ứng cho mặt hàng len.
5.
Nghiên cứu xác định thông số công nghệ và xây dựng quy trình nhuộm
với nhóm thuốc nhuộm tương ứng cho mặt hàng PES.
6.
Tóm tắt kết quả nghiên cứu:
Căn cứ nội dung và tiến độ thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã thực
hiện 8/8 nội dung theo đăng ký:
-
Giới thiệu tổng quan thuốc nhuộm axit, phân tán.
-
Xây dựng được bộ dữ liệu cơ bản về thuốc nhuộm phân tán có ở thị
trường Việt Nam.
-
Xây dựng được bộ dữ liệu cơ bản về thuốc nhuộm axit dùng để nhuộm
thành phần len có ở thị trường Việt Nam.
Xác định được các thông số công nghệ tối ưu cho thuốc nhuộm phân tán
để nhuộm PES.
Xác định được các thông số công nghệ tối ưu cho thuốc nhuộm axit để
nhuộm thành phần len.
Xác định thông số cho quy trình nhuộm phương pháp tận trích cho vải
PES/Wool.
Nhuộm thử nghiệm tại Công ty theo đơn đã xây dựng trong phòng thí
nghiệm (màu lá mạ) trên vải pha PES/Wool 70/30 và 50/50 đã cho thấy những
sự điều chỉnh cần thiết theo hướng tối ưu hóa công nghệ đó là:
4
5
LỜI NÓI ĐẦU
Sản xuất vải pha PES/Wool ngày nay trên thế giới nói chung và ở Việt
Nam nói riêng chủ yếu dùng cho hàng may mặc ngoài. Chính vì vậy yêu cầu
mặt hàng ổn định kích thước, đễ chăm sóc là những ưu tiên hàng đầu. Việc pha
trộn cũng như tỷ lệ pha trộn PES/Wool nhằm hai mục đích chính là kinh tế và
thẩm mỹ. Len là một trong những nguyên liệu dệt rất đắt.
Trong toàn bộ quy trình gia công vì vậy cần đặc biệt quan tâm sao cho
không hoặc ít xẩy ra sự tổn thương đối với phần xơ sợi len. Vật liệu len có sức
đề kháng không tốt với nhiệt độ cao và cũng không thích hợp trong việc kéo dài
thời gian nhuộm. Về phương diện kinh tế thì tốt nhất là gia công nhuộm hỗn hợp
ở dạng sợi hoặc vải, tuy nhiên về phương diện độ bền màu thì ngược lại nhuộm
xơ rời là thích hợp nhất, sau đó mới phối ghép để kéo sợi (ở Việt Nam thiết bị
nhuộm dạng xơ này chưa cơ sở nào có đầu tư).
Việc nhuộm sau khi đã pha trộn dẫn đến cho quá trình nhuộm gặp nhiều
khó khăn, vì hai loại nguyên liệu này có những tính chất nhuộm trái ngược nhau.
Ở Việt Nam mặc dù số cơ sở sản xuất mặt hàng dạng PES/Wool không nhiều,
sản lượng hàng năm cũng không quá lớn, tuy nhiên trong những năm gần đây
cũng được Bộ Công Thương, Tập đoàn Dệt May Việt Nam và các cơ sở nghiên
cứu, sản xuất quan tâm đến việc nghiên cứu nhằm không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm bằng nhiều con đường, trong đó có giải
pháp tối ưu hóa công nghệ nhuộm theo phương pháp tận trích mà Viện Dệt May
được Bộ Công Thương giao nhiệm vụ nghiên cứu trong năm 2010 (với các mục
tiêu, nội dung theo đề cương) kèm theo ở phụ lục báo cáo.
6
theo lý thuyết người ta nhận thấy để hạn chế tổn thất len đến mức thấp nhất ở
120oC là khi sử dụng 2,5 ÷ 5% khối lượng chất Formaldehyd cho loại hàng pha
tỷ lệ 50/50 (PES/Wool). Như vậy có nghĩa là sử dụng khoảng 5–10 % khối
lượng phần len có trong xơ sợi pha. Với tỷ lệ dùng ấy, thực tiễn đã chứng minh
7
sản phẩm sau nhuộm dư lượng Formaldehyd là khoảng 23 – 75 ppm (nằm trong
giới hạn an toàn của sản phẩm sinh thái cho phép).
Trong quy trình công nghệ nhuộm len riêng biệt, ngày nay người ta cũng
đã tiến hành nhuộm ở nhiệt độ cao để rút ngắn thời gian nhuộm, vấn đề là nguy
cơ tổn hại đến len được giải quyết như thế nào và điều đó phụ thuộc các yếu tố
sau: a) Nhiệt độ; b) Giá trị pH; c) Thời gian nhuộm. Trong quá trình nhuộm len
ở nhiệt độ cao, khi nhiệt độ > 110oC là không an toàn cho len, ví dụ ở 120oC len
đã bị cứng, độ bền cường lực và độ đàn hồi bị giảm.
Trong phép so sánh sự tổn thương của len ở các điều kiện nhiệt độ nhuộm
khác nhau khi môi trường nhuộm pH ≈ 5 người ta nhận thấy mức độ tổn thất là
tương đương khi:
Nhiệt độ nhuộm ở nhiệt độ sôi / thời gian 60 phút.
Nhiệt độ nhuộm ở nhiệt độ 105oC / thời gian 25 phút.
Nhiệt độ nhuộm ở nhiệt độ 110oC / thời gian 17 phút.
Ngoài ra khi môi trường nhuộm là trung tính, hay pH ≤ 3 và pH kiềm thì sự tổn
thương len đều lớn hơn khi môi trường pH ≈ 5.
Căn cứ các phân tích kể trên, để hài hòa các điều kiện cho nhuộm vải pha
PES/Wool đạt hiệu quả kinh tế, nhưng ít ảnh hưởng đến sự tổn thương len,
người ta chọn nhiệt độ nhuộm là 120oC, thời gian nhuộm 40 – 50 phút, có chất
bảo vệ len như nói ở phần trên. Hiện nay nhìn chung để nhuộm vải pha từ xơ
PES/Wool sau khi đã pha trộn. Các công ty trong nước vẫn đang sử dụng quy
trình công nghệ nhuộm cao áp một bể một công đoạn ở nhiệt độ 120oC có chất
bảo vệ len (theo tài liệu nước ngoài giới thiệu).
I.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MẶT HÀNG PES/WOOL
I.2.1. Cấu trúc và những tính chất cơ bản của len
• Sơ đồ liên kết của mạch keratin trong sợi len:
/
\
/
HN
HN ................... OC
\
/
\
CH – R
CH – CH2 – S – S – CH2 – CH
/
\
/
CO
CO ................... NH
\
/
\
NH
NH
CO
/
\
/
CH–CH2 –CH2 –COO –H3N+–CH2–CH2–CH
CH – R
căng, hóa chất).
I.2.2. Cấu trúc và những tính chất cơ bản của sợi PES
a/ Công thức tổng quát:
HO
OC
COOCH2
CH2O
n
H
Là sản phẩm trùng ngưng của axit terephtalic với etylenglycol.
Điểm nóng chảy: 250 – 260oC
Điểm hóa dẻo:
230 – 240oC.
b/ Định hình trước PES:
Khi PES được định hình nhiệt trước, ta sẽ đạt được các đặc tính sau:
-
Ổn định được kích thước.
Giảm độ nhàu
Bề mặt đẹp, cho cảm giác sờ tay dễ chịu
Đối với loại sợi từ xơ cắt ngắn sẽ hạn chế khả năng vón gút
Giảm khả năng gấp nếp trong quá trình xử lý
Vải phải sạch các loại hồ, nếu không rất nguy hiểm cho quá trình nhuộm
10%.
I.2.3. Giặt trước
Mục đích của công đoạn giặt trước là để loại bỏ các tạp chất dầu và các
tạp chất khác gây nên trong quá trình kéo sợi và dệt. Việc giặt vải có thành phần
len luôn phải được tiến hành thận trọng (vì thành phần len rất dễ bị tổn thương).
Bằng kinh nghiệm và theo phương diện lý thuyết, các nhà kỹ thuật nhuộm có thể
nói rằng: " Khâu giặt trước được tiến hành tốt có nghĩa là thắng lợi được ½ công
việc của nhuộm".
11
Trước hết phải lựa chọn chất giặt thích hợp. Thông thường tùy theo các
chất bẩn đầu vào để lựa chọn chất giặt thích hợp, tuy nhiên thông dụng nhất là
sử dụng các chất giặt có chứa dung môi hữu cơ với tác dụng để dễ dàng làm nhũ
hóa các loại dầu khoáng có trên vải. Môi trường giặt trong điều kiện kiềm nhẹ,
có thể sử dụng Na2CO3 hoặc amôniăc để điều chỉnh đều được. Việc sử dụng
thiết bị nào là phụ thuộc kết cấu mặt hàng. Chất giặt sử dụng có thể dạng anion
hoặc không ion. Chất giặt có tính anion có tác dụng hạn chế được một phần nhỏ
độ dây màu thuốc nhuộm phân tán lên len; nhưng nếu không được giặt sạch
trước lúc nhuộm dễ gây hiện tượng loang màu. Để bảo đảm không ảnh hưởng
đến độ đều màu trong quá trình nhuộm do yếu tố chất trợ gây lên, người ta
khuyến cáo nên sử dụng chất giặt không ion là tốt hơn và chúng tôi dã chọn.
Mức độ giặt trước ta phải căn cứ lượng mỡ còn dư lại trên len, mức còn
lại sau giặt phù hợp nhất là 0,5 – 0,8%. Nếu lượng còn lại lớn hơn thường ảnh
hưởng đến độ bền màu ma sát của vải nhuộm. Để khử mỡ (các loại dầu khoáng)
tốt nhất là dùng dung môi hữu cơ, vì các chất kiềm chỉ có tác dụng loại được các
loại dầu có khả năng nhũ hóa trong nó, ngược lại loại dầu khoáng không nhũ
hóa được thì tác dụng của kiềm không có giá trị loại bỏ được chúng.
Như trên đã nói không phải là loại bỏ hết tỷ lệ dầu trong len. Thực tế
nhuộm phân tán và khâu giặt sau nhuộm.
a). Tổng quan về thuốc nhuộm phân tán
Phân loại thuốc nhuộm phân tán cho Polyeste
Khối lượng
phân tử
Độ phân
cực
Tốc độ
nhuộm
Độ bền màu
với thăng hoa
Năng lượng thấp
Nhỏ
Thấp
Cao
Thấp
Năng lượng trung
bình
Trung bình
không có độ bền nhiệt cao như loại "năng lượng cao", nhưng có độ bền màu
tương đối tốt.
Nhìn chung hầu hết thuốc nhuộm phân tán là dẫn xuất từ gốc azo (chiếm
60% thuốc nhuộm thương mại.
Thuốc nhuộm gốc anthraquinon chiếm vị trí số 2 khoảng 32% cũng là lớp
rất quan trọng. Còn lại là các nhóm mang màu khác.
Do thuốc nhuộm có gốc azo chiếm vị trí số 1 trong các thuốc nhuộm phân
tán, nên có câu hỏi đặt ra liệu có thuốc nhuộm phân tán azo bị cấm không? Có
thể trả lời rằng có một số thuốc nhuộm phân tán trên cơ sở các amin thơm đã
được xếp loại bổ sung bởi cộng đồng Châu Âu (EU) như chất gây ung thư. Mặc
dầu chưa được liệt kê trong luật tiêu dùng CHLB Đức vẫn còn được sản xuất.
Tuy nhiên nhiều hãng buôn bán hàng dệt đã cấm các cơ sở sản xuất hàng dệt sử
dụng các thuốc nhuộm trên cơ sở 2 amin nêu trên là:
O-anisidin có số "CAS" (CAS No) 90-4-0 và
P-aminoazobenzen có số "CAS" (CAS No) 60-9-3
Nói chung các loại thuốc nhuộm phân tán bị cấm đã có nhiều tài liệu viện dẫn,
ghi chú đăng trên nhiều tài liệu hoặc báo cáo ở nhiều đề tài môi trường.
b).Quá trình lựa chọn thuốc nhuộm phân tán.
Tất cả các loại thuốc nhuộm phân tán ít hay nhiều đều dây màu lên thành
phần Wool trong quá trình nhuộm, điều đó đã được khẳng định vì bản chất cấu
trúc hóa học của chúng. Sự dây màu này rất khó giặt và vì vậy làm cho độ bền
màu của sản phẩm không cao. Về phương diện lý thuyết có thể sử dụng nhóm
thuốc nhuộm phân tán có độ dây lên Wool ít nhất hoặc loại dây vừa nhưng dễ
giặt sạch hơn để nhuộm PES/Wool.
Ở đây cũng có thể nói rằng:
- Nếu tiến hành nhuộm riêng biệt 2 loại xơ thì vấn đề lựa chọn thuốc nhuộm
phân tán để nhuộm thành phần PES không đặt thành vấn đề lớn.
- Trong trường hợp tiến hành nhuộm theo quy trình 2 pha đối với PES/ Wool thì
số liệu kèm theo).
- Sử dụng hoặc không sử dụng chất phân tán trong quá trình nhuộm ( có
phụ lục số liệu kèm theo).
- Sử dụng các chất trợ kiềm chế sự dây màu thuốc nhuộm phân tán lên
Wool trong quá trình nhuộm.
- Các chế độ giặt trước và sau nhuộm.
- Sử dụng các loại hồ hoàn tất phù hợp nhất.
15
c. Tổng quan về thuốc nhuộm axit
Thuốc nhuộm axit hiện đang được ứng dụng để nhuộm các loại xơ sợi
Protein và Polyamid trong môi trường axit, chúng được chia ra thành các nhóm
chính sau đây:
- Thuốc nhuộm axit thường (có 3 phân nhóm tùy theo độ pH khi nhuộm)
- Thuốc nhuộm axit tạo phức crom sau nhuộm.
- Thuốc nhuộm axit phức kim loại 1:1
- Thuốc nhuộm axit phức kim loại 1:2
Tất cả các nhóm thuốc nhuộm nêu trên đều tồn tại dưới dạng muối của các
"axit" có màu. Trong mọi trường hợp, khi nhuộm đều xảy ra phản ứng giữa
nhóm mang điện tích dương của vật liệu dệt với nhóm điện tích âm của thuốc
nhuộm. Đối với nhóm thuốc tạo phức kim loại ngoài ra còn một vài dạng liên
kết khác giữa vật liệu dệt với thuốc nhuộm. Trong bảng 1 dưới đây được dẫn ra
những liên kết quan trọng nhất của từng nhóm thuốc nhuộm và ảnh hưởng của
chúng đến độ bền màu ướt, gía trị pH tối ưu khi áp dụng và một số thông số
khác:
Thuốc nhuộm axit
thường
+
++
+++
++
+++
++++
Liên kết cộng
hóa trị
-
-
-
+
+
-
pH tối ưu của
bể nhuộm
Rất tốt Rất tốt
đến
cực tốt
bình)
16
Dấu " – ": không liên kết
Dấu "+" đến "+ + + + " : Cấp độ liên kết
1. Nhuộm bằng thuốc nhuộm axit thường
Thuốc nhuộm axit trên cơ sở tính chất và độ bền màu của chúng được
chia ra 3 phân nhóm
- Phân nhóm 1: Loại thuốc nhuộm hấp phụ lên xơ sợi trong môi trường axit
mạnh (pH 2 – 3). Khi nhuộm phải sử dụng các axit mạnh, ví dụ: H2SO4 hoặc
axit formic. Thuốc nhuộm phân nhóm này cho kết quả độ bền màu ánh sáng tốt
đến rất tốt, độ bền màu ướt đạt trung bình. Ưu điểm lớn nhất là cho độ đều màu
rất tốt.
- Phân nhóm 2: Loại thuốc nhuộm hấp phụ lên xơ sợi trong môi trường axit yếu
(pH 4 – 5) bằng cách sử dụng axit acetic. Kết quả nhuộm cho độ bền màu ướt rất
tốt và độ bền màu ánh sáng đạt cao thậm chí cả đối với màu nhạt. Độ đều màu
tốt.
- Phân nhóm 3: Đây là phân nhóm nhuộm trong môi trường axit yếu, tối ưu ở
pH 6 – 7, cho độ đều màu chỉ ở mức độ trung bình, độ bền màu ướt đạt cấp rất
tốt. Đây là phân nhóm rất thích hợp cho nhuộm len pha với loại xơ sợi khác
trước hết là với Xenlulo và với PES.
1.1. Ảnh hưởng của các chất trợ trong quá trình nhuộm và phương pháp
liên kết với xơ sợi.
Đối với tất cả các thuốc nhuộm anion thì liên kết chính giữa thuốc nhuộm
nhất – màu đậm lượng dùng ít nhất (theo đơn hướng dẫn). Dao động lượng muối
dùng theo chỉ định của từng nhóm thuốc nhuộm, nói chung trong khoảng 5 –
20%.
* Ảnh hưởng của nhiệt độ:
Khi tăng nhiệt độ bể nhuộm, bên cạnh việc tăng tốc độ hấp phụ thuốc
nhuộm lên xơ sợi, thì hầu hết các nhóm thuốc nhuộm axit tăng khả năng phân
giải độ keo tụ thuốc nhuộm, dẫn đến khả năng nhuộm màu tốt hơn và độ bền
màu đạt chuẩn hơn.
Tốc độ tăng nhiệt được điều chỉnh sao cho việc hấp phụ thuốc nhuộm lên
xơ sợi và khả năng đều màu là hài hòa. Thời gian nâng nhiệt phụ thuộc nhóm
thuốc nhuộm. Thời gian nhuộm ở nhiệt độ sôi được quy định bởi đặc tính của
vật liệu dệt. Để việc gắn màu thuốc nhuộm lên xơ sợi tốt liên đới đến độ bền
màu đạt tối ưu. Cần giữ thời gian nhuộm theo quy định hướng dẫn ở giới hạn
thấp nhất cho phép (không nên thấp hơn)
* Ảnh hưởng của chất đều màu
18
Khi nhuộm với nhóm thuốc nhuộm có độ đều màu thấp, người ta có thể
cải thiện bằng cách tốt nhất là nhờ điều chỉnh tối ưu hóa độ pH 6 -7. Tuy nhiên
để bảo vệ chất lượng len buộc phải nhuộm ở điều kiện pH trong vùng đẳng điện
của len (pH 4 -5). Trong trường hợp này buộc chúng ta phải sử dụng đến chất
trợ đều màu. Chất trợ đều màu lý tưởng khi:
- Làm giảm ái lực
- Giảm tốc độ hấp phụ thuốc nhuộm lên xơ sợi.
- Cải thiện sự khuyếch tán màu.
- Ảnh hưởng đến độ phân tán thuốc nhuộm.
- Làm cân bằng sự khác nhau của việc hấp phụ thuốc nhuộm.
- Không ảnh hưởng đến độ tận trích.
sản xuất tại Công ty đã tiến hành giặt 3 – 5 lần, song đối với các màu đậm độ
bền màu vẫn chưa đạt cao.
- Vấn đề giặt khử trong môi trường kiềm nhẹ kết hợp với giặt thông
thường: Phương án này trên thế giới ít dùng vì dù sao thì Wool vẫn bị tổn
thương.
Để hạn chế hiện tượng tách màu thuốc nhuộm phân tán lên bề mặt vải trong
quá trình xử lý nhiệt ta nên sử dụng chất giặt dạng anion là phù hợp nhất, cụ thể
là dùng Ultravon EL; Levapon OLN.
I.2.6. Đốt và xén lông
Sau khi đốt lông hoặc xén tạo cho mặt vải có chất lượng ngoại quan đẹp
hơn, giảm xù lông và vón gút, tốt nhất nên qua đốt lông trước. Vải nếu chỉ đốt
mà không xén thường để lại trên bề mặt các đốm vón cứng, vì vậy tốt nhất nên
kết hợp cả đốt và xén.
I.2.7. Hoàn tất
Tùy theo yêu cầu đặt ra về tính chất và chất lượng sản phẩm của mặt hàng
pha để tiến hành các công đoạn hoàn tất cơ học (xông hơi, là cán và ổn định
len); hóa học (chống nhàu, làm mềm, chống tĩnh điện...)
20
I.3. LỰA CHỌN THUỐC NHUỘM PHÂN TÁN THÍCH HỢP
CHO PES/WOOL
- Bảng phân loại lựa chọn thuốc nhuộm phân tán để nhuộm vải PES/Wool
Kết quả thực nghiệm lựa chọn thuốc nhuộm phân tán trong phòng thí
nghiệm hóa nhuộm – Viện Dệt May.(Qua tài liệu, có tham khảo của đề tài
nghiên cứu cấp Bộ trước đây và qua kiểm nghiệm thử trên vải len 100%)
Phương pháp 1 pha ở 120oC, thời gian 45’, nồng độ 3%
TT
4
Terasil Blue 3RL-02 150% (*)
x
5
Terasil Yellow 2GW
x
6
Disperse Blue 2BLN (*)
x
7
Disperse Red 3B (*)
x
8
Dispersol Blue C-RN
x
14
Terasil Navy BRW (*)
15
Terasil Red 5G
16
Terasil Yellow W-6GS (*)
Dây trung
bình lên
Wool
Dây nhiều
lên Wool
4
5
x
x
x
21
22
Terasil Red G 150%
x
23
Terasil Violet BL-01
x
24
Terasil Blue 3RL-01.150%
x
25
Terasil Blue R-01. 200%
x
26
Terasil Blue FFL 200%
x
32
Terasil Bordeaux 2B
x
33
Terasil Blue BLF
x
34
Terasil Blue RB
x
35
Terasil Flavin 8GFF
x
36
Terasil Yellow 6GLSW
x
42
Terasil Red 4G
x
22
43
Terasil Red YSLF
x
44
Terasil Red BST
x
45
Terasil Pink 2GLA
x
46
Terasil Red 3BL-01 150%
x
52
Terasil Navy Blue SGL 200%
x
53
Foron Brilliant Yellow S-7GL
54
Foron Brilliant Yellow S-4GL
55
Foron Brilliant Yellow SE 6GFL
56
Foron Yellow SE-NGF
57
Foron Yellow SE-FL
x
63
Foron Brilliant Orange E-RL
64
Foron Brilliant Scarlet S-2GL
65
Foron Scarlet S-3GFL
66
Foron Brilliant Scarlet S-RL
67
Foron Scarlet S-GFL
68
Foron Scarlet S-BWFL
x
x
x
x
x
73
Foron Brilliant Red S-GL
x
74
Foron Brilliant Red E-RLN
x
75
Foron Brilliant Red E-2BL
x
76
Foron Brilliant Red SE-4BL
77
Foron Rubine SE-GFL
78
Foron Brilliant Red S-RGL
x
85
Foron Blue SE-2R
x
86
Foron Blue S-BGL
x
87
Foron Blue S-RBL
x
88
Foron Brilliant Blue E-GFLN
89
Foron Turquoise SBL
90
x
x
x
Không phù hợp
x
x
24