TRẦN CAO VÂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết, âm nhạc là biểu hiện hoạt động trực tiếp của con
ngưởi. Hoạt động trực tiếp ấy vừa mang tính tái tạo, vừa mang tính sáng tạo rất cao.
Đào tạo GV âm nhạc trước hết là đào tạo năng lực hoạt động trực tiếp, là bồi dưỡng
năng khiếu, phát huy những tiềm năng âm nhạc của mỗi người. Quá trình đào tạo
cũng là quá trình sinh viên (SV) tiến hành lĩnh hội các phương pháp hoạt động biểu
hiện trực tiếp mang tính tái tạo và sáng tạo dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Đối
với bộ môn hát I, là những thủ pháp cơ bản về thanh nhạc, những tri thức, kỹ năng
trong hoạt động ca hát thể hiện trực tiếp ở đây có tầm quan trọng đặc biệt, được rút
ra từ những kỹ năng thực tế, là những kiến thức thực hành hết sức cơ bản về thanh
nhạc chứ không phải đơn thuần là những thuật ngữ, định nghĩa hay quy tắc về ca
hát.
Trong nội dung chương trình tập bài giảng này, có ba phần chủ yếu:
Phần 1: Những vấn đề cơ bản trong ký thuật thanh nhạc.
Phần 2: Một số bài hát ứng dụng và bài tập luyện giọng ở kỹ thuật nâng
cao.
Phần 3: Những bài tập kỹ năng cơ bản để luyện tập giọng hát.
Mỗi SV muốn nắm được những kiến thức về kỹ thuật ca hát, đòi hỏi phải có
một trình độ năng khiếu nhất định, bên cạnh đó phải học tốt các môn học như: Lý
thuyết âm nhạc cơ bản, ký xướng âm… với một ý thức học tập nhiệt tình, nghiêm
túc và với một phương pháp học tập khoa học. Tuy vậy trong chương trình này
cũng chỉ mới là những vấn đề đề cập có tính khái quát, cơ bản mà một người học
hát, đặc biệt là người giáo viên dạy hát nhạc ở các trường tiểu học và phổ thông cơ
sở phải nắm vững mới có khả năng truyền thụ được trong giảng dạy.
PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP
Với tính đặc thù của bộ môn nên việc hướng dẫn của giảng viên đóng một
vai trò hết sức quan trọng. (Như đã đặt vấn đề ở phần trên) Việc tiếp cận các kỹ
năng thanh nhạc, cụ thể là luyện tập các bài tập mẫu (nguyên âm và phụ âm),
không chỉ đơn thuần phát ra âm thanh và cao độ chuẩn là đủ, mà cần có sự kết hợp
chặt chẽ một cách khoa học về các thủ pháp lấy hơi, nén hơi, phát âm nhả chữ, bật
lượng 4 đvht nên chúng tôi chỉ đưa vào chương trình những bài tập chính, có tính
giới thiệu, không đi sâu vào cho mỗi loại giọng hát. Nếu học tốt chương trình này
SV sẽ có đủ những kiến thứ để ứng dụng được trong kỹ thuật thanh nhạc, hát và xử
lý tốt một số kỹ thuật thiết yếu của môn thanh nhạc và dạy tốt môn hát-nhạc ở các
trương TH-THCS. Tuy vây tập bầi giảng này cũng không tránh khỏi những thiếu
sót. rất mong nhận được sự góp ý của các đông nghiệp và các bạn SV.
Xin chân thành cảm ơn.
Tác giả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1-Hát I-Giáo trình CĐSP của Ngô Thị Nam. Nxb Đại học Sư phạm-2004.
2-Âm nhạc và phương phát giáo dục âm nhạc
Giáo trình đào tạo giáo viên trung học Sư phạm mầm non, hệ 12+2
Nhà xuất bản : Âm nhạc- 1998.
3-Các thể loại âm nhạc : Tác giả Lan Phương - dịch
Nhà xuất bản Văn hoá- 1981.
4-Phương pháp và kỹ thuật thanh nhạc: Tác giả : Trung Kiên
Nhà xuất bản âm nhạc-1998.
5-Phương pháp hát và chỉ huy dàn dựng hát tập thể
Giáo trình đào tạo giáo viên trung học cơ sở, hệ cao đẩng Sư phạm
Nhà xuất bản : giáo dục – 1998.
6-Bài giảng Kỹ thuật hát của Trần Cao Vân-2003.
2
TRẦN CAO VÂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
PHẦN MỘT
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG KỸ THUẬT THANH NHẠC
CHƯƠNG I (5t)
BÀI 1
BỘ MÁY PHÁT ÂM
I-Phổi - thanh quản - cuống họng - mồm.
Cuối cùng âm thanh đi ra ngoài qua mồm. Hoạt động của mồm bao gồm
những hoạt động của hàm ếch mềm, lưỡi, môi, hàm dưới và sự hỗ trợ của răng.
3
TRẦN CAO VÂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
Mồm giữ vai trò quan trọng khi phát âm. Những âm thanh được phát ra từ thanh
đới đi ra ngoài thông qua những hoạt động của mồm, tạo nên những âm thanh
chính xác có âm sắc đẹp. Từ mồm, âm thanh chứa đựng nội dung cụ thể thông qua
ngôn ngữ, hợp lại bởi những nguyên âm và phụ âm do các hoạt động của mồm tạo
ra dưới sự chỉ đạo của não. Âm thanh ở đây còn được mang những cảm xúc tinh tế,
có tính nghệ thuật. Ngoài ra còn có sự hỗ trợ đắc lực cho phát âm đó là xương
xoang của mũi, vòm mặt và trán, gọi chung là các xoang cộng minh.
BÀI 2
HƠI THỞ THANH NHẠC
I-Vị trí hơi thở trong kỹ thuật thanh nhạc
1-Thở ngực: Luồng không khí hít vào phần trên của phổi làm lồng ngực
phía trên căng ra, nâng lên còn hoành cách mô thì hầu như ổn định, (Hoành cách
mô là một lớp màng ngăn cách giữa phổi và bụng, co giãn được. Màng ngăn này
đóng vai trò không nhỏ trong hoạt động của hơi thở khi hát, đặc biệt trong kiểu thở
ngực dưới với bụng và thở bụng). Kiểu thở ngực tạo điều kiện phát ra âm thanh nhẹ
nhàng với âm lượng nhỏ, đáp ứng những yêu cầu thể loại ca hát không có cao trào
lớn chẳng hạn như ca khúc trữ tình nhỏ, dân ca giai điệu dịu dàng, uyển chuyển,
với tầm cữ âm thanh tương đối hẹp.
Kiểu thở này có thể phù hợp với ca sỹ chuyên và không chuyên có giọng hát
nhẹ không khoẻ.
2-Thở ngực kết hợp với bụng: Kiểu thở này khi hít hơi vào luồng không
khí vào sâu hơn, làm căng phần ngực dưới, hoành cách mô cũng tham gia hoạt
động, kiểu thở này phát huy được toàn bộ lồng ngực, giống kiểu thở ngực dưới và
bụng.
3-Thở ngực dưới với bụng: Là kiểu thở phổ biến nhất mà các ca sỹ hát nhạc
luôn luôn phù hợp nhau mới có được âm thanh chính xác và có chất lượng. Muốn
chủ động điều khiển hoạt động này, phải tập đẩy hơi và ghìm hơi thở sao cho
những hoạt động đó trở thành thói quen chính xác. Tuy vậy đây cũng mới chỉ là kết
quả bước đầu của việc luyện tập, chưa phải là kiến thức vững vàng của một quá
trình rèn luyện theo một phương pháp khoa học.
Tập đẩy hơi thở và ghìm hơi thở bằng thanh đới rung tạo cho những hoạt
động đó trở thành thói quen chính xác. Hơi thở trong khi hát còn giải quyết vấn đề
góp phần làm rõ ý nghĩa câu hát. Chỗ lấy hơi đồng thời cũng là chỗ ngắt câu, ấm
định sự trọn ý, trọn nghĩa của câu hát, ngoài mục đích giải quyết yêu cầu của âm
thanh còn phục vụ ý nghĩa của câu hát. Không nên lấy hơi tuỳ tiện, cứ hát hết hơi
mới lấy hơi, làm như vậy đôi khi mất đi ý nghĩa của câu hát.
2- Động tác lấy hơi:
Trong khi lấy hơi cần chú ý động tác phải nhẹ nhàng như nuốt không khí
vào (không phát ra tiếng động). Hít hơi nhanh, nếu chậm sẽ ảnh hưởng đến tiết tấu
và làm sự bật âm thanh (át tác ca) gây căng thẳng một cách không cần thiết. Nên hít
hơi bằng mũi, một phần nhỏ qua miệng. Hít hơi bằng mũi sẽ đưa vào sâu hơn, làm
căng lồng ngực phấn trung tâm, cố gắng giữ trạng thái căng cần thiết này trong
suốt độ dài câu hát.
Chú ý: Không nên hít hơi hoàn toàn qua miệng, sẽ khó đưa luồng hơi vào
sâu trong phổi và dễ tác hại cho thanh quản, dễ làm khô cổ. Hít hơi qua miệng
trông lộ liễu không đẹp mắt. Không hít hơi quá nhiều (thừa hơi). Không dùng hết
kiệt một cột hơi, chỉ để thừa một ít trước khi lấy cột hơi khác. Không nhô vai, rướn
người lên khi lấy hơi.
3-Động tác đẩy hơi (nhả hơi):
Sau khi hít hơi vào, ta ghìm hơi 1-2 giây sau đó trên cơ sở hơi thở được ghìm
lại, ta phát ra âm thanh-dần dần đưa hơi thở theo âm thanh ra đều đặn. Kéo dài
trạng thái căng thẳng cần thiết ở khoảng trung tâm lồng ngực cho tới cuối câu hát.
Đó là động tác ghìm nén hơi. Phải điều tiết hơi thở sao cho tới cuối câu hát, hơi thở
vẫn tương đối đều đặn và thừa lại một chút trước khi hít cột hơi khác. Khi hát
5
ngày sẽ dẫn đến mất giọng. Đặc biệt khi phân bè cho các dàn đồng ca, tốp ca ở lứa
tuổi học sinh (HS) nếu xác định phân loại giọng không đúng để kéo dài sẽ ảnh
hưởng đến chất giọng vốn có của HS.
II-Những căn để xác định phân loại giọng hát
1-Căn cứ vào âm vực giọng
Thử giọng bằng cách hát từ nốt thấp nhất đến nốt cao nhất với một nguyên
âm dễ hát. đối với các giọng thông thường thì cách phân loại này thường mang lại
hiệu quả chính xác. Ví dụ: xác định giọng nam cao, hát xuống thấp thường có hiệu
quả tới nốt đô 1, lên cao tới nốt la2, si2 (gần 2 quãng 8).
2-Thông qua đặc tính âm sắc của các loại giọng
Âm sắc trong thanh nhạc là màu sắc của chất giọng, tính chất âm thanh của mỗi
loại giọng hát đều có màu sắc riêng. Nếu là giọng nam cao thì âm sắc phải trong
sáng, bay bổng; giọng nam trung thì âm sắc phải mềm mại, ấm áp; giọng nữ cao thì
âm sắc phải mềm mại, uyển chuyển.v.v (đặc điểm âm sắc giọng chỉ là một đặc
điểm cần xét đến chứ không hoàn toàn mang tính quyết định trong phân loại
giọng).
3-Thông qua vị trí các nốt chuyển giọng
Đó là các nốt chuyển tiếp từ những âm khu khác nhau của mỗi loại giọng
hát. Từ âm khu thấp đến âm khu trung, hoặc âm khu ngực, âm khu giọng pha, âm
khu giọng óc đều có các nốt chuyển giọng. Ở nam giới có 2 âm khu: Âm khu ngực
và âm khu óc. Ở nữ giới có 3 âm khu: Âm khu ngực, âm khu hỗn hợp (pha giữa
ngực và óc) và âm khu óc. Ở nam có một chỗ chuyển giọng, ở nữ có hai chỗ
chuyễn giọng giữa các âm khu này.
+Ngoài ra người ta còn xác định giọng bằng cách đo thanh đới hoặc thông
qua tầm cữ cao, thấp “Tesstura” của tác phẩm phù hợp theo từng loại giọng.
Sau đây là vị trí các nốt chuyển giọng (theo cách ghi thông thường ở khoá
Sol).
7
TRẦN CAO VÂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
III-Các loại giọng
BÀI 5
GIỌNG HÁT HS-NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý
TRONG QUÁ TRÌNH LUYỆN GIỌNG VÀ TẬP HÁT CHO HS
I-Những đặc điểm của giọng hát HS theo từng độ tuổi
Giọng hát HS trải qua một số giai đoạn phát triển gắn liền với sự hình thành
giới tính, sự phất triển cơ thể và tâm sinh lý. Cho đến nay người ta tạm chia giọng
hát HS ra làm 4 giai đoạn như sau:
1-Giai đoạn dưới 11-12 tuổi
Giọng hát hoàn toàn là âm thanh của trẻ. Thời kỳ này, giọng hát của các em
chưa có những thay đổi đáng kể. Âm thanh nhẹ nhàng, êm ái “âm thanh cộng minh
đầu” vốn có tự nhiên của trẻ. Thời kỳ này nếu được hướng dẫn chu đáo thì giọng
hát sẽ phát triển bình thường, nếu việc học hát ở trường tổ chức tốt, đúng phương
pháp thì vào lứa tuổi 9-10 giọng hát HS sẽ bắt đầu vang đặc biệt tốt. Thời kỳ này
gọi là thời kỳ “hoàng kim” của giọng hát HS. Giọng hát các em trai rất vang, giọng
các em gái bắt đầu có âm sắc riêng.
2-Giai đoạn từ 11 đến 12 (13) tuổi
Là giai đoạn trước “vỡ giọng” xuất hiện những dấu hiệu cho thấy sự thay đổi
trong cơ thể như; tăng trọng, tăng trưởng, bộ máy phát âm phát triển thất thường,
không còn phẳng lặng. Cơ thể hình giáng bên ngoài không cân xứng, giọng hát, nói
không còn sáng, dường như tối, xỉn, hơi khàn. Có thể cho thấy cả sự thay đổi về
tầm cữ giọng (hạn chế tầm cữ giọng).
9
TRẦN CAO VÂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
Những thay đổi trong giọng hát giai đoạn này: Những em trai, sự phát triển
mạnh hơn và không đều hơn, mặc dù bộ máy phát thanh vẫn còn nguyên tính chất
trẻ thơ. Thanh đới có thể thấy sưng tấy đỏ lên, làm ngứa họng. Trong suốt thời kỳ
này, tất cả những thay đổi về tâm sinh lý của HS, đặc biệt là các em gái, (trước khi
có kinh nguyêt thường chóng mặt, nhức đầu, ể oải, dễ cáu kỉnh…) tác động xấu đến
đến giọng hát. Vì vậy đây là lúc cần đựơc quan tâm và có chế độ tập luyện phù
hợp.
Đây là thời kỳ trước vỡ giọng, độ vang ở cuối thời kỳ này đầy đặn hơn, tuy
vậy không nên phát triển tính chất đầy đặn này mà nên duy trì độ cao của âm thanh
với âm lượng vừa phải. Không tập vượt quá tầm cữ chuẩn, nếu không dễ dẫn tới tác
hại cho giọng của các em trong thời kỳ vỡ giọng, mất đi tính chất vang, mềm mại.
3-Thời kỳ vỡ giọng:
Âm vực của các em gái tạm thời giảm sau đó tầm cữ này dần dần mở rộng ra
nhưng không ổn định, mà thu hẹp tầm cữ giọng. Từ Xi bát độ nhỏ hoặc Đô, đến
Fa2, đôi khi Son2.
Ở những HS nam, những ranh giới, tầm cữ âm vực thay đổi rõ ràng, tuỳ
thuộc vào quá trình vỡ giọng: Khoảng từ Rê bát độ nhỏ tới Rê1.
-Hiểu được những đặc điểm về tầm cữ giọng chuẩn theo từng lứa tuổi HS,
giúp người dạy hát phân bè chính xác. Đặc biệt ở các em lớn, cấp 2 . Cần theo dõi
chất lượng của từng loại giọng mà phân vào bè trầm (Allto) - những em hát tốt,
vang thoải mái những âm Đô2- Rê2 và xuống thấp vẫn “ngọt” trôi chảy. Còn các
em hát tốt vang thoải mái ở các nốt Mi2- Fa2 thì phân vào bè cao (Soprano).
Những nốt này gọi là nốt chuyển giọng vì chúng nằm ranh giới giữa âm khu
trung và âm khu cao. Nếu hát tốt các nốt này ổn định thoải mái thì việc chuyển từ
âm khu này sang âm khu khác sẽ trơn tru, dễ dàng làm giọng sẽ vang đều trong
toàn bộ âm vực đang dần dần mở rộng, đó là việc xoá bỏ ranh giới của các âm khu,
một công việc đặc biệt quan trọng của việc dạy và học hát.
III- những điểm chính cần chú Ý trong dạy và học hát đối với HS
1-Giọng hát HS-THCS hoàn toàn chưa định hình mà đang trong quá trình
dần dần phát triển. Cùng với những đặc điểm về thể chất, tâm sinh lý. Vì vậy đòi
hỏi người giáo viên dạy hát nhạc cần đặc biệt quan tâm theo dõi uốn nắn, hướng
dẫn với những phương pháp nghiêm ngặt, bài bản và một tinh thần trách nhiệm
cao.
2-Việc luyện tập giọng hát ngay từ nhỏ là điều rất tốt. Ơ các trường phổ
thông, đòi hỏi người giáo viên dạy hát nhạc phải nắm vững những kỹ thuật và
11
TRẦN CAO VÂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
số đặc điểm sau:
Tiếng Việt có 12 nguyên âm, chia thành 5 nhóm : A, E, I, Ô, U. Mỗi nhóm
có nguyên âm chính và các biến dạng của nguyên âm. Do tính chất và vị trí cộng
minh của các nguyên âm khác nhau nên có các dạng, vị trí khẩu hình khác nhau :
*Khi hát nhóm nguyên âm A (ắ, â), miệng mở rộng, hơi tròn, môi hơi nhếch
lên, lộ hàm răng trên. Mặt lưỡi đặt bằng phẳng, đầu lưỡi tiếp giáp nhẹ với hàm
dưới. (Khuôn mặt trông như cười. Âm thanh sẽ tươi sáng).
*Khi hát nhóm nguyên âm E (ê) miệng không mở rộng như nguyên âm A mà
thu nhỏ lại. Phần trên của lưỡi hơi uốn cong.
12
TRẦN CAO VÂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
* Khi hát nhóm nguyên âm I (y) , miệng thu nhỏ hơn so với A và E. Phần
thân lưỡi gần dính sát vòm ếch mềm (hàm dưới), tính chất âm thanh sáng “nhiều
chất thép”.
*Khi hát nhóm nguyên âm Ô (o, ơ) miệng mở tròn, môi phía trên hơi thu lại.
Phía trong miệng mở rộng. Lưỡi gà nâng lên, cằm dưới hạ xuống (Âm sắc hơi tối)
*Khi hát nhóm nguyên âm U (ư) miệng thu nhỏ lại, môi trên và môi dưới
thu lại. Khẩu hình phía trong vẫn mở rộng. (Âm sắc tối hơn)
Các nguyên âm ghép với các phụ âm tạo thành các vần bằng, vần trắc, đóng -
mở... chú ý là :
a- Khẩu hình mơ: khi hát các vần bằng, vần trắc - mở như âm : ang, ăng,
âng.. (mở mang, lâng lâng...) ác, ấc, ích ... (lác đác, gió bấc ...)
b-Khẩu hình đóng: khi hát các vần bằng, vần trắc khẩu hình đóng như âm
ông, ung..(không, thuỷ chung...) áp, úc, óc ..(lấm láp, túp lều, khóc..)
2/Xử lý ngôn ngữ trong ca hát
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ trong ca hát, mỗi từ
tiếng Việt phân thành 3 phần : đầu, thân và đuôi.
Ví dụ: từ MANG có cấu tạo M-A-NG, khi hát được chia thanh: MA-ANG.
Dù ở trong trường độ nào, từ MANG cũng được ngân thành một âm liền, không
ngắt quãng.
-Hát nhanh.
-Hát âm nẩy.
-Hát sắc thái to nhỏ.
Trong quá trình học tập, nhiệm vụ vô cùng quan trọng là nắm vững cách hát
và những yêu cầu khác nhau như: hát liền tiếng (Căngtilena), hát nhanh, hát âm nẩy
(Staccato), hát từ nhỏ tới to, (Crescendo) từ to tới nhỏ. (điminuedo). Biết hát tốt
những yêu cầu kỹ thuật đó để có thể chủ động áp dụng mọi yêu cầu trong ca hát.
BÀI 7
LUYỆN TẬP CÁCH HÁT LIỀN TIẾNG-Cantilena
(Phần bài tập ứng dụng ở chương VI)
Là kiểu hát cơ bản nhất trong kỹ thuật thanh nhạc trên thế giới. Ở nước ta từ
những ca khục nghệ thuật đến các làn điệu dân ca đều có giai điệu phong phú uyển
chuyển, êm ái, duyên dáng. Để biểu hiện đặc tính nghệ thuật đó thì cách hát liền
giọng phải được đặc biệt quan tâm.
Hát liền tiếng cũng có nghĩa của hát liền giọng, là cách hát liên tục, đều đặn
tự âm nọ sang âm kia, tạo nên những câu hát liên kết không ngắt quãng. Trong các
tác phẩm khí nhạc, khi yêu cầu một câu nhạc liên kết, người ta dùng chữ Legato
hoặc dấu nối vòng cung. Xét về phượng diện âm nhạc: Hát liền giọng và legato
cũng mang ý nghĩa như nhau. Song ở đây tính chất của cantilena ngoài yêu cầu liên
kết giai điệu, còn có ý nghĩa yêu cầu về âm thanh sao cho thanh thoát, trong sáng,
mềm mại, tuôn trào như giòng nước chảy không bị vật gì ngăn cản.
Đa số những người chưa học hát, không nắm vững được cách hát liền giọng
nên tiếng hát bị rời rạc, không đều đặn và không thanh thoát. Đây là một yêu cầu
kỹ thuật khó, không thể trong một thời gian ngắn có thể nắm vững ngay được, mà
phụ thuộc vào sự tiến bộ chung về kỹ thuật trong quá trình luyện tập lâu dài. Hát
liền giọng đòi hỏi 2 điều kiện :
1-luyện tập cho cơ quan phát âm hoạt động đúng và phù hợp. Nghĩa là giọng
hát có được những tính chất thiết yếu như vang khoẻ, tròn, đều đặn, với một hơi thở
sâu và tiết kiệm .
2-Biết hát liên kết các âm: Legato.