MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC VÀ VẬN DỤNG
VÀO CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã học phần: LSPP
Thông tin chung về học phần
- Tên học phần: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP
LUẬN SỬ HỌC VÀ VẬN DỤNG VÀO CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Tiếng Anh: Basic issues on historical methodology and its application
to the major History of the Communist Party of Vietnam
- Mã số học phần:
Số tín chỉ: 02
- Yêu cầu của học phần: Chuyên đề thuộc học phần bắt buộc
- Số giờ tín chỉ của học phần:30 tiết
Bao gồm:
+ Giảng dạy lý thuyết: 20 tiết
+ Thảo luận:10 tiết
+ Viết tiểu luận: 7 tiết
+ Thi viết: 3 tiết
Mục tiêu của học phần :
+ Kiến thức: Giúp học viên nắm vững lý luận về khoa học lịch sử và
phương pháp nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Kỹ năng: học viên vận dụng thành thạo các phương pháp nghiên cứu
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam trong nghiên cứu và giảng dạy lịch sử dân
tộc nói chung và lịch sử Đảng nói riêng.
+ Tư tưởng: học viên học tập và nghiên cứu học phần một cách nghiêm
túc để có thể vận dụng tốt trong nghiên cứu và giảng dạy.
Tóm tắt nội dung học phần: Khái quát một số vấn đề lý luận sử học:
đối tượng, chức năng, nhiệm vụ của khoa học lịch sử nói chung và khoa học
Không có đối tượng thì không có và không thể có bất cứ khoa học nào vì
không có đối tượng thì không xác định được phải nghiên cứu cái gì. Sau khi
xác định được đối tượng nghiên cứu, mỗi chuyên ngành khoa học còn phải
tìm ra được những phương pháp nghiên cứu thích ứng.
Việc tìm tòi những phương pháp nghiên cứu thích ứng với mỗi khoa
học nhất định, xác định xem những phương pháp đó là những phương pháp
nào, nội dung của mỗi phương pháp là gì, cách áp dụng nó ra sao, phạm vi
áp dụng của nó đến đâu v.v. do lý luận về phương pháp của khoa học này
giải quyết. Lý luận về phương pháp đó chính là phương pháp luận.
Phương pháp nghiên cứu của mỗi khoa học đều phụ thuộc vào bản chất
và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu của khoa học đó, nên muốn tìm ra
được các phương pháp nghiên cứu thích ứng cần phải xuất phát từ bản thân
đối tượng. Nhưng đối tượng nghiên cứu của mỗi khoa học cụ thể chỉ là một
bộ phận nhỏ, một "mảnh” nhỏ của thế giới hiện thực. Bộ phận nhỏ ấy,
"mảnh" nhỏ ấy nằm trong một mối liên hệ qua lại chằng chịt hết sức phức
tạp với các bộ phận khác, với các "mảnh" khác. Vì vậy, để xác định được
hướng đi và cách đi thích ứng, để khỏi bị lạc trong mớ quan hệ chằng chịt
các hiện tượng ấy, để luôn luôn xác định đúngđối tượng nghiên cứu, trước
hết cần dựa vào các nguyên lý thế giới quan.
Là những quan điểm khái quát của con người về thế giới nói chung và
về vị trí của con người trong thế giới ấy, các nguyên lý thế giới quan có tác
dụng định hướng cho người nghiên cứu, không những định hướng trong quá
2
Bách khoa triết học của Liên Xô, t.3, tr.420..
trình tìm ra phương pháp mà còn định hướng ngay cả trong quá trình vận
dụng phương pháp.
Xuất phát từ những nguyên lý thế giới quan nhất định, những nguyên
nguyên lý chung về các cách xem xét, nghiên cứu sự vật, là các nguyên tắc
chung về sự vận dụng các phương pháp, về việc sử dụng các tài liệu, sự kiện
v.v. trong một ngành khoa học nhất định. Những nguyên lý và nguyên tắc
chung này xuất phát từ những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Chúng
không phải là những nguyên lý thế giới quan nhưng cũng không trực tiếp
nằm trong nội dung của các phương pháp. Các nguyên lý thế giới quan cũng
như các nguyên lý và nguyên tắc chung trên đây mới chỉ là những căn cứ
những cơ sở cho các phương pháp và cho việc vận dụng các phương pháp
trong một ngành khoa học nhất định. Để có thể thực sự sử dụng được các
phương pháp ấy còn cần vạch rõ nội dung cụ thể của chúng, vạch rõ cách áp
dụng, phạm vi áp dụng và mối quan hệ qua lại giữa chúng v.v.. Tóm lại, cần
có lý luận trực tiếp về bản thân các phương pháp nữa.
Như vậy,phương pháp luận là lý luận về phương pháp. Đó là một hệ
thống lý luận chặt chẽ với những loại nguyên lý nhất định gắn bó hữu cơ với
nhau:các nguyên lý thế giới quan gắn liền với bản chất của đối tượng nghiên
cứu;các nguyên lý chung về các cách xem xét, nghiên cứu sự vật, các
nguyên tắc chung về việc vận dụng các phương pháp, về sự sử dụng tài liệu,
sự kiện... trong một ngành khoa học nhất định; các nguyên lý và nguyên tắc
chung này gắn liền với đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Tất cả các bộ
phận này gắn bó mật thiết với nhau tạo nên một hệ thống lý luận chặt chẽ,
thống nhất và là một thành phần không thể thiếu được của bất cứ bộ môn
khoa học nào.
Vì vậy, phương pháp luận không phải là một tập hợp lý luận tuỳ tiện,
càng không phải chỉ là một tập hợp đơn thuần các phương pháp được dùng
trong một ngành khoa học nào đấy, nhưng đồng thời nó cũng không phải là
một khoa học riêng biệt đứng độc lập như các khoa học khác.
Phương pháp luận là một bộ phận không thể thiếu được của mỗi bộ
môn khoa học, là học thuyết về các phương pháp. Chính vì thế, phương pháp
Vì phương pháp, về thực chất, là lý luận đã được kiểm nghiệm và được
thể hiện ra bằng hệ thống những quy tắc và trình tự các biện pháp nhất định,
trong khi đó phương pháp luận ngoài lý luận về bản thân phương pháp lại
còn bao gồm những nguyên lý thế giới quan và những nguyên tắc chung về
các cách xem xét, nghiên cứu sự vật nên việc sử dụng phương pháp bao giờ
cũng phải đưa vào phương pháp luận.
Phương pháp là công cụ ở trong tay nhà nghiên cứu, còn phương pháp
luận thông qua nhà nghiên cứu mà điều khiển công cụ ấy. Chính vì thế,
trong mối quan hệ qua lại giữa phương pháp luận và phương pháp, phương
pháp luận đóng vai trò chỉ đạo, chi phối đối với phương pháp. Phương pháp
luận trực tiếp ảnh hưởng đến việc lựa chọn đối tượng và phương pháp
nghiên cứu, đến cách chọn lọc tài liệu ban đầu, đến việc phân định cái chủ
quan và cái khách quan trong các hiện tượng, đến phương thức kết hợp các
phương pháp nghiên cứu v.v.. Tóm lại, nó trực tiếp chi phối việc lựa chọn và
vận dụng các phương pháp. Bản thân các phương pháp có thể được sử dụng
một cách có hiệu quả với điều kiện là người nghiên cứu phải đứng trên lập
trường đúng đắn, có phương pháp luận đúng đắn.
Trong phương pháp luận, các nguyên lý thế giới quan được vận dụng
với tư cách là những nguyên lý hướng dẫn cho việc vận dụng các phương
pháp, cho việc xác định các con đường nghiên cứu. Với tư cách là những
nguyên lý chung, các nguyên lý thế giới quan có thể chỉ ra về đại thể phương
hướng giải quyết các vấn đề trước khi các vấn đề này được giải quyết cụ thể
bằng những phương tiện cụ thể của một ngành khoa học nhất định.
Cho nên chỉ có thể hiểu luận điểm nói rằng phương pháp luận thực
chất là sự vận dụng các nguyên lý thế giới quan vào trong hoạt động nhận
thức và cải tạo thực tiễn theo nghĩa đó chứ không thể theo nghĩa vận dụng
chúng như một công cụ. Khi đã được vận dụng như một công cụ thì chúng
đã biến thành phương pháp.
pháp luận; mặt khác triết học nghiên cứu và xây dựng căn cứ lý luận cho các
loại phương pháp nhận thức - các phương pháp triết học chung nhất cũng
như các phương pháp khoa học cụ thể.Triết học Mác - Lênin đang đóng vai
trò là phương pháp luận phổ biến, đồng thời là phương pháp luận phổ biến
duy nhất đúng đắn của khoa học hiện đại vì nó được xây dựng và được khái
quát hoá lên từ những thành tựu của khoa học và của thực tiễn. Triết học
Mác - Lêninvạch ra những quy luật phát triển chung nhất của thế giới, và do
đó,vũ trang cho con người phương pháp đúng đắn nhất để nhận thức và cải
tạo hiện thực.
Tuy nhiên, phải nhận thức rõ rằng,không thể đồng nhất với triết học nói
chung, dù triết học là cơ sở lý luận của phương pháp luận khoa học của các
giai cấp, các thời đại. Đối với khoa học hiện nay, triết học Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở phương pháp luận. Song, phương phápluậnkhoa
học bao gồm không chỉ các cơ sở lý luận thuộc về triết học mà còn có những
vấn đề về nhận thức, về lôgíc học, và những vấn đề không nằm trong phạm
vi của triết học, nó còn liên quan đến nội dung của từng khoa học cụ thể.
1.1.2. Phương pháp luận sử học mác xít
Ngay trong tác phẩm“Hệ tư tưởng Đức”, Mác và Ăngghen đã trình bày
một cách hệ thống quan điểm duy vật lịch sử của mình. Chủ nghĩa duy vật
lịch sử khẳng định rằng, lịch sử không phải do một cá nhân, một lực lượng
siêu nhiên nào sáng tạo, mà lànhững hoạt động của con người theo đuổi mục
đích của mình. Sự phát triển ấy trải qua các hình thái kinh tế xã hội khác
nhau, kế tiếp trong lịch sử một cách hợp quy luật, theo tác động của quần
chúng nhân dân- nhân tố quyết định của sự phát triển của xã hội. Nhân tố
tích cực nhất đối với với sự phát triển lịch sử xã hội là lưc lượng sản xuất và
trong xã hội có giai cấp, đấu tranh giai cấp còn là động lực phát triển lịch sử.
Quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin đã cho chúng ta
kim chỉ nam để tìm ra những quy luật trong tình trạng rối rắm và hổn độn vẻ
sau:
-Đặc trưng của quá trình phản ánh hiện thực trong lịch sử.
-Bản chất của khái niệm lịch sử, đặc trưng của việc hình thành các khái niệm.
-Các phạm trù triết học, kinh tế học và các khoa học khác có liên quan
được sử dụng trong việc nghiên cứu lịch sử.
-Phép biện chứng của cái chung, cái riêng trong nhận thức lịch sử.
-Những nguyên tắc lý luận của việc lựa chọn, phân tích, đánh giá các
nguồn tư liệu lịch sử.
-Những cơ sở khoa học, những nguyên tắc tiêu chuẩn của việc phân kỳ
lịch sử (các vấn đề về hinh thái kinh tế xã hội, thời đại, thời kỳ...)
-Tương quan giữa khách thể và chủ thể trong quá trình lịch sử.
-Tính Đảng và tính khách quan trong sử học.
-Mối tương quan giữa việc nghiên cứu xã hội , xã hội học và lịch sử,
nhận thức luận mácxít và khoa học lịch sử.
- Mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, mối tương quan giữa các cuộc
cách mạng xã hội hiện nay và quá trình lịch sử.
5
Những vấn đề về phương pháp luận nghiên cứu lịch sử trong các tác phẩm của V.I. Lênin từ sau
Tháng Mười. Tạp chí Những vấn đề lịch sử, số 6, 1963.
Trong việc nghiên cứu lịch sử, phương pháp luận sử học mácxítlêninnít có vai trò to lớn trong việc hướng dẫn nghiên cứu lịch sử (nội dung
khoa học và phương pháp nghiên cứu) cũng như phương pháp dạy học lịch
sử. Không nắm được phương pháp luận sử học, các nhà nghiên cứu lịch sử
mất phương hướng hoạt động, không có khả năng giải quyết những vấn đề
lịch sử đặt ra.
Vì vậy, có thể nói rằng, đối với người làm công tác sử học, những vấn
đề phương pháp luận là những vấn đề rất quan trọng. Nó đáp ứng yêu cầu
quan niệm về đối tượng nghiên cứu.
Quan niệm của sử gia thời cổ đại, phong kiến và tư bản về đối tượng
của sử học
Trong xã hội chiến hữu nô lệ, các sự kiện, hiện tượng được nghiên cứu
của con người thời cổ đại đều phụ thuộc vào quan niệm nhận thức của giai
cấp thống trị (chủ nô), được thể hiện trong các loại biên niên sử, tiểu sử, tự
truyện, biện luận lịch sử … trung tâm nghiên cứu của sử học thời cổ đại là
đời sống chính trịcủa giai cấp chủ nô. Các tài liệu về tình hình đời sống của
giai cấp nô lệ, nông nô rất hiếm có trong thời kỳ lịch sử này.
Trong xã hội phong kiến,sử họcxem hiện tượng lịch sử là kết quả sự
can thiệp sức mạnh của Trời vào đời sống cong người: quá trình lịch sử do ý
Trời định đoạt. Theo thuyết « thiên mệnh » này, đối tượng của sử học là vua
chúa - những kẻ “con trời”- vua quan phong kiến. Các nội dung chủ yếu
trong các biên niên sử thời trung đại là việc ghi chép về đời sống của các vua
chúa, các tầng lớp trên của giai cấp phong kiến, về cuộc đấu võ của kị sĩ,
cuộc tranh giành của phong kiến,… Đối tượng nghiên cứu của sử học phong
1
C. Mác Ph. Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1962,tr.304
kiến chỉ hạn chế trong phạm vi những sự việc xảy ra trong đời sống chính trị, chiến
tranh, bang giao, việc thay đổi triều đại...
Thời Phục hưng nước Pháp, sử học của giai cấp tư sản lúc này đã quan niệm
được “đối tượng đặc biệt của lịch sử là con người và những sự vật quan hệ đến con
người”. Makiavenli đã đưa cái nhìn thế tụcvề khoa học vào lịch sử, tìm cách giải
thích lịch sử ở bản thân hoạt động của con người; Mabiông (thế kỉ XVII) tìm cách
nâng lịch sử thành một khoa học (về tính chân thực và đáng tin của sử liệu ). Bên
cạnh việc lấy các hoạt động chính trịcủa loài người trong lịch sử làm đối tượng
nghiên cứu, các nhà nghiên cứu lịch sử còn mở rộng ra các lĩnh vực kinh tế, văn
kinh tế”,… Họ ra sức tuyên truyền và chứng minh cho cái gọi là “hình thái tiền tư
bản chủ nghĩa”, “chủ nghĩa tư bản vĩnh cửu”. Và xem đó là những đối tượng thực
sự của sử học, còn chủ nghĩa cộng sản, theo họ chẳng qua cũng là chủ nghĩa tư bản,
chỉ có điều “thủ đoạn sản xuất là do chiếm hữu xã hội” mà thôi.Những quan niệm
trênnhằm phủ nhận các lí luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về quy luật xã hội,
về đấu tranh giai cấp, về vai trò của quần chúng trong lịch sử.
Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đối tượng của sử học
Cuộc cách mạng trong khoa học lịch sử thực sự được bắt đầu khiMác
và Ăngghen đã hoàn thành quan niệm duy vật về lịch sử. Bởi vì “việc phát
hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử, hay nói đúng hơn, sự áp dụng và mở
rộng chủ nghĩa duy vật một cách triệt để vào lĩnh vực những hiện tượng xã
hội đã loại bỏ được hai khuyết điểm cơ bản của những lí luận lịch sử trước
kia.
Một là, những lí luận lịch sử này giỏi lắm thì cũng chỉ nhìn đến động cơ
tư tưởng trong hoạt động lịch sử của người ta, chứ không tìm xem cái gì sinh
ra trong động cơ ấy, không nắm lấy những quy luật khách quan chi phối sự
phát triển của hệ thống quan hệ xã hội và không thấy rằng trình độ phát triển
của sản xuất vật chất là nguồn gốc của những quan hệ ấy.
Hai là,những lí luận trước kia đã bỏ quên chính ngay hoạt động của
quần chúng nhân dân, còn chủ nghĩa duy vật lịch sử thì lần đầu tiên đã giúp
chúng ta có thể nghiên cứu với sự chính xác của khoa học tự nhiên, những
điều kiện xã hội của đời sống quần chúng và những biến đổi của điều kiện
ấy”6.
Đó là quan niệm:lịch sử xã hội bắt đầu khi con người và tập đoàn người
đầu tiên xuất hiện trên quả đất và cũng từ đó lịch sử xã hội là lịch sử con
người. Nội dung của lịch sử xã hội là hoạt động của con người theo đuổi một
mục đích nhất định. Con người là chủ thể của lịch sử. Con người tạo ra mọi
giá trị vật chất và tinh thần, đấu tranh chinh phục và cải tạo thiên nhiên, đấu
những quy luật khách quan đó vào lợi ích của loài người một cách thích hợp
nhất. Cho nên, khoa học lịch sử, mặc dầu đối tượng của nó là những hiện
tượng về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội rất phức tạp, nhưng một khi đã
trở thành một khoa học thì cũng giống như những khoa học khác, cũng có
thể và cần phải phát hiện và sử dụng quy luật phát triển của xã hội vào thực
tế.
Khoa học lịch sử cũng như các bộ môn khoa học xã hội khác đều
nghiên cứu một khách thể chung là xã hội loài người. Nếu đối tượng của mỗi
một bộ môn khoa học xã hội là một mặt cụ thể riêng rẽ nào đấy của đời sống
xã hội, thì đối tượng của khoa học lịch sử là quá trình phát triển xã hội nói
chung, là toàn bộ những hiện tượng của đời sống xã hội, là tất cả các mặt
của đời sống xã hội trong mối liên hệ và tác động lẫn nhau của chúng. Cần
phải xác định rõ đối tượng cụ thể của các chuyên ngành chuyên ngành khoa
học nghiên cứu về quá khứ của xã hội loài người; ngoài lịch sử dân tộc và
thế giới còn có lịch sử Đảng, dân tộc học, khảo cổ học và các ngành hỗ trợ.
Từ quan niệm mác xít - lêninnít về đối tượng sử học như trên, chúng ta tiếp tục
cuộc đấu tranh phê phán những quan điểm sai lầm, phản động về đối tượng sử học
Việt Nam của sử gia tư sản thời thuộc Pháp, của sử gia đế quốcvà tay sai thời Mĩ nguỵ thống trị ở miền Nam (1954 - 1975) và những kẻ đang tiếp tục xuyên tạc lịch
sử để chống cách mạng Việt Nam, chống chủ nghĩa Mác - Lênin và hoà bình, tiến
bộ thế giới. Ngày nay, trong nghiên cứu lịch sử hiện đại, cuộc đấu tranh cho hoà
bình, tiến bộ và văn minh của nhân loại, sự phát triển của khoa học công nghệ, văn
học nghệ thuật, sựvươn lên mạnh mẽ của các nước độc lập dân tộc, công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, những vấn đề về đổi mới, về giai cấp công
nhân,… là những đề tài quan trọng và cấp thiết của giới sử học Việt Nam.
Nhiều nhà sử học tư sản đang điên cuồng chống chủ nghĩa cộng sản,
chống chủ nghĩa Mác- Lênin- cơ sở của sử học mácxít - lêninít, đặc biệt các
học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội, về đấu tranh giai cấp...Học ra sức
xuyên tạc lịch sử để phủ nhận sự tồn tại của các nước xã hội chủ nghĩa, “tiên
đánh giá cũ. Tuy vậy, những biểu hiện mới đó vẫn không ngăn cản được
“xuống cấp” đáng buồn của môn lịch sử, trước hết là trong lĩnh vực giáo dục
trong nhà trường”
1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của khoa học lịch sử
Bất cứ khoa học nào muốn tồn tại và phát triển đều phải phục vụ lợi ích
của con người của xã hội. Trong lịch sử thế giới, nhiều nhà chính trịđồng
thời cũng là nhà sử học và hầu hết các nhà chính trịđều sử dụng tri thức lịch
sử để “kinh bang tế thế”.Tri thức lịch sử có vai trò quan trọng, vừa là
phương tiện bồi dưỡng kiến thức, vừa có tác dụng giáo dục trí tuệ và tình
cảm. Tri thức lịch sử là một trong những bộ phận quan trọng nhất của nền
văn hoá nhân loại, không hiểu biết lịch sử thì không thể xem là con người có
văn hoá toàn diện, sâu sắc và không thểxem việc giáo dục con người là hoàn
thiện và đầy đủ.
1
Lịch sử quá khứ gắn với hiện tại; kinh nghiệm, bài học của quá khứ rất
quý báu và bổ ích cho cuộc sống ngày nay và mai sau. Song phải biết sử
dụng những hiểu biếtvề quá khứ cho thực tiễn sinh động, phong phú và đa
dạng. Muốn bắt quá khứ trả lời và góp phần giải quyết những vấn đề hiện
tại, trước hết phải nhận thức rõ chức năng và nhiệm vụ của khoa học lịch sử.
Chức năng của khoa học lịch sử
Lịch sử là một khoa học có sứ mệnh thiêng liêng là làm cho con người
biết quá khứ, trên cơ sở đó hiểu sâu sắc hiện tại, tăng sức mạnh cho hiện tại
và tiên đoán được sự phát triển của tương lai, để từ đó có hành động đúng
phù hợp với quy luật. Do vậy, khoa học lịch sử có những chức năng cụ thể :
- Chức năng nhận thức: hiểu biết quá khứ, phản ánh khoa học hiện thực
khách quan, nhận thức quy luật.
- Chức năng giáo dục: nêu gương, giáo dục đạo đức, lý tưởng cách
thắng lợi tất yếu của tương lai. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “…Chúng ta
nên nhìn lại những đoạn đường đã qua, rút ra những kinh nghiệm quý báu và
ấn định đúng đắn những nhiệm vụ cách mạng hiện nay và sắp tới để giành
lấy những thắng lợi to lớn hơn nữa, vẻ vang hơn nữa”8
- Nhiệm vụ của khoa học lịch sử còn cung cấp tri thức lịch sử góp phần
giáo dụcvà củng cố cho nhân dân niềm tin vào chính nghĩa, vào chân lí,
niềm tin vào khả năng sáng tạo vôtận của quần chúng nhân dân; góp phần
giáo dục lòng yêu nước, tinh thần quốc tế trong sáng, yêu hòa bình, yêu lao
động và xây dựng, rèn luyện bản lĩnhđấu tranhvới những tiêu cực, cái xấu…
Trong thời đại ngày nay, khi khoa học lịch sử được vũ trang bằng lí
luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì sử học càng có ý
nghĩa quan trọng trong việc giáo dục đối với quần chúng. Nhân dân lao động
8
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, Sđd, tr 7
ngày càng tham gia đông đảo và có ý thức rõ rệt về sự nghiệp cách mạng,
cần có nhu cầu hiểu biết về lịch sử. Việc phổ biến kiến thức lịch sử trong
đông đảo quần chúng là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của những người làm
công tác sử học. Do đó, đồi hỏi những nhà sử học phải nâng cao trách nhiệm
của mình, góp phầnvũ trang thế giới quan khoa học, nâng cao trình độ văn
hoá chung của nhân dân qua việc phổ biến, giảng dạy các tri thức lịch sử.
Đối tượng nghiên cứu của sử học là những sự kiện của quá khứ, là
nghiên cứu quá khứ, nghiên cứu toàn bộ sinh hoạt xã hội trong quá trình
phát triển của nó với lịch sử sản xuất kinh tế, đấu tranh giai cấp, lịch sử
chính trị. Từ đó làm rõ chức năng, nhiệm vụ của sử học. Chức năng chủ yếu
là nhận thức và cải tạo xã hội, giáo dục con người. Nhiệm vụ của sử học là
khôi phục sự thật lịch sử, làm sáng tỏ quy luật lịch sử, tổng kết kinh nghiệm
lịch sử và tổng kết lý luận từ thực tiễn lịch sử.
luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm. Trái
lại, chúng ta tin rằng lí luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà
những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu
họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống.”9
Tính khoa học là sự phản ánh kết quả nghiên cứu sự vật, hiện tượng
phải đạt đến chân lí khách quan. Khoa học không phải là sự minh hoạ, nêu
một cách công thức lí tưởng chính trị mà phải dựa vào kết quả nghiên cứu
khoa học, đi tới phản ánh sự tồn tại khách quan của sự vật, hiện tượng và rút
ra những khái quát lí luận và tìm ra chân lí. Tính đảng dựa vào hệ tư tưởng,
lí tưởng, mục đích của một giai cấp trong xã hội, đối với những nhà khoa
học mác xít, lí tưởng cộng sản chủ nghĩa là cơ sở tư tưởng cho nghiên cứu
khoa học. Vì vậy, phải chú trọng đến tính khoa học để có cơ sở vững chắc
9
V. I. Lênin, Toàn tập, T4, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, tr 232
cho việc nhận thức và thực hiện lí tưởng cộng sản chủ nghĩa, đồng thời phải
nắm vững tính đảng thì mới đạt đến khoa học thực sự.
Để đạt được tính khoa học trong quá trình nghiên cứu, phải có ba yếu
tố: sự kiện là cơ sở phản ánh hiện thực khách quan; kết luận khoa học được
rút ra từ nghiên cứu sự kiện cụ thể và cuối cùng là việc vận dụng kết quả
nghiên cứu phục vụ cho việc đấu tranh thực hiện lí tưởng của giai cấp mình.
Như vậy, nhất định phải dựa trên cơ sở một hệ thống phương pháp luận
đúng đắn, trong đó triết học Mác - Lênin không chỉ thể hiện lí tưởng, ngọn
cờ chiến đấu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà còn là cơ sở
phương pháp luận cho các khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội, trong đó có
khoa học lịch sử.
1.3.1.2.Tính đảng trong khoa học lịch sử
Trong xã hội có giai cấp, bất cứ nội dung của một khoa học nào đều