PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
uế
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH, HĐH với mục tiêu đến năm 2020
Việt Nam sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp, theo hướng hiện đại hội nhập với
tế
H
cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH và hội
nhập quốc tế là con người, là nguồn nhân lực Việt Nam được phát triển cả về số
lượng, chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Vì vậy, phải chăm lo
đến nguồn lực con người, chuẩn bị lực lượng lao động có những phẩm chất và năng
h
lực đáp ứng đòi hỏi của đất nước.
in
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của giáo dục trong sự nghiệp phát
cK
triển kinh tế - xã hội thời kỳ CNH, HĐH trong những năm qua chi ngân sách nhà
nước cho hoạt động giáo dục đã không ngừng tăng lên góp phần quan trọng vào quá
trình phát triển giáo dục. Với yêu cầu vừa phát triển quy mô, vừa đảm bảo chất lượng
dựa trên kinh nghiệm; Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ
1
máy và tài chính trong các cơ sở giáo dục công lập nhìn chung còn hạn chế về tác
dụng. Với nguồn ngân sách cấp hàng năm còn hạn hẹp, các trường không thể tiết
kiệm để thu nhập tăng thêm cho giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất nhằm nâng
uế
cao chất lượng giáo dục.
Xuất phát từ những yêu cầu, trên tác giả chọn vấn đề: “Hoàn thiện công tác
tế
H
quản lý tài chính ở các trường trung học phổ thông công lập trên trên địa bàn Thành
Phố Huế” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ kinh tế với mong muốn tìm hiểu
thực trạng công tác quản lý tài chính tại các trường THPT công lập và đề ra một số
giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại các trường THPT công lập
h
trên địa bàn thành phố Huế, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước nhằm
thiết bị…
cK
Tr
trường THPT trên địa bàn Thành Phố Huế giai đoạn 2009-2012 nhằm chỉ ra những
kết quả đã đạt được, những mặt còn tồn tại và nguyên nhân của chúng.
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý
tài chính tại các trường THPT trên địa bàn Thành Phố Huế nhằm đáp ứng ngày càng
tốt hơn yêu cầu phát triển của các trường THPT trong thời gian tới.
2
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp
với những nguyên lý cơ bản của khoa học kinh tế, nghiên cứu những vấn đề lý
luận liên quan đến công tác quản lý tài chính trong các trường THPT. Đồng thời
uế
vận dụng các phương pháp: phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh
tế
H
và chứng minh; phương pháp điều tra, thu thập thông tin; phương pháp chuyên
gia, tổng kết kinh nghiệm để phân tích thực tiễn công tác quản lý tài chính tại
các trường THPT trên địa bàn Thành Phố Huế
Đề tài nghiên cứu được thực hiện theo các bước sau:
- Số liệu từ website, phòng kế hoạch tài chính Sở Giáo dục và Đào tạo Thừa
Thiên Huế để đánh giá tình hình cơ bản của các trường THPT. Số liệu thống kê từ
ườ
phòng Kế hoạch Tài chính và một số đơn vị liên quan để đánh giá thực trạng công
quản lý tài chính tại các trường THPT trên địa bàn Thành Phố Huế.
Tr
* Số liệu sơ cấp
- Thông tin thu được từ phỏng vấn (bảng hỏi điều tra) tại các trường THPT
trên địa bàn Thành Phố.
- Thông qua các đợt thẩm tra quyết toán tài chính, tự kiểm tra tài chính hàng năm,
phỏng vấn (bảng hỏi điều tra) cán bộ phòng Tài chính-Kế hoạch, tổ Tài vụ và cán bộ
lãnh đạo các trường THPT về thực trạng công tác quản lý tài chính.
3
- Thứ tư, trên cơ sở các thông tin đã thu thập, tiến hành tổng hợp, phân tích
các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại và
nguyên nhân hạn chế của công tác quản lý tài chính tại các trường THPT trên địa
uế
bàn Thành Phố Huế từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài
chính ở các trường THPT giai đoạn 2013-2015.
bản nhằm hoàn thiện công tác này giai đoạn 2013-2015.
5. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, mục lục, danh mục tài liệu tham
khảo, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các biểu bảng, luận văn gồm 3 chương:
ng
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản lý tài chính
ườ
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính ở các trường THPT trên địa
bàn thành phố Huế
Tr
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các trường THPT
công lập trên địa bàn thành phố Huế.
4
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
uế
Tạo ban hành.
-Trường THPT ngoài công lập (trường tư thục) là những trường do tư nhân đầu
tư vốn thành lập. Hoạt động theo quy chế, quy định của các cấp có thẩm quyền.
Đ
ại
Những trường ngoài công lập được thành lập là để huy động tốt các nguồn lực xã hội
đóng góp cho phát triển GDĐT theo chủ trương xã hội hóa của Đảng và nhà nước.
Trường THPT công lập có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây[22,19-20]:
ng
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu,
chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ trưởng
ườ
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo
Tr
dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục.
- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật.
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý học
sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công.
và được cấu trúc theo bậc, cấp, ngành phương thức giảng dạy và quản lý. Trong hệ
cK
thống giáo dục quốc dân hiện đại, các bậc học được phân ngành: Giáo dục tiền học
đường, giáo dục phổ thông, giáo dục trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, giáo
dục đại học và sau đại học. Trong giáo dục phổ thông có bậc tiểu học, bậc trung
họ
học. Bậc trung học có cấp THCS và cấp THPT.
Giáo dục cấp trung học phổ thông dành cho trẻ em đã hoàn thành và tốt nghiệp
Đ
ại
THCS, ở độ tuổi 15, được thực hiện trong 3 năm từ lớp 10 đến lớp 12, tương ứng
với cấp học giáo dục trung học phổ thông là các trường trung học phổ thông.
Theo cách hiểu chung nhất thì giáo dục trung học phổ thông là một bộ phận
ng
cấu thành quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò hình thành nhân
cách cho thế hệ trẻ, trang bị những tri thức và kỹ năng phổ thông cơ bản nhất về
ườ
khoa học, văn hóa, nghệ thuật hay đi vào cuộc sống lao động sản xuất, thực hiện
nghĩa vụ công dân.
giáo dục quốc dân.
h
1.1.3. Đầu tư và tài chính cho phát triển giáo dục - đào tạo
in
* Đặc điểm đầu tư vào giáo dục.
cK
Một là, đầu tư giáo dục là đầu tư phát triển con người
Ở một mức độ khái quát nhất, mục đích phát triển của bất kỳ quốc gia nào
cũng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Con người trở thành
họ
trung tâm của sự phát triển, là nhân tố chi phối quyết định chính sách của mỗi
quốc gia.
Đ
ại
Chiến lược phát triển của mỗi quốc gia cần hướng trọng tâm vào giáo dục, coi
đây là nhân tố chính thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, ngược lại sự phát triển kinh
tế - xã hội nhằm đảm bảo nâng cao cuộc sống của con người. Như vậy, có thể nói,
ng
H
thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì tụt hậu so với
sự phát triển của thế giới là điều khó tránh khỏi.
Nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội Đảng và Nhà nước ta đã sớm có quan điểm coi “Giáo dục là quốc sách hàng
h
đầu” và “Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng
in
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy
nhanh và bền vững”.
cK
nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
Ba là, đầu tư phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội
họ
Giáo dục là quyền được thụ hưởng của con người, nhưng mỗi người đều trách
nhiệm xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục chung của quốc gia. Giáo dục
ngày nay không còn là khu vực chỉ có một chủ thể cung cấp duy nhất là Nhà nước.
Đ
ại
uế
mức độ nhất định), trong đó Nhà nước với vai trò đặc biệt của mình điều tiết và
định hướng sự phát triển của cả hệ thống giáo dục theo chiến lược phát triển kinh
* Tài chính đối với sự phát triển của giáo dục
tế
H
tế - xã hội đã đề ra.
Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong
xã hội. Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các
h
nguồn lực tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp
in
ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội.
cK
Tài chính có tác dụng kìm hãm hay thúc đẩy sự phát triển của một ngành hay
một lĩnh vực. Đối với giáo dục, tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng, tài chính tác
động đến quy mô, mục tiêu và chất lượng sự chuẩn hóa,hiện đại hóa, đồng bộ hóa
chính không đáp ứng đủ nhu cầu của giáo dục, nền giáo dục thường lạc hậu, chất
9
lượng thấp hơn một cách tương đối do với những nước có nguồn tài chính dồi dào.
Điều này đúng cả về lý thuyết và thực tiễn. Chính vì lẽ đó, hầu hết các quốc gia
trên thế giới hiện nay ngoài việc ngày càng dành nhiều nguồn lực hơn cho giáo
uế
dục còn tạo môi trường thuận lợi để huy động nguồn lực từ các chủ thể khác ở
trong nước cũng như ngoài nước.
tế
H
Thứ hai, chính sách tài chính góp phần điều phối hoạt động giáo dục
Giáo dục được xem là một bộ phận của kết cấu hạ tầng xã hội, có ảnh hưởng
lớn đến sự phát triển của một quốc gia. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư có hướng
đích và phải đạt được những yêu cầu cụ thể nào đó. Ở mỗi giai đoạn phát triển
h
khác nhau, mục đích, yêu cầu đặt ra cho giáo dục không giống nhau.
in
Với chức năng phân phối vốn có của mình, tài chính phân bổ hợp lý các nguồn
Tr
Công bằng trong giáo dục thường được thực hiện ở các cấp học thấp, nơi mà
hầu hết nhân dân đều có khả năng tiếp cận; ở nước ta giáo dục tiểu học được phổ
cập, do đó không thu học phí. Ở nhiều nước khác trên thế giới: giáo dục tiểu học và
giáo dục trung học cơ sở là bắt buộc, nhà nước đảm bảo chi tiêu 100%.
Thứ ba, tài chính kiểm tra, giám sát hoạt động giáo dục, hướng hoạt động giáo
dục đến những mục tiêu đã định một cách hiệu quả nhất.
10
Kiểm tra, giám sát tài chính là kiểm tra, giám sát việc huy động và sử dụng
tiền cho giáo dục. Người ta có thể tiến hành kiểm tra, giám sát cơ sở giáo dục một
cách thường xuyên, liên tục và trên một bình diện rộng. Thông qua công tác kiểm
uế
tra, giám sát, có thể nắm bắt nhanh chóng tình hình hoạt động của cơ sở giáo dục.
Giáo dục là vấn đề lớn của quốc gia, cũng là vấn đề nhạy cảm được xã hội
tế
H
quan tâm. Những biểu hiện sai lệch trong đầu tư phát triển giáo dục để lại hậu quả
nghiêm trọng về kinh tế - xã hội mà công tác khắc phục tiêu tốn nhiều thời gian và
tiền của. Kiểm tra, giám sát tài chính, với những đặc tính ưu việt của nó, giúp các cơ
sở giáo dục đề xuất những giải pháp tình huống, cũng như chiến lược nhằm sử dụng
giáo dục phải bao gồm tổng thể nhiều nguồn khác nhau như Luật giáo dục (2005)
đã khẳng định:
ườ
"Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển"[ 22, 4]. Nhà nước ưu tiên đầu tư
Tr
giáo dục, khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước
ngoài đầu tư cho giáo dục. NSNN phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực
đầu tư cho giáo dục.
Với quan điểm trên, nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục trong giai đoạn hiện
nay bao gồm:
11
- Nguồn ngân sách nhà nước
Giáo dục luôn là yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi
quốc gia. Do đó hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đặt giáo dục ở vị trí hàng đầu
uế
trong các ưu tiên, phát triển kinh tế xã hội. Đảng và Nhà nước ta đã coi giáo dục là
quốc sách hàng đầu; vì vậy việc đầu tư cho giáo dục cũng được ưu tiên hàng đầu.
tế
hưởng giáo dục của mọi người dân, ưu tiên cho con em gia đình chính sách, gia
đình có hoàn cảnh khó khăn…
+ Giải quyết những vấn đề phát triển của hệ thống giáo dục - đào tạo ở tầng
lớp quốc gia như thực hiện chương trình mục tiêu chương trình quốc gia như xóa
ng
nạn mù chữ, phổ cập giáo dục… và những vấn đề ở tầm khu vực mà các thành phần
ườ
kinh tế khác chưa đủ khả năng thực hiện hoặc chưa quan tâm đầu tư.
- Nguồn ngoài ngân sách nhà nước.
Tr
Trong điều kiện NSNN có hạn, nhu cầu chi tiêu cho các lĩnh vực kinh tế, xã
hội, an ninh, quốc phòng hàng năm ngày càng lớn thì việc khuyến khích huy động
các nguồn ngoài NSNN cho sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục trung học
phổ thông nói riêng đang trở thành vấn đề cấp thiết. Mặt khác, giáo dục là sự nghiệp
của toàn dân do dân và vì dân. Do đó, quan tâm đến giáo dục là trách nhiệm của
toàn xã hội với định hướng phát triển giáo dục, thực hiện xã hội hóa giáo dục, đa
12
dạng hóa các hình thức huy động vốn cho giáo dục cho phép huy động mọi nguồn
lực trong xã hội cho phát triển giáo dục nhằm chia sẻ bớt gánh nặng đối với Nhà
họ
dụng. Cơ chế đầu tư cho nghiên cứu khoa học nói chung còn bị phân tán, hiệu quả
Đ
ại
- Nguồn đầu tư đóng góp tài trợ của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
Để tăng cường nguồn đầu tư cho phát triển giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại
hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện
ng
để các tổ chức, các nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục cần thiết phải tranh
thủ nguồn tài chính vay với lãi suất ưu đãi cho giáo dục từ Ngân hàng thế giới,
ườ
Ngân hàng phát triển Châu Á, các tổ chức quốc tế và các nước.
1.2. Công tác quản lý tài chính trong các trường THPT công lập
Tr
1.2.1. Khái niệm, nguyên tắc và mô hình quản lý tài chính trong các trường
THPT công lập
Quản lý tài chính theo nghĩa rộng được hiểu là việc sử dụng tài chính làm
công cụ quản lý hệ thống xã hội thông qua việc sử dụng những chức năng vốn có
của nó. Quản lý tài chính theo nghĩa hẹp là việc sử dụng các thông tin phản ánh
- Nguyên tắc tập trung dân chủ: là nguyên tắc hàng đầu trong QLTC, thông
qua việc QLTC đối với trường THPT, các khoản thu - chi trong QLTC phải được
công khai, minh bạch, có sự tham gia của cán bộ, công chức trong cơ quan nhằm
họ
đáp ứng mục tiêu chung của đơn vị;
- Nguyên tắc hiệu quả: Hiệu quả trong QLTC được thể hiện khi thực hiện các
Đ
ại
khoản chi tiêu. Hiệu quả kinh tế tiết kiệm và hiệu quả xã hội là hai nội dung quan
trọng cần được xem xét đồng thời khi quyết định chính sách tài chính;
- Nguyên tắc thống nhất: Thống nhất QLTC là việc tuân thủ theo một quy
ng
định chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, quyết toán, xử lý những
vướng mắc trong quá trình thực hiện. Thực hiện nguyên tắc quản lý thống nhất sẽ
ườ
đảm bảo tính bình đẳng, công bằng, đảm bảo hiệu quả và hạn chế những tiêu cực,
Tr
rủi ro khi quyết định các khoản chi tiêu;
được tiến hành hoạt động cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động tăng thu
in
nhập cho cán bộ, viên chức.
cK
Thứ tư, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.
Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, các trường THPT công lập được phân loại
thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:
họ
Một là, đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động thường
xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động)
Đ
ại
Hai là, đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động,
phần còn lại được NSNN cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi
phí hoạt động).
Ba là, đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn
ng
thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm
H
chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
Trong các trường THPT công lập, nguồn tài chính của nhà trường bao gồm
chủ yếu từ nguồn từ NSNN và các nguồn khác đối với nguồn kinh phí do NSNN
h
cấp bao gồm:
in
+ Kinh phí thường xuyên
cK
Đây là khoản chi tiêu công nằm trong tổng thể nguồn tài chính công và không
mang tính bồi hoàn trực tiếp. Việc phân bổ NSNN cho các trường THPT công lập
dựa trên cơ sở Nhà nước giao ổn định trong thời gian 3 năm, mức tăng hàng năm do
họ
Thủ tướng chính phủ quyết định. Ngoài ra căn cứ vào các chương trình mục tiêu,
nhiệm vụ khác mà Nhà nước giao ngân sách.
Đ
ại
+ Kinh phí đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị
Ngoài ra, các cơ sở giáo dục công lập được vay tín dụng ngân hàng hoặc Quỹ
hỗ trợ phát triển để mở rộng và nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập, nhưng phải
tế
H
tự chịu trách nhiệm trả nợ theo quy định của Pháp luật.
Quy trình lập dự toán, điều hành và cấp phát NSNN
Việc lập dự toán ngân sách giáo dục THPT hiện nay được thực hiện quy trình
từ cấp thấp lên cấp cao (trường - Sở Giáo dục và đào tạo). Cụ thể các đơn vị trường
h
tiến hành lập dự toán thu, chi thuộc nhiệm vụ được giao, gửi cơ quan quản lý giáo
in
dục cấp trên trực tiếp, tiếp theo cơ quan quản lý giáo dục cấp trên tổng hợp, xem
cK
xét, điều chỉnh để hoàn thiện, sau đó phối hợp với cơ quan tài chính và cơ quan kế
hoạch - đầu tư cùng cấp dự thảo kế hoạch ngân sách và trình UBND tỉnh phê duyệt.
Trên cơ sở quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ thu, chi ngân
họ
sách cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Sở Tài chính có trách nhiệm
dục) sau khi nhận được dự toán thu, chi ngân sách giáo dục được cơ quan có
thẩm quyền giao tiến hành phân bổ và giao dự toán thu, chi ngân sách cho từng
cơ sở giáo dục trực thuộc.
tế
H
Ngân sách huyện
Phòng
giáo dục
họ
cK
in
h
Các trường trực
thuộc Sở giáo dục
và Đào tạo quản lý
Sở Giáo dục
và Đào tạo
uế
18
Đối với chi trả tiền lương, tiền công cho số cán bộ, giáo viên được cấp có
thẩm quyền giao và đối với các hoạt động dịch vụ (nếu có); hoạt động thu phí, lệ
phí thì tiền lương, tiền công của người lao động, đơn vị tính theo tiền lương cấp bậc,
uế
chức vụ do nhà nước quy định.
Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp
tế
H
khác theo quy định; phần kinh phí tiết kiệm chi, chênh lệch thu lớn hơn chi của hoạt
động dịch vụ (nếu có), đơn vị được sử dụng: Trích lập quỹ phát triển hoạt động sự
nghiệp; trả thu nhập tăng thêm cho người lao động; trích quỹ khen thưởng, Quỹ
phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập theo quy định.
h
1.2.3.2. Về lập, chấp hành và cấp phát kinh phí từ ngân sách Nhà nước
in
- Quản lý quá trình lập dự toán.
cK
+ Đảm bảo việc xây dựng dự toán thu, chi của các trường THPT công lập dựa trên
hệ thống chế độ, chính sách, tiêu chuẩn định mức được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
+ Đảm bảo việc xây dựng dự toán thu, chi của các trường THPT công lập
được thực hiện đúng với trình tự và thời gian quy định.
19
+ Dự toán thu, chi phải bao quát được toàn bộ hoạt động của trường THPT
công lập, phản ánh đầy đủ các khoản thu, chi của trường.
Thực chất dự toán của các trường THPT công lập phản ánh sự phân phối sử
uế
dụng các nguồn lực tài chính để đáp ứng nhiệm vụ hoạt động của trường. Vì vậy
trước khi lập dự toán phải dựa trên các căn cứ sau:
tế
H
+ Dựa vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát
triển giáo dục trong năm kế hoạch; Hệ thống chính sách, chế độ, các định mức, tiêu
chuẩn thu, chi của Nhà nước; Chỉ tiêu về số lượng trường, lớp, biên chế giáo viên,
số lượng giáo viên, số lượng học sinh, sinh viên...; Khả năng bố trí chi thường
h
xuyên ngân sách cho giáo dục đào tạo trên cơ sở cân đối tổng thể chi ngân sách nhà
đã được giao trong dự toán.
+ Phải lập đầy đủ các chứng từ hợp lệ trước khi gửi cơ quan tài chính xin
Tr
chuẩn chi.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước:
+ Phải quy định cụ thể trình tự cấp phát, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ
quan (tài chính, kho bạc, cơ sở giáo dục...). Nghiêm túc điều hành theo dự toán đã
được lập, xoá bỏ cơ chế xin cho, thực hiện nghiêm túc các chỉ tiêu, định mức đã đề
20
ra. Sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các
chỉ tiêu chi trong kế hoạch NSNN trở thành hiện thực.
+ Cơ quan Tài chính phải chủ động đảm bảo kinh phí cho giáo dục - đào
uế
tạo; trong trường hợp nguồn thu không đảm bảo nhu cầu chi phải phối hợp với
cơ quan giáo dục điều chỉnh kịp thời dự toán chi trong phạm vi cho phép.
tế
H
+ Cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước phối hợp kiểm tra tình hình quản lý
và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước ở các đơn vị, cơ sở giáo dục nhằm nâng
cao hiệu quả của đồng vốn ngân sách.
công cộng (Tiền điện, tiền nước), vật tư văn phòng, thông tin tuyên truyền, liên lạc,
hội nghị, công tác phí, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng giảng dạy, sách giáo khoa,
ườ
đồ dùng học tập, thí nghiệm....... Đây là khoản chi rất cần thiết, ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng giáo dục đào tạo. Quản lý tiết kiệm, tránh lãng phí trong chi tiêu các
Tr
khoản chi này sẽ giúp các trường có thêm nguồn kinh phí nâng cao chất lượng dạy
và học.
+ Quản lý các khoản chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa, xây dựng nhỏ
Hàng năm, do nhu cầu hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học,
do sự xuống cấp của các tài sản cố định dùng cho các hoạt động nên phát sinh nhu
21
cầu về kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị của tài sản cố định.
Thuộc nhóm chi này bao gồm các khoản chi như: Chi mua sắm, bổ sung tài sản,
máy móc, chi sửa chữa máy móc, thiết bị, nhà cửa...Quản lý các khoản chi này phải
uế
đáp ứng được các yêu cầu quản lý: đầu tư có trọng điểm, sử dụng đúng mục đích,
thực hiện sửa chữa, xây dựng nhỏ theo đúng các quy định của pháp luật...
tế
H
chi nghiệp vụ chuyên môn, chi tăng cường cơ sở vật chất,cấp bù học phí. Số thu để
lại, nếu chưa chi hết được chuyển sang năm sau sử dụng.
1.2.3.4. Kiểm tra, kiểm soát tài chính
ng
Báo cáo tài chính của các trường THPT công lập chủ yếu phản ánh tình hình
tiếp nhận các nguồn kinh phí và việc sử dụng nguồn kinh phí đó phục vụ cho hoạt
ườ
động của trường học. Báo cáo tài chính hàng năm của các trường là cơ sở để cấp
chủ quản thẩm định và phê duyệt quyết toán tài chính, cơ quan chủ quản và các cơ
Tr
quan chức năng khác có thể thấy rõ toàn bộ các hoạt động của trường học. Từ đó rút
ra những kinh nghiệm cần thiết trong công tác quản lý. Nếu lập dự toán thu, chi là
khâu đầu của hoạt động tài chính trong các trường THPT công lập, thì lập báo cáo
quyết toán và phê duyệt quyết toán tài chính năm là khâu cuối của hoạt động tài
chính trong các trường THPT công lập. Quản lý quá trình quyết toán các khoản chi
phải thực hiện được một số nội dung sau:
22
+ Phải đảm bảo tính chính xác của số liệu quyết toán
Sau khi thực hiện xong công tác khoá sổ cuối năm, số liệu trên sổ sách kế
năm của các đơn vị dự toán trực thuộc và thẩm tra báo cáo quyết toán chi cho giáo
họ
dục đào tạo của ngân sách cấp dưới. Sau đó, tổng hợp thành báo cáo chi ngân sách
địa phương cho giáo dục đào tạo gửi Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp
đồng thời gửi cho cơ quan tài chính cấp trên.
Đ
ại
Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán các cấp và báo cáo quyết toán
ngân sách các cấp chính quyền trước khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê
chuẩn, theo yêu cầu của Luật NSNN phải được cơ quan kiểm toán Nhà nước kiểm
ng
toán xác nhận.
Việc quyết toán tài chính cho giáo dục đào tạo được thực hiện cùng với quyết
ườ
toán ngân sách Nhà nước hàng năm của các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương
theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước hiện hành.
Tr
1.2.4. Sự cần thiết và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính đối
với các trường THPT công lập
được chủ động sử dụng. Cơ chế tài chính cũ với những quy định quá chi tiết và
cK
cứng nhắc đã hạn chế, cản trở sự chủ động của đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ, sử
dụng kinh phí kém hiệu quả và đôi khi phải “làm phép” để qua mặt cơ quan quản
lý, thậm chí sinh ra tiêu cực.
họ
Hai là, cơ chế thị trường đòi hỏi phải xã hội hóa mãnh mẽ lĩnh vực giáo dục đào tạo. Giáo dục - đào tạo không còn là việc riêng của Nhà nước mà là của toàn xã
Đ
ại
hội, của nhiều thành phần kinh tế. Xã hội hóa giáo dục mới có khả năng đáp ứng
được yêu cầu học tập tăng lên nhanh chóng của xã hội và mới có đủ nguồn kinh phí
để đáp ứng yêu cầu đó. Trong cơ chế thị trường và giáo dục - đào tạo được xã hội
hóa, người học mới có nhiều cơ hội chọn nơi học, ngành học, những kiến thức cần
ng
thiết mà công việc, nghề nghiệp đòi hỏi và tất nhiên người học có nghĩa vụ đóng
ườ
góp kinh phí để thực hiện quá trình đào tạo. Cơ sở giáo dục - đào tạo phải được chủ
động sử dụng huy động nguồn kinh phí hợp pháp để hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Ba là, trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, sản phẩm giáo dục - đào tạo
h
khoản thu chi của đơn vị. Tuy nhiên, nhà nước cần có chế độ thanh tra, kiểm tra tài
in
chính một cách khoa học, đảm bảo hoạt động tài chính công khai, minh bạch, đúng
mục đích và sử lý nghiêm minh những vi phạm.
cK
Bốn là, trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, giáo dục - đào tạo cũng
diễn ra sự cạnh tranh. Các cơ sở giáo dục - đào tạo từng bước xây dựng thương hiệu
họ
cho mình. Tuy nhiên, sự cạnh tranh trong giáo dục - đào tạo không phải về giá cả
mà chủ yếu về chất lượng, chính chất lượng giáo dục - đào tạo làm nên thương hiệu
các trường. Ở các thành phố lớn và một số tỉnh hiện nay, việc học sinh đua nhau thi
Đ
ại
vào các trường THPT có uy tín chính là khẳng định thương hiệu các trường đó.
Trong kinh tế thị trường thì thương hiệu là tài sản vô hình, là một yếu tố tạo nên giá
trị hàng hoá. Như vậy cần nghiên cứu để áp dụng chế độ học phí khác nhau, không
ng
nên đặt ra mức thu bình quân như hiện nay.