LUẬN văn THẠC sĩ LỊCH sử ĐẢNG ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM LÃNH đạo THỰC HIỆN kế HOẠCH 5 năm lần THỨ NHẤT ở MIỀN bắc 1961 1965 - Pdf 39

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

1. Ban Chấp hành Trung ương:

BCHTƯ

2. Chủ nghĩa tư bản:

CNTB

3. Chủ nghĩa xã hội:

CNXH

4. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá:

CNH, HĐH

5. Chính trị Quốc gia:

CTQG

6. Diễn biến hoà bình:

DBHB

7. Đảng Cộng sản Việt Nam:


MỤC LỤC
Trang

Chữ viết tắt

3

MỞ ĐẦU

4


2
Chương 1

ĐẢNG XÁC ĐỊNH VÀ CHỈ ĐẠO THỰC

10

HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT
(1961 – 1965)
1.1. Miền Bắc sau những năm khôi phục và phát triển

10

kinh tế – xã hội Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
1.2. Đảng chỉ đạo thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
Chương 2



83

PHỤ LỤC

87

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1961 đến năm 1965 thời kỳ này cách mạng Việt Nam có những
thuận lợi cơ bản đồng thời phải đối mặt với những thách thức, khó khăn lớn.
Trong nước, sau khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7 năm 1954), đất nước ta
tạm thời chia làm 2 miền. Miền Nam tiếp tục sự nghiệp cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân để tiến tới thống nhất nước nhà; miền Bắc bước vào thời kỳ quá


3
độ lên CNXH trong điều kiện còn nhiều khó khăn phức tạp như: cơ sở vật chất
thiếu thốn, chưa có kinh nghiệm xây dựng CNXH, trình độ dân trí chưa cao…
Tình hình thế giới cũng có những thay đổi to lớn, đặc biệt là sự lớn
mạnh của hệ thống XHCN, sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng
dân tộc ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh, đấu tranh vì hoà
bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Song công cuộc XHCN ở các nước
lúc đó bên cạnh những thành tựu đạt được cũng đã xuất hiện sự trì trệ, yếu
kém. Trong phong trào cộng sản công nhân quốc tế đã xuất hiện sự bất đồng.
Những khó khăn đã tác động mạnh đối với cách mạng Việt Nam nói chung,
và cách mạng XHCN ở miền Bắc nói riêng.
Ở miền Nam đế quốc Mỹ đang tiến hành cuộc chiến tranh đặc biệt, gây
cho cách mạng nhiều khó khăn và đe doạ đến hoà bình ở miền Bắc.

hoạch 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc 1961 – 1965” làm luận văn thạc sĩ
lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, với hy vọng thông
qua việc tái hiện những sự kiện lịch sử, những quan điểm chỉ đạo của Đảng
sẽ góp phần làm sáng tỏ vai trò lãnh đạo tài tình của Đảng, đồng thời giúp
Đảng ta có thêm kinh nghiệm tiếp tục chỉ đạo sự nghiệp đổi mới đạt kết quả
cao trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Cách mạng XHCN ở nước ta được tiến hành trên miền Bắc thời kỳ
1961 – 1965 là một thời kỳ đặc biệt. Để làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng ở
thời điểm lịch sử đó đã có nhiều nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa
học, tập thể khoa học đã nghiên cứu vấn đề này dưới các hình thức khác nhau
như chuyên đề, chuyên luận, tác phẩm, đề tài khoa học, cụ thể là:


5
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (1963), Nghị
quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ năm (7/1961) về vấn đề phát triển
nông nghiệp trong Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965), Nxb Sự thật,
Hà Nội.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (1963), Nghị
quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ tám về kế hoạch phát triển kinh tế
quốc dân 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965), Nxb Sự thật Hà Nội.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (1965), Nghị
quyết Hội nghị Trung ương lần thứ mười về thương nghiệp và giá cả, Nxb Sự
thật Hà Nội Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 21, Nxb
CTQG, Hà Nội.

- Mục đích:
Nhằm hệ thống lại quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chỉ
đạo thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc 1961 – 1965. Qua
đó khẳng định vai trò, bản lĩnh chính trị, tinh thần độc lập, tự chủ và sáng
tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng
CNXH ở miền Bắc thời kỳ 1961 – 1965. Rút ra kinh nghiệm quý báu làm
cơ sở vận dụng vào thực hiện Kế hoạch 2001 – 2005 của Đảng, Nhà nước
hiện nay.


7
Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm cho
công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc nước ta giành thắng lợi trong mọi
hoàn cảnh.
Nhiệm vụ:
Phân tích làm rõ đường lối, chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện Kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc 1961 – 1965 của Đảng.
Khẳng định những thành tựu đã đạt được, những nhược điểm, yếu
kém còn tồn tại, bước đầu rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình
lãnh đạo thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc 1961 –
1965 của Đảng.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Nguồn tư liệu:
Luận văn sử dụng các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin,
của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng có liên quan đến đề tài.
Các sách, báo của các tác giả trong nước, các báo cáo tổng kết, các số
liệu thống kê, các đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, các luận án tiến sĩ
khoa học lịch sử có liên quan đến đề tài.
Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số sách báo của các tác giả nước ngoài

mục tài liệu tham khảo và phụ lục.


9

Chương 1
ĐẢNG XÁC ĐỊNH VÀ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM
LẦN THỨ NHẤT (1961 – 1965)

1.1. Miền Bắc sau những năm khôi phục và phát triển kinh tế, xã
hội – Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
1.1.1. Tình hình miền Bắc sau những năm khôi phục và phát triển
kinh tế, xã hội
Những đặc điểm nổi bật của tình hình thế giới tác động đến cách mạng
nước ta.
Hệ thống XHCN thế giới do Liên Xô đứng đầu đã lớn mạnh vượt bậc,
trở thành nhân tố quyết định chiều hướng phát triển của cách mạng thế giới.


10
Vào những năm thập niên 60, hệ thống XHCN thế giới gồm 12 nước với
1000 triệu người, chiếm hơn một phần ba dân số thế giới và gần một phần tư đất
đai toàn thế giới. Lực lượng của phe XHCN về nhiều mặt đã hơn hẳn lực lượng
của CNĐQ, và trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của tình hình thế giới.
Về chính trị, chính sách trước sau như một của Liên Xô, Trung Quốc
và các nước XHCN kiên quyết đấu tranh để duy trì và củng cố hoà bình,
thực hiện chung sống hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị, xã hội
khác nhau. Các nước XHCN ủng hộ phong trào độc lập dân tộc chống chủ
nghĩa thực dân, giúp đỡ vô tư về kinh tế, kỹ thuật cho các nước chậm tiến
mau củng cố nền độc lập chính trị của mình, đồng thời đồng tình và ủng hộ

phóng vệ tinh, phóng tên lửa lên khoảng không vũ trụ và những tên lửa cực
mạnh xuống Thái Bình Dương, Liên Xô đã hoàn thành việc phóng con tàu vũ
trụ mang theo sinh vật và đưa đón trở về quả đất một cách an toàn, đã chứng
tỏ ưu thế rõ rệt của Liên Xô và hệ thống XHCN. Những thành tựu của Liên
Xô về khoa học và kỹ thuật đã làm tăng thêm uy tín của các nước XHCN trên
trường quốc tế, mặt khác thành tựu đó còn tạo thêm những phương tiện mới
cho nhân dân thế giới trong sự nghiệp bảo vệ và củng cố hoà bình, chống lại
những âm mưu đen tối của CNĐQ.
Lực lượng so sánh trên thế giới đã có sự biến đổi một cách căn bản, ưu
thế thuộc về các lực lượng XHCN, độc lập dân tộc và yêu chuộng hoà bình
trên thế giới. Tình hình đó đã tạo ra khả năng thực tế để ngăn ngừa chiến
tranh thế giới.
Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ với bản chất hiếu chiến,
xâm lược, ngoan cố, tiếp tục duy trì chính sách xâm lược bằng những thủ


12
đoạn thâm độc. Chúng ra sức tăng cường lực lượng quân sự, chạy đua vũ
trang, đẩy mạnh việc phục hồi chủ nghĩa quân phiệt, củng cố duy trì “chiến
tranh lạnh”. Đế quốc Mỹ đã cho máy bay U-2 và máy bay RB-47 bay vào
lãnh thổ Liên Xô để do thám quân sự, việc làm ấy đã vạch trần bộ mặt hiếu
chiến của đế quốc Mỹ.
Các thế lực gây chiến do đế quốc Mỹ cầm đầu đang tìm mọi cách
duy trì tình trạng căng thẳng ở châu Á hòng thực hiện âm mưu xâm lược
của chúng. Đặc biệt ở Đông Nam Á, chúng ra sức xây dựng và tăng
cường các căn cứ quân sự, củng cố khối quân sự xâm lược ở Đông Nam
Á, đẩy mạnh việc chạy đua vũ trang. Tình hình đó đòi hỏi nhân dân yêu
chuộng hoà bình trên thế giới và nhân dân Việt Nam cần phải không
ngừng nâng cao cảnh giác, nỗ lực hơn nữa trong công cuộc đấu tranh bảo
vệ củng cố và hoà bình.

triển, tức là ở những nước đã trải qua giai đoạn TBCN. Lênin cho rằng
CNXH là sản phẩm của nền đại công nghiệp cơ khí do CNTB sản sinh ra.
Nhưng miền Bắc nước ta đi lên CNXH chưa qua CNTB phát triển. Cơ sở
vật chất – kỹ thuật do chủ nghĩa thực dân để lại không đáng kể. Cơ cấu sản
xuất thì manh mún, phân tán. Công nghiệp mới phôi thai, nông nghiệp và
thủ công nghiệp có tính phân tán chiếm bộ phận lớn trong nền kinh tế
quốc dân. Ruộng đất bình quân tính theo đầu người chỉ có 3 sào bắc bộ,
tức là trên dưới một phần mười hét ta, số lao động dư thừa ở nông thôn
miền đồng bằng quá đông. Nhìn chung trình độ văn hoá của nhân dân còn
thấp, lực lượng kỹ thuật do chế độ cũ để lại không đáng kể, nhất là về cán
bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề. Trải qua nhiều năm chiến tranh, kinh
tế miền Bắc lại bị tàn phá nặng nề, tuy đã được khôi phục, cải tạo song


14
năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân, lao động còn thiếu thốn về
nhiều mặt.
Bên cạnh đó, những tư tưởng, thói quen cách nghĩ, cách làm của những
người sản xuất nhỏ còn nặng nề trong cán bộ và nhân dân. Thói quen của
người sản xuất nhỏ đã ảnh hưởng đến năng lực quản lý xí nghiệp, quản lý sự
nghiệp của chúng ta.
Tình hình trên gây nhiều khó khăn cho miền Bắc khi bước vào thời kỳ
quá độ, thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Cùng với những khó khăn,
miền Bắc cũng có nhiều thuận lợi cơ bản: Đảng có đường lối đúng; có khối
liên minh công nông vững chắc; chính quyền dân chủ nhân dân đã được củng
cố vững mạnh; nhân dân lao động cần cù và sáng tạo; tiềm năng đất nước còn
lớn, đặc biệt tài nguyên thiên nhiên phong phú. Đồng thời, qua khôi phục và
cải tạo, miền Bắc đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều mặt. Từ một
nền kinh tế nhiều thành phần trở thành nền kinh tế mới với hai hình thức sở
hữu chủ yếu là nhà nước và tập thể.

Đế quốc Mỹ đã biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng,
đang tích cực dùng miền Nam làm căn cứ quân sự để phá hoại công cuộc xây
dựng CNXH ở miền Bắc và chuẩn bị gây chiến tranh xâm lược trong cả
nước. Sự nghiệp cách mạng XHCN ở miền Bắc cần phải được thúc đẩy mạnh
mẽ để mau chóng tạo ra một cuộc sống mới cho nhân dân miền Bắc làm cho
miền Bắc phát huy đầy đủ tính hơn hẳn của nó so với miền Nam, đồng thời
để biến miền Bắc thành cơ sở vững chắc, là hậu phương lớn cung cấp sức
người, sức của cho cách mạng miền Nam.
Miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng CNXH, thực hiện Kế hoạch 5
năm lần thứ nhất trong điều kiện hệ thống XHCN do Liên Xô đứng đầu đã có


16
sự phát triển mạnh, hơn hẳn CNĐQ; quan hệ hợp tác và phân công quốc tế
trong phe XHCN đã được xây dựng và phát triển. Đó là thuận lợi căn bản cho
công cuộc cải tạo XHCN và xây dựng CNXH ở miền Bắc, bảo đảm cho miền
Bắc có thể bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN mà tiến thẳng lên CNXH.
Như vậy, tình hình thế giới và trong nước của những năm đầu thập kỷ sáu
mươi vừa có thuận lợi, vừa có khó khăn, đan xen tác động tới cách mạng
XHCN ở miền Bắc và việc thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961 – 1965.
1.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ, chủ trương và phương hướng của kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961 – 1965
- Mục tiêu của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất:
Trên cơ sở những thành tựu đạt được trong cải tạo và phát triển kinh tế,
phát triển văn hoá xã hội, đồng thời căn cứ vào đường lối chung do Đại hội
toàn quốc lần thứ III của Đảng đã thông qua; Đảng đã xác định Kế hoạch 5
năm lần thứ nhất 1961 – 1965 nhằm mục tiêu.
“Phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và hoàn thành
công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến

nông nghiệp toàn diện, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực
phẩm, tích cực phát triển giao thông vận tải, tăng cường thương nghiệp quốc
doanh và thương nghiệp hợp tác xã, chuẩn bị cơ sở để tiến lên biến nước ta
thành một nước công nghiệp và nông nghiệp XHCN.
Hai là, hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, thủ
công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa;
củng cố và tăng cường thành phần kinh tế quốc doanh, tăng cường mối quan


18
hệ giữa sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, mở rộng quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Ba là, nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân đẩy mạnh công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ xây dựng kinh tế và công nhân lành nghề, nâng cao
năng lực quản lý kinh tế của cán bộ, công nhân và nhân dân lao động; đẩy
mạnh công tác khoa học và kỹ thuật, đẩy mạnh thăm dò tài nguyên tự
nhiên và điều tra cơ bản, nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế và văn
hoá xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, cải thiện thêm một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân
dân lao động, làm cho nhân dân ta được ăn no, mặc ấm, tăng thêm sức khoẻ,
có thêm nhà ở và được học tập, mở mang sự nghiệp phúc lợi công cộng, xây
dựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị.
Năm là, đi đôi và kết hợp với phát triển kinh tế, cần ra sức củng cố quốc
phòng, tăng cường trật tự an ninh, bảo vệ sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc.
Năm nhiệm vụ cơ bản của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất liên hệ mật thiết
với nhau, thể hiện yêu cầu phát triển toàn diện nhưng có trọng tâm và trọng
điểm. Phát triển với nhịp độ nhanh, theo tỷ lệ của nền kinh tế và văn hoá
XHCN ở miền Bắc trong thời gian Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, nhằm củng
cố miền Bắc thành cơ sở ngày càng vững chắc của cách mạng cả nước trong
cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

trình trọng điểm về công nghiệp, nông nghiệp, giao thông có tác dụng lớn
thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển với nhịp độ nhanh. Đồng thời, cần
phải đẩy mạnh xây dựng cơ bản phục vụ việc đào tạo cán bộ và công nhân
lành nghề, nghiên cứu khoa học và kỹ thuật; coi trọng đúng mức việc xây


20
dựng các công trình văn hoá và công trình phúc lợi để nâng cao đời sống
của nhân dân.
Vấn đề tăng năng suất và hạ giá thành: Dự định bình quân hàng năm,
năng suất của ngành công nghiệp quốc doanh sẽ tăng khoảng 9%, ngành xây
dựng cơ bản sẽ tăng 6%.
Về giáo dục và đào tạo cán bộ: Dự kiến tổng số học sinh phổ năm 1965
sẽ tăng gấp đôi so với năm 1960; số học sinh chuyên nghiệp trung cấp sẽ là
85.000 người, tăng thêm hơn 1,5 lần; số sinh viên đại học sẽ là 40.000 người,
tăng thêm 2 lần. Trong 5 năm, sẽ có thêm gần 25.000 cán bộ tốt nghiệp đại
học và gần 10 vạn cán bộ tốt nghiệp chuyên nghiệp trung cấp. Trên cơ sở sản
xuất phát triển, đời sống của nhân dân sẽ được cải thiện thêm một bước. Dự
tính trung bình thu nhập thực tế của công nhân, nông dân năm 1965 có thể
tăng 30% so với năm 1960.
- Những chủ trương lớn của Đảng chỉ đạo thực hiện Kế hoạch 5 năm
lần thứ nhất.
Một là: Xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH và ra
sức hoàn thành cải tạo XHCN.
Sau khi thực hiện kế hoạch cải tạo và xây dựng 3 năm (1958 – 1960)
giành thắng lợi, tình hình mới đòi hỏi trong thời gian kế hoạch 5 năm, cần
phải xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH để phát triển
sức sản xuất và để tăng cường quan hệ sản xuất XHCN; mặt khác cần phải
làm xong việc đưa quần chúng lao động vào hợp tác xã, chuyển hợp tác xã
bậc thấp lên bậc cao. Cần kết hợp chặt chẽ việc xây dựng bước đầu cơ sở vật

cần có chủ trương, biện pháp cụ thể để điều chỉnh sức sản xuất giữa công
nghiệp và nông nghiệp, giữa công nông nghiệp và giao thông vận tải. Đồng


22
thời phân bố hợp lý sức sản xuất giữa miền xuôi và miền núi, mở mang các
vùng kinh tế, thực hiện từng bước có kế hoạch sự phân công và phối hợp
giữa các vùng, ngành kinh tế.
Bốn là: Đề cao tinh thần cần kiệm xây dựng Tổ quốc, giải quyết đúng
đắn mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng.
Cần kiệm xây dựng Tổ quốc là quan điểm nhất quán của Đảng ta thể
hiện bản lĩnh của Đảng và truyền thống của dân tộc ta. Miền Bắc bước vào
xây dựng CNXH trong điều kiện cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu, đời
sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, trong khi đó nhu cầu phát triển lớn,
vốn xây dựng cơ bản, phát triển sản xuất rất cao. Nếu chúng ta để lãng phí, sử
dụng không phù hợp, không đề cao tinh thần cần kiệm sẽ ảnh hưởng đến phát
triển sản xuất, thực hiện kế hoạch và đời sống của nhân dân. Cùng với cần
kiệm xây dựng đất nước, cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tích luỹ
và tiêu dùng. Giải quyết hài hoà mối quan hệ đó sẽ thúc đẩy sản xuất phát
triển. Trong khi chúng ta chưa có vốn để mở mang sản xuất, đầu tư xây dựng
cơ bản mà đề cao, coi trọng tiêu dùng sẽ ảnh hưởng đến phát triển sản xuất.
Ngược lại, nếu chỉ tập trung cho tích luỹ để phát triển sản xuất, coi nhẹ tiêu
dùng của nhân dân sẽ triệt tiêu động lực. Do đó, cần phải giải quyết đúng đắn
giữa tích lũy và tiêu dùng trong phát triển sản xuất, xây dựng cơ bản, phân
phối thu nhập của nhân dân. Bảo đảm cho các mặt cùng hỗ trợ, thúc đẩy lẫn
nhau đưa sự nghiệp xây dựng CNXH phát triển tiến lên.
Năm là: Tăng cường sự hợp tác kinh tế với các nước trong phe XHCN.
Hợp tác kinh tế với các nước trong phe XHCN là một nhu cầu đòi hỏi
khách quan để phát triển đất nước. Đóng cửa khép kín là nguy cơ dẫn đến tụt
hậu. Đặc biệt đối với miền Bắc nước ta khi bước vào xây dựng CNXH với



24
điện phục vụ kịp thời cho nhu cầu phát triển kinh tế trong Kế hoạch 5 năm và
chuẩn bị một phần cho kế hoạch sau.
Trong những năm 1961 – 1963, cần nghiên cứu mọi biện pháp để giảm
nhẹ tình hình căng thẳng về cung cấp điện.
Luyện kim: Nhiệm vụ chủ yếu về công nghiệp luyện kim là cố gắng
cung cấp phần lớn nhu cầu về gang, thép thông thường cho xây dựng cơ bản
và một phần cho việc chế tạo cơ khí. Cần xây dựng khu gang thép Thái
Nguyên với công suất là 200.000 tấn. Về luyện kim không có chất sắt, cần
xúc tiến việc khai thác và sản xuất chì, kẽm, luyện nhôm…
Chế tạo cơ khí: Trong Kế hoạch 5 năm ngành chế tạo cơ khí có nhiệm vụ:
Sản xuất một số loại máy móc công cụ chính xác cấp II trở xuống, một
số loại thiết bị phối hợp đi theo với thiết bị toàn bộ.
Sản xuất các loại công cụ cải tiến, một số máy móc nông nghiệp loại
nhỏ, các loại máy móc giản đơn để phục vụ nông nghiệp và công nghiệp
địa phương.
Bảo đảm sửa chữa lớn và sản xuất một số loại phụ tùng, dụng cụ cho các
ngành công nghiệp, vận tải, xây dựng cơ bản.
Sau khi nêu lên những nhiệm vụ của ngành chế tạo cơ khí, Đảng
nhấn mạnh: vấn đề quan trọng bậc nhất là phải gấp rút thống nhất và tăng
cường quản lý ngành cơ khí phân công sản xuất hợp lý giữa các cơ sở
quốc doanh và công tư hợp doanh, giữa các cơ sở của trung ương và các
cơ sở địa phương để tận dụng khả năng hiện có và sử dụng tốt các cơ sở
sẽ xây dựng thêm.


25
Than: Cần thoả mãn đầy đủ nhu cầu trong nước về các loại than không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status