Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VIẾT THUỶ ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI GIAI ĐOẠN 2005 - 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS. Đỗ Thị Lan
THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
i
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Viết Thuỷ
Học viên cao học khóa 17 - Chuyên ngành: Quản lý đất đai. Niên khóa 2009 - 2011.
Tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên.
Đến nay tôi đã hoàn thành luận văn nghiên cứu cuối khóa học. Tôi xin cam đoan:
- Đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện.
- Số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực.
- Các kết luận khoa học của luận văn chưa từng ai công bố trong các nghiên
cứu khác.
- Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên.
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 08 năm 2011
Nguyễn Viết Thuỷ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT BĐS
: Bất động sản
BTTH
: Bồi thường thiệt hại
CH-TTg
: Chỉ thị thủ tướng
CP
: Chính phủ
D/c
: Di chuyển
DT
: Diện tích
Đất NN
: Đất nông nghiệp
ĐGHC
: Địa giới hành chính
ĐTH
: Đô thị hoá
ĐVHC
: Quản lý nhà nước
QSD
: Quyền sử dụng
TN & MT
: Tài nguyên và Môi trường
TT- BTN&MT
: Thông tư Bộ Tài nguyên và Môi trường
UBND
: Uỷ ban nhân dân
VKT,HM
: Vật kiến trúc, hoa mầu
VPĐKQSD
: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng
X.
: Xã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Lào Cai giai đoạn 2005 - 2010 25
Bảng 4.2. Tỷ trọng ngành sản xuất nông nghiệp thành phố Lào Cai giai đoạn
2005 - 2010 27
Bảng 4.3. Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi thành phố Lào Cai giai đoạn
2005 - 2010 28
Bảng 4.4: Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của Thành phố Lào Cai 34
Bảng 4.5. Tổng hợp các văn bản do thành phố Lào Cai ban hành có liên quan
đến quá trình quản lý và sử dụng đất đai từ năm 2005 đến 2010 37
Bảng 4.6. Kết quả thành lập bản đồ tại thành phố Lào Cai giai đoạn 2005 - 2010 39
Bảng 4.23. Kết quả thu ngân sách Nhà nước về đất đai của thành phố Lào Cai
giai đoạn 2005- 2010 64
Bảng 4.24. Tổng hợp kết quả đấu giá diện tích đất của thành phố Lào Cai trong
giai đoạn 2005 -2010 68
Bảng 4.25. Kết quả thực hiện quyền sử dụng đất tại thành phố Lào Cai từ năm
2005 đến năm 2010 70
Bảng 4.26. Kết quả thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai của hộ gia đình cá
nhân năm 2005 đến năm 2010 72
Bảng 4.27. Kết quả thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai tại thành phố Lào
Cai từ năm 2005 đến năm 2010 theo đơn vị hành chính 73
Bảng 4.28. Kết quả giải quyết đơn thư của thành phố Lào Cai từ năm 2005 đến
năm 2010 75 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vi
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ÐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu của đề tài 2
1.3. Mục đích của đề tài 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Ý nghĩa khoa học 3
1.4.2. Ý nghĩa thực tế 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học 4
2.1.1. Những hiểu biết chung về quản lý Nhà nước về đất đai 4
thành phố Lào Cai 21
3.4. Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1. Điều tra thu thập thông tin thứ cấp 21
3.4.2. Điều tra các số liệu sơ cấp 21
3.4.3. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 22
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội 23
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 23
4.1.1.1. Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu 23
4.1.1.2. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 23
4.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 25
4.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế 25
4.1.2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 26
4.1.2.3. Thực trạng giáo dục, lao động, việc làm 30
4.1.3. Đánh giá những lợi thế và hạn chế 31
4.2. Tình hình quản lý đất đai ở thành phố Lào Cai 33
4.2.1. Bộ máy quản lý đất đai 33
4.2.2. Tình hình sử dụng đất tại thành phố Lào Cai 33
4.3. Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hoá
trên địa bàn thành phố Lào Cai tỉnh Lào Cai giai đoạn 2005 - 2010 35
4.3.1. Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng
đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó 35
4.3.2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính,
lập bản đồ hành chính 37
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
- Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
7
2.1.4. Các khái niệm về đô thị hoá
Hiện nay đô thị hoá là một vấn đề đang thu hút sự nhiều chú ý đặc biệt là các
nhà xã hội học và một số chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau. Có nhiều quan
niệm về đô thị.
Đô thị hoá là quá trình chuyển đổi một khu vực, một vùng nào đó từ chưa
"đô thị" thành "đô thị". Những vùng, khu vực có thể là vùng ven đô thị hay ngoại
thành, có thể thị trấn, thị tứ khi có cơ hội đô thị hoá, từ đô thị mở rộng không gian
và diện tích cũng như thu hút luồng di cư của dân không nhất thiết từ đô thị trung
tâm mà cả những vùng khác nhất là nông thôn trong cả nước.
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô
thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó
cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính theo
cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là
tốc độ đô thị hóa. Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện
qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống (Hân Hương, 2008) [17].
2.1.4.1. Phân loại đô thị Việt Nam
Theo Nghị định 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ về việc
Phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị. Các đô thị của Việt Nam được phân loại như
sau (Chính phủ, 2001)[4]:
Đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV,
đô thị loại V
Phân loại đô thị theo loại đô thị:
- Đô thị loại đặc biệt, có 2 thành phố là: Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh.
- Đô thị loại I, có 3 thành phố là: Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế.
- Đô thị loại II, có 14 thành phố là: Cần Thơ; Thái Nguyên; Hạ Long; Việt
Trì; Nam Định; Thanh Hóa; Vinh; Quy Nhơn; Nha Trang; Buôn Mê Thuột; Đà Lạt;
Biên Hòa; Vũng Tàu; Mỹ Tho.
triển của các ngành sản xuất.
- Đô thị hoá làm phát triển sản xuất đặc biệt là sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, phổ biến lối sống công nghiệp, văn minh đô thị và nâng cao chất
lượng cuộc sống.
b, Tác động tiêu cực
Đô thị hoá bên cạnh nhưng tác động tích cực nó còn đem lại nhiều vấn đề
tiêu cực:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
9
- Đất canh tác bị xâm lấn và thu hẹp. Quá trình đô thị hoá đòi hỏi quỹ đất để xây
dựng nhà máy, khu dân cư đô thị, xây dựng giao thông, khu du lịch dịch vụ. Hơn nữa
sự phát triển đô thị đòi hỏi sự tập trung dân cư do đó đất nông nghiệp bị xâm chiếm.
- Phát triển quỹ đất làm suy giảm sinh thái rừng, do quá trình khai thác tài
nguyên rừng, lấy đất rừng để phát triển đô thị, giao thông, vui chơi giải trí
- Nguồn tài nguyên nước có nguy cơ ô nhiễm.
Nguyên nhân của tình trạng này là để đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
của con người và sản xuất công nghiệp, con người đã khai thác mạnh mẽ nguồn
nước ngầm. Mặt khác là nước thải sinh hoạt, công nghiệp đổ vào môi trường gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng đặc biệt là nguồn nước.
- Tăng sức ép lên cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, đặc biệt là giao thông phát
triển cơ sở hạ tầng giao thông không theo kịp tốc độ đô thị hóa.
Đô thị hóa nhanh trong khi các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là cơ sở hạ tầng
tại các đô thị vốn đã nghèo nàn, yếu kém và thiếu đồng bộ, càng đẩy thêm giao thông
đô thị vào thế không lối thoát, và chính nó đang làm chậm sự phát triển kinh tế.
Ngoài ra, tỷ lệ cơ giới hóa các loại phương tiện tham gia giao thông tăng
nhanh, vấn đề ùn tắc giao thông và tai nạn, mất an toàn giao thông đã và đang trở
thành vấn đề hết sức bức xúc tại các đô thị, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà
Nội, TP Hồ Chí Minh.
Biên Hòa - Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn.
Nghiên cứu biên soạn sổ tay hướng dẫn Thiết kế đô thị, triển khai thí điểm
thiết kế đô thị cho một số đô thị lớn: Hải Dương, Lào Cai, Nha Trang - Viện Kiến
trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn.
Ngày 04 tháng 8 năm 2001, UBND tỉnh Lào Cai đã phê duyệt Quy hoạch
chung cụm đô thị Lào Cai - Cam Đường tỉnh Lào Cai đến năm 2020.
UBND tỉnh Lào Cai có Quyết định số 341/QĐ-UBND ngày 30/1/2002 V/v
phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Lào Cai thời kỳ 2000 - 2010
(theo Uỷ ban nhân dân tỉnh Lào Cai, 2002) với nội dung được phê duyệt:
- Chuyển đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng là: 1782,69 ha
- Chuyển đất nông nghiệp sang đất ở là: 582 ha
- Chuyến đất lâm nghiệp sang sử dụng vào các mục đích khác là 1002 ha
- Chuyển đất ở sang mục đích chuyên dùng là 12.0ha
- Đưa 12 ha đất chưa sử dụng vào các mục đích phát triển kinh tế xã hội của
thành phố.
Năm 2005 thành phố Lào Cai được thủ tướng phê duyệt Quyết định số
46/QĐ-TT ngày 31/3 năm 2005 phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội thành
phố Lào Cai đến 2020. Và phê duyệt quy hoạch đô thị thành phố Lào Cai do Viện
quy hoạch đô thị nông thôn, Bộ xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
11
2.3. Khái quát tình hình quản lý Nhà nƣớc về đất đai ở nƣớc ta và của tỉnh Lào
Cai từ khi thực hiện Luật đất đai 2003 đến nay
Nhìn lại chặng đường 22 năm đổi mới của đất nước ta, chúng ta luôn tự hào
trước những thành tựu đã đạt được về phát triển kinh tế, xã hội và sự ổn định về chính
trị. Trong đó công tác quản lý nhà nước về đất đai đã đáp ứng phần lớn yêu cầu của đất
nước, của nhân dân và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ như sau:
2.3.1. Kết quả đạt được
xong 56 cồn bãi với diện tích 18 ngàn m
2
(Việt Nam 35 cồn bãi và Trung Quốc là
21 cồn bãi) (Chính phủ, 2008) [8].
Năm 2008 đã hoàn thiện, ký kết toàn bộ các tài liệu, sơ đồ, biên bản… ghi
nhận kết quả công tác phân giới cắm mốc trên thực địa của 2 nhóm phân giới cắm
mốc số 3 của Việt Nam. Năm 2009, tham gia hoàn chỉnh ba văn kiện sau phân giới
cắm mốc (Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về Quy chế quản lý biên
giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc; Hiệp định về Cửa khẩu và quy chế quản
lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc). Thực hiện công tác
chuẩn bị triển khai thực hiện các văn kiện như bàn giao, tiếp nhận đơn phương toàn
bộ đường biên, mốc giới sau phân giới cắm mốc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
quản lý biên giới theo các văn kiện mới được ký kết.
“Sáng ngày 02/4/2008, chính quyền hai tỉnh Gia Lai (Việt Nam) và
Ratanakiri (Campuchia) tổ chức lễ khởi công xây dựng cột mốc biên giới thứ 25.3
bên dòng sông Sêsan trên địa bàn xã Lao, huyện La Grai. Đây là cột mốc biên giới
thứ ba được khởi công xây dựng trên tuyến biên giới 25 giữa các tỉnh Gia Lai - Kon
Tum (Việt Nam) và Ratanakiri (Campuchia)”. Từ năm 2007 đến cuối tháng 2 năm
2008, hai bên đã cắm được 4/7 cửa khẩu quốc tế, đạt 60% công việc đã thoả thuận.
Hai chính phủ Việt Nam và Lào quyết tâm đến cuối năm 2010 sẽ xác định 87
mốc và xây dựng 120 mốc, hoàn thành kế hoạch đề ra. Hai bên đã nhất trí xác định
năm 2011 là năm bản lề của công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới
Việt Nam-Lào, theo đó thỏa thuận sẽ xác định và xây dựng 258 vị trí mốc, tiến tới
hoàn thành xác định vị trí mốc tại thực địa trên toàn tuyến biên giới Việt Nam-Lào
trong năm 2012 (Mai Dung, 2008) [21].
Bên cạnh đó, tại một số địa phương hiện tượng chồng chéo ranh giới vẫn xảy
ra đặc biệt là khu vực các xã vùng núi, quá trình bảo vệ mốc ranh giới đã cắm chưa
chặt chẽ nên gây khó khăn trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên đất đai tại địa
phương đó. Do vậy, thời gian tới Chính phủ cần tiếp tục tổ chức thực hiện phân giới
cắm mốc biên giới và chỉ đạo các địa phương phân chia ranh giới rõ ràng, chính xác
và hướng dẫn thi hành Luật đất đai có những bước cải cách quan trọng về thẩm
quyền và thủ tục cấp GCN. Đặc biệt, từ khi bộ phận “Một cửa” - bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả được xây dựng và đi vào hoạt động rộng rãi tại các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương thì công tác quản lý Nhà nước về đất đai đã có nhiều
biến chuyển mới. Do vậy, tiến độ cấp GCN được đẩy nhanh hơn trong gần ba năm
qua. Theo báo cáo tình hình cấp GCNQSDĐ của Chính phủ ngày 19/10/2007:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
14
Bộ TN-MT cho biết tính đến nay, kết quả cấp sổ đỏ so với yêu cầu chưa
cao, khối lượng cần thực hiện ở một số loại đất còn nhiều, như đất chuyên dùng
còn 47%, đất ở đô thị còn 37,1%, đất ở nông thôn còn 23,3%. Trong khi đó, theo
yêu cầu của Quốc hội, việc cấp sổ đỏ đã phải cơ bản hoàn thành trong năm 2011
(Chính Phủ, 2007) [7].
* Công tác thống kê, kiểm kê đất đai:
Hàng năm Bộ Tài nguyên và Môi trường có kế hoạch hướng dẫn việc thống kê
đất đai tới các địa phương và được triển khai thực hiện vào ngày 01/01 hàng năm.
Ngày 17/12/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Chỉ thị số 31/CT-TTg về việc
kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất. Đợt kiểm kê này nhằm xác định rõ diện tích đất mà các tổ chức đang quản lý,
sử dụng; diện tích lấn chiếm; diện tích sử dụng sai mục đích;… Đây là cơ sở quan
trọng để Nhà nước xem xét việc sẽ thu hồi hay tiếp tục giao, chi thuê đất.
* Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm
trong việc quản lý và sử dụng đất:
Do chính sách đất đai chưa đồng bộ, còn nhiều tồn đọng; cả nước đang tiến
hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên đền bù, giải toả nhiều; giá đất thị trường lại
liên tục leo thang;… Đây là những nguyên nhân gây nên khiếu nại, tố cáo về đất đai.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, kết quả thống kê cho thấy, trong số đơn thư khiếu
nại, tố cáo về các lĩnh vực mà Bộ quản lý có tới hơn 70% liên quan đến đất đai.
quyết trong quá trình chấn chỉnh thị trường BĐS hiện nay ở Việt Nam.
2.3.2. Một số tồn tại
Những kết quả trong công tác quản lý nhà nước về đất đai mà nước ta đã đạt
được trong thời gian qua ghi nhận sự cố gắng, nỗ lực không chỉ của ngành Tài
nguyên và Môi trường mà còn là sự đóng góp không nhỏ của các ngành khác và của
toàn thể nhân dân. Song bên cạnh những cố gắng đó thì công tác quản lý Nhà nước
về đất đai trên cả nước vẫn còn một số tồn tại như:
- Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trong lĩnh vực quản lý Nhà nước
về đất đai chưa đáp ứng được kịp thời yêu cầu cấp bách trong công tác quản lý tại
các địa phương, đặc biệt là các khu vực cách xa trung tâm, các xã vùng sâu, vùng
xa, vùng núi cao,…
- Đầu tư trang thiết bị, nguồn kinh phí phục vụ cho công tác quản lý nhà
Nước về đất đai còn hạn chế. Việc áp dụng công nghệ tiên tiến vào quản lý đất đai
còn bỡ ngỡ tại nhiều địa phương.
- Sự phân công, phân cấp trách nhiệm và quyền hạn quản lý đất đai thiếu cụ
thể; tổ chức bộ máy làm công tác quản lý đất đai còn yếu, chưa đáp ứng được yêu
cầu quản lý trong tình hình mới.