Huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội Huyện Vĩnh Linh, Tỉnh QuảngTrị - Pdf 39

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội là một vấn đề
đặc biệt quan trọng, cần được quan tâm giải quyết. Việc huy động vốn đầu tư phát
triển như thế nào để đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Quảng Trị nói chung và huyện Vĩnh Linh nói riêng theo hướng công nghiệp hóa, hiện

Ế

đại hóa; đồng thời việc huy động vốn đó mang lại hiệu quả kinh tế cao.

U

Huyện Vĩnh Linh là một trong những huyện đang còn kém phát triển so với

́H

các huyện khác, trong thời gian vừa qua huyện đã huy động vốn đầu tư từ các thành



phần kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng, các
địa điểm du lịch, các cụm công nghiệp, các ngành nông, lâm thuỷ sản....phát triển

H

kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, nguồn vốn đầu tư còn ít và có thể nói là

IN

thiếu vốn trầm trọng. Các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp xây dựng và

tranh tương xứng với tầm của một tỉnh. Đây cũng chính là vấn đề đòi hỏi phải được
giải quyết cả về mặt cơ sở lý luận và cả về mặt thực tiễn hiện nay.

1


Từ trước tới nay trên địa bàn huyện chưa có một đề tài nào nghiên cứu, đề
cập về vấn đề huy động vốn đầu tư. Trong bối cảnh đó việc chọn đề tài: “Huy động
vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” góp phần
nhất định vào việc giải quyết những vấn đề cơ bản và cấp bách đặt ra trong việc huy
động vốn đầu tư vào huyện Vĩnh Linh trong thời gian tới.
2. Mục đích nghiên cứu
+ Phân tích và làm rõ khái niệm, các đặc trưng của vốn đầu tư, các nguồn

Ế

vốn đầu tư và vai trò của vốn đầu tư đối với nền kinh tế. Nghiên cứu kinh nghiệm

U

một số tỉnh trong nước và một số nước trên thế giới về huy động vốn đầu tư. Thông

́H

qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nhận thức một cách có hệ thống các
nội dung có liên quan đến vấn đề vốn đầu tư, huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế



- xã hội.

được nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách
nhà nước, nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn huy động từ dân cư và vốn hỗ
trợ đầu tư nước ngoài.
+ Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Nghiên cứu kết quả và các nhân tố ảnh hưởng đến huy động
VĐT, các nguồn vốn đã được sử dụng đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trong giai
đoạn 2000 - 2009, định hướng sử dụng, các giải pháp tăng cường huy động các
nguồn VĐT từ năm 2010 đến năm 2015, tần nhìn đến năm 2020.
- Về không gian: Tại địa bàn huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị.

2


4. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích thống kê số liệu thứ cấp theo thời gian.
+ Phương pháp toán kinh tế, phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp từ
các đơn vị cơ sở, sử dụng phần mềm SPSS 11.5 để phân tích độ tin cậy, phân tích
nhân tố, phân tích hồi quy, đánh giá, so sánh ý kiến của các đối tượng nhằm xác
định những nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn đầu tư trên địa bàn huyện

Ế

Vĩnh Linh.

U

+ Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo.

́H

A

̣I H

2010 – 2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020.

3


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ HUY
ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
1.1. TỔNG QUAN VỀ VỐNĐẦU TƯ
1.1.1. Khái niệm về vốn đầu tư
Vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của

Ế

nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển và đặc biệt đối với nền

U

kinh tế nước ta hiện nay.

́H

Cho đến nay chưa có một định nghĩa bằng văn bản chính thức của Nhà nước
về vốn. Tuy nhiên, trong nhiều sách, giáo trình của các học viện, các trường đại học
định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính.


Đ
A

Cần chú ý rằng, nguồn lực trên phải nằm trong một dự án đầu tư thì mới

được gọi là nguồn vốn đầu tư. Nếu không chúng mới chỉ là nguồn lực tích lũy và dự
trữ dưới dạng tiềm năng. Nói cách khác, vốn đầu tư phải là nguồn lực trong trạng
thái "động".
Để làm rõ khái niệm về vốn đầu tư, cần đi sâu phân tích những đặc trưng cơ
bản của vốn đầu tư dưới đây:
Thứ nhất, vốn phải được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, điều này có
nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị có thực của tài sản (tài sản hữu hình
và vô hình).

4


Thứ hai, vốn phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Vốn là tiền nhưng
không phải mọi đồng tiền đều là vốn. Tiền chỉ là vốn ở dạng tiềm năng, khi nào
chúng được dùng vào đầu tư kinh doanh thì chúng mới biến thành vốn. Tiền là
phương tiện để trao đổi, lưu thông hàng hóa còn vốn là để sinh lời, nó luôn chu
chuyển và tuần hoàn. Quá trình đầu tư là một quá trình vận động của vốn đầu tư.
Cách vận động và phương thức vận động của tiền vốn lại do phương thức đầu tư
kinh doanh quyết định.

Ế

Thứ ba, vốn bao giờ cũng gắn liền với một chủ sở hữu nhất định, không có

U


Việc mua bán quyền sử dụng vốn được diễn ra trên thị trường tài chính. Thị

̣I H

trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các nguồn tài
chính thông qua những phương thức giao dịch và các công cụ tài chính nhất định, là

Đ
A

tổng hòa các quan hệ cung và cầu về vốn. Thị trường tài chính bao gồm hai bộ phận:
+ Thị trường tiền tệ: là thị trường vốn ngắn hạn, nơi diễn ra các hoạt động mua

bán quyền sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn. Thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông
qua hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại. Vì các ngân hàng thương mại là
chủ thể quan trọng nhất trong việc thu hút và cung cấp các nguồn vốn ngắn hạn.
+ Thị trường vốn: là nơi diễn ra các hoạt động mua bán quyền sử dụng các
nguồn vốn dài hạn. Thị trường vốn cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của
Chính phủ, chính quyền địa phương, của các doanh nghiệp, các hộ gia đình và các cá
nhân. Thị trường vốn gồm có thị trường vay nợ dài hạn và thị trường chứng khoán.

5


Chỉ khi nào có lợi tức thỏa đáng thì người sỡ hữu vốn mới bán quyền sử
dụng vốn của mình. Đây là một nguyên lý có tính chất nguyên tắc để thu hút, huy
động vốn trong cơ chế thị trường.
Thứ năm, đồng vốn có giá trị về mặt thời gian. Ở các thời điểm khác nhau thì
giá trị của vốn cũng khác nhau. Bởi lẽ, đồng tiền càng trải dài theo thời gian thì nó càng


khơi thông các dòng chảy của vốn và hướng chúng vào đầu tư phát triển kinh tế. Đó
chính là tiền đề cơ bản cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Vốn

O

̣C

chính là tiền đề của mọi quá trình đầu tư [20].

̣I H

1.1.2. Các nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư phát triển của xã hội được hình thành trên cơ sở động viên

Đ
A

các nguồn lực trong nước và ngoài nước, thông qua các công cụ chính sách, cơ chế,
luật pháp. Nguồn vốn trong nước bao gồm: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn
vốn tín dụng (tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng), các nguồn vốn khác (vốn
đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư). Nguồn vốn ngoài nước gồm có:
đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn vốn vay, viện trợ và các nguồn vốn khác [14].

1.1.2.1. Nguồn vốn đầu tư trong nước
* Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài
chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước

6


IN

Nếu bội thu ngân sách thì điều hiển nhiên là Nhà nước có nguồn tiết kiệm để hình
thành nên vốn đầu tư phát triển. Nhưng một vấn đề cần lưu ý là có thể trong trường hợp

K

bội chi ngân sách thì ngân sách nhà nước vẫn tiết kiệm một phần để dành cho đầu tư

̣C

phát triển, vì trong các khoản chi của Nhà nước có khoản chi cho đầu tư phát triển.

O

Điều này có nghĩa là muốn có tiết kiệm từ ngân sách nhà nước thì tốc độ tăng chi đầu

̣I H

tư phát triển phải luôn lớn hơn tốc độ tăng chi thường xuyên. Vấn đề không phải là bội
chi ít hay nhiều mà phương pháp xử lý chính là định hướng đầu tư. Nhưng một thực tế

Đ
A

là hầu hết các nước đang phát triển, tiết kiệm của Chính phủ không phải là nguồn
đầu tư chủ yếu, vì thường ngân sách của các nước này nguồn thu rất hạn chế, mà
nhu cầu chi tiêu thường xuyên lại cao, nên Nhà nước chỉ có thể tập trung vốn đầu tư
phát triển ở những lĩnh vực thật sự thấy cần thiết.


công cụ của thị trường tiền tệ.

+ Trái phiếu kho bạc: là loại trái phiếu có thời hạn một năm trở lên, được

IN

năm đã được Quốc hội phê duyệt.

H

phát hành nhằm mục đích huy động vốn theo kế hoạch ngân sách nhà nước hàng

bao gồm các loại sau:

K

+ Trái phiếu đầu tư: là loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn một năm trở lên,

O

̣C

- Trái phiếu huy động vốn cho từng công trình cụ thể thuộc diện ngân sách

̣I H

đầu tư, theo kế hoạch đầu tư đã được Chính phủ phê duyệt nhưng chưa được bố trí
vốn ngân sách trong năm kế hoạch.



nhà nước lúc mới hình thành doanh nghiệp, tuy nhiên nguồn vốn này sẽ có xu

́H

hướng giảm đáng kể cả về tỷ trọng và số lượng; nguồn vốn huy động thông qua
phát hành trái phiếu, cổ phiếu (đối với các doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện cổ
lại doanh nghiệp...

H

* Nguồn vốn tín dụng ngân hàng



phần hóa); tiền khấu hao cơ bản của tài sản cố định, lợi nhuận tích lũy được phép để

IN

Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trung gian khác như công

K

ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, công ty bảo hiểm...có vai trò rất quan trọng
trong việc huy động vốn đầu tư phát triển. Các tổ chức này có ưu điểm là có thể

̣C

thỏa mãn được mọi nhu cầu về vốn của các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh


này sẽ được chia làm hai phần: một phần chia cho các cổ đông và một phần để lại cho
doanh nghiệp. Khoản lợi nhuận không chia này là khoản tiết kiệm của các doanh

Ế

nghiệp để hình thành nên nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh đó, để tiến hành đầu tư các

U

doanh nghiệp ngoài quốc doanh sử dụng thêm cả phần vốn khấu hao tài sản cố định.

́H

Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng có thể vay tín dụng ngân hàng hoặc phát
hành cổ phiếu đối với công ty cổ phần và phát hành trái phiếu để thu hút vốn đầu tư



phát triển sản xuất kinh doanh, vay lẫn nhau giữa các doanh nghiệp có vốn tạm thời
nhàn rỗi, vay thông qua mua hàng trả chậm và vay thương mại (thường được các

H

doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu áp dụng).

IN

Theo xu hướng phát triển hiện nay, nguồn vốn này có chiều hướng gia tăng

K



Một xu hướng chung là các hộ gia đình có mức thu nhập cao hơn sẽ tiết kiệm nhiều
hơn (mức tiết kiệm ở thành thị lớn hơn ở nông thôn) và những nước phát triển cũng
có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn những nước kém phát triển.
Đối với nước ta hiện nay, do thu nhập của dân cư ở mức thấp, đặc biệt ở
nông thôn tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao, nên mức tiết kiệm trong dân cư rất thấp, đây
là vấn đề khó khăn trong việc thu hút, huy động vốn đầu tư. Tuy nhiên, theo đà phát
triển của đất nước, thu nhập của dân cư ngày càng tăng, thì nguồn vốn này sẽ có xu

Ế

hướng tăng lên.

U

Những nước đang phát triển như nước ta, dù có huy động tối đa nguồn vốn

́H

trong nước cũng chưa thể thỏa mãn nhu cầu cho đầu tư phát triển, nhất là trong điều
kiện hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp như hiện nay. Muốn nền kinh tế nước ta có



những bước đi vững chắc thì phải có sự đầu tư lớn. Theo tính toán của các chuyên
gia tài chính, tổng đầu tư toàn xã hội trong 10 năm (từ năm 2001 đến năm 2010) sẽ

H


xuất khẩu chủ yếu là hàng nông sản và công nghiệp tiêu dùng có giá trị chưa cao.
Trong khi đó hàng hóa nhập khẩu là những máy móc thiết bị, dây chuyền công
nghệ hiện đại có giá trị cao, nên cán cân thanh toán thường bị thâm hụt. Các nước
đang phát triển luôn phải đối mặt với một vấn đề thiếu hụt ngoại tệ.
Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực để giải quyết hai vấn đề nan giải nêu

11


trên, đồng thời với xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đời sống kinh tế - xã hội,
quan hệ giao lưu kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển sôi động đã trở thành nhu
cầu bức xúc của tất cả các nước trên thế giới. Mỗi nước dù nhỏ hay lớn đều có thể
và cần phải tham gia vào phân công lao động trong khu vực và quốc tế để tận dụng
những khả năng to lớn của nền kinh tế thế giới về di chuyển các luồng tài chính, mở
rộng thị trường, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý...từ đó xuất hiện nhu
cầu đầu tư và nhu cầu nhận đầu tư.

Ế

Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, vấn đề huy động, thu hút vốn đầu tư nước

U

ngoài, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này để phát triển kinh tế, thực hiện sự nghiệp

́H

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là hết sức quan trọng và cần thiết. Nguồn vốn
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện nay gồm các nguồn chủ yếu sau:


Đ
A

ý nghĩa then chốt và chủ đạo đối với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo ra động
lực phát triển kinh tế của đất nước.
+ Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI)
Là những khoản đầu tư do những tổ chức và cá nhân người nước ngoài đưa
vào một nước để sản xuất kinh doanh hoặc để góp vốn liên doanh với các tổ chức,
cá nhân trong nước theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại nước đó. Đây là
nguồn vốn lớn có ý nghĩa quan trọng, vì một mặt cũng giống như nguồn vốn ODA,
vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tạo điều kiện cho nước sở tại có thể thu hút
được kỹ thuật và công nghệ tiến tiến, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của nước

12


ngoài. Mặt khác, FDI gắn trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn với bản thân phía
nước ngoài, về phía chủ nhà không làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài. Việc áp
dụng hình thức đầu tư này vào lĩnh vực phát triển công nghiệp có nhiều thuận lợi
hơn do công nghệ tiên tiến, máy móc thiết bị hiện đại, hiệu quả đầu tư cao.
Tuy nhiên, trong hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam vẫn
còn những hạn chế. Một số chính sách, đặc biệt là chính sách ưu đãi đầu tư chưa
được xác định rõ ràng, các biện pháp khuyến khích đầu tư hiện hành chưa đủ sức

Ế

hấp dẫn đối với các nhà đầu tư để họ quan tâm đến các lĩnh vực mà nước ta cần đẩy

U



̣I H

sách chuyển dần từ viện trợ nhân đạo sang hỗ trợ cho việc phát triển các công trình
cơ sở hạ tầng có quy mô vừa và nhỏ. Nếu chúng ta biết tranh thủ, khai thác các dự

Đ
A

án của NGO thì có tác dụng tốt đối với các công trình có quy mô vừa và nhỏ ở nông
thôn, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp ở nông nghiệp phát triển [33].
1.1.3. Vai trò của vốn đầu tư tác động đến tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã
hội
Vốn đầu tư có vai trò quan trọng với tất cả các nước, nhất là đối với các nước
đang phát triển như Việt Nam thì vốn đầu tư có vai trò hết sức to lớn cho quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vai trò đó được thể hiện qua một số tác
động chính của vốn đầu tư đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói
chung cũng như đối với sự phát triển của huyện nhà nói riêng [22].

13


1.1.3.1. Vốn đầu tư giải quyết tình trạng thiếu vốn cho đầu tư phát triển của nền
kinh tế quốc dân
Tất cả các nước đang và kém phát triển do tích lũy nội bộ thấp, muốn phát
triển kinh tế của quốc gia mình đều phải có chính sách thu hút, huy động vốn đầu tư
ở trong và ngoài nước. Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, thì nhu cầu về vốn
đầu tư không ngừng tăng lên. Thực tế cho thấy, khi tăng trưởng kinh tế càng cao
thường gắn với tỷ lệ đầu tư càng lớn. Nhờ có vốn đầu tư mà Nhà nước cũng như


1.1.3.2. Vốn đầu tư góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu

O

̣C

kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

̣I H

Một thực tế cho thấy hầu hết các dự án đầu tư đều chủ yếu đầu tư vào các lĩnh
vực công nghiệp và dịch vụ. Chỉ có một số ít dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.

Đ
A

Chính vì vậy, ở nước ta vốn đầu tư phát triển là một trong những yếu tố góp phần quan
trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước đề ra. Trước đây, nền kinh tế nước ta chủ yếu dựa vào sản xuất
nông nghiệp, năng suất lao động thấp, giá trị thặng dư ít, nên đời sống của người lao
động gặp nhiều khó khăn. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong công cuộc đổi
mới nền kinh tế, đã chuyển đổi cơ cấu kinh tế nước ta từ một nước nông nghiệp là chủ
yếu để trở thành một nước công nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Với cơ cấu ngành kinh tế là công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, trong đó
công nghiệp và xây dựng giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế.

14


Trong từng ngành kinh tế, nhờ có vốn đầu tư mà đã có những chuyển dịch


những doanh nghiệp nào biết ứng dụng những tiến bộ của khoa học và công nghệ, luôn

K

đón nhận các thành tựu nghiên cứu khoa học mới, thì doanh nghiệp đó sẽ thành công
trong kinh doanh.

̣C

Mặt khác, nhờ có máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất hiện đại mà doanh

O

nghiệp tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đặc biệt là các chi phí gián

̣I H

tiếp và hạ giá thành sản phẩm. Đồng thời, giúp doanh nghiệp nâng cao được chất
lượng sản phẩm và tăng dần hàm lượng chất xám trong mỗi sản phẩm thay cho hàm

Đ
A

lượng vật chất trước đây, làm cho sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra có chất
lượng cao hơn, nhưng giá bán có thể lại thấp hơn, từ đó nâng cao sức cạnh tranh sản
phẩm của doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế. Chính nhờ có vốn
đầu tư phát triển mà doanh nghiệp nâng được vị thế và uy tín của doanh nghiệp trên
thương trường.
1.1.3.4. Vốn đầu tư góp phần phát triển nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều việc làm

doanh, để tìm kiếm lợi nhuận và giữ vững được thị phần của mình. Điều này không
chỉ có lợi đối với người tiêu dùng mà còn tạo điều kiện để khai thác có hiệu quả các

H

nguồn lực của đất nước trong đó có các yếu tố như tài nguyên, lao động...

IN

Vốn đầu tư giúp giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế - xã hội như

K

thất nghiệp, lạm phát, cải thiện môi trường sống của xã hội. Vốn đầu tư phát triển
đã tạo ra nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh mới, trực tiếp thu hút được một số lượng

̣C

lớn lao động tham gia. Bên cạnh đó, nó còn gián tiếp tạo ra việc làm cho người lao

O

động thông qua việc hình thành các đại lý, dịch vụ cung cấp hàng hóa và tiêu thụ

̣I H

sản phẩm cho doanh nghiệp. Như vậy, vốn đầu tư góp phần tạo ra nhiều việc làm

Đ
A

́H

kinh tế phát triển và tăng trưởng kinh tế nói chung.

+ Thu hút vốn đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.



Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫn
đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi tương quan giữa

IN

cấu kinh tế được hình thành hợp lý.

H

chúng so với một thời điểm trước đó. Đầu tư chính là phương tiện đảm bảo cho cơ

K

Cùng với những vai trò trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, hoạt động
thu hút vốn đầu tư tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu vùng, hình thành và

O

̣C

phát huy vai trò của vùng trọng điểm, đồng thời tăng cường tiềm lực kinh tế cho các



nhiên và góp phần tăng thu ngân sách nhà nước [22].

Ế

chất lượng; đồng thời tạo điều kiện khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên

́H

1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ



1.3.1. Sự ổn định về kinh tế, chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư
Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro của vốn đầu tư

H

vượt khỏi sự kiểm soát của chủ đầu tư. Những bất ổn kinh tế - chính trị không chỉ

IN

làm cho dòng vốn đầu tư bị chững lại, thu hẹp mà còn làm cho dòng vốn đầu tư từ
trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến nơi trú ẩn mới an toàn và hấp dẫn hơn.

K

Hệ thống pháp luật đầu tư của nước sở tại phải đảm bảo sự an toàn về vốn và

̣C

tiếp nhận đầu tư luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh
chóng thông qua các quyết định và triển khai thực tế các dự án đầu tư đã cam kết.
Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống giao thông vận tải đồng
bộ và hiện đại với các cầu cảng, đường sá, kho bãi và các phương tiện vận tải đủ
sức bao phủ quốc gia và đủ tầm hoạt động quốc tế; một hệ thống bưu điện thông tin

Ế

liên lạc viễn thông với các phương tiện nghe – nhìn hiện đại, có thể nối mạng thống

U

nhất toàn quốc và liên thông với toàn cầu; hệ thống điện, nước đầy đủ và phân bổ

́H

tiện lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống xã hội; một hệ
thống mạng lưới cung cấp các loại dịch vụ khác ( y tế, giáo dục, giải trí, các dịch vụ



hải quan, tài chính, thương mại, quảng cáo, kỹ thuật…) phát triển rộng khắp, đa
dạng và có chất lượng cao.

H

1.3.4. Những tiềm năng và lợi thế về vị trí địa lý, nguồn tài nguyên khoáng sản

IN


động, linh hoạt của Nhà nước đã làm hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước và nước
ngoài đến nước ta ngày càng nhiều, bỏ vốn đầu tư kinh doanh nhằm khai thác
những tiềm năng và lợi thế ấy.

19


1.3.5. Sự phát triển của nền hành chính quốc gia
Lực cản lớn làm nản lòng các nhà đầu tư là thủ tục hành chính rườm ra,
phiền phức gây tốn kém về thời gian và chi phí, làm mất cơ hội đầu tư. Bộ máy
hành chính hiệu quả quyết định sự thành công không chỉ thu hút vốn đầu tư mà còn
của toàn bộ quá trình huy động, sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của mỗi quốc gia
cũng như mỗi địa phương. Bộ máy đó phải thống nhất, gọn nhẹ, sáng suốt và nhạy
bén. Đối với những thủ tục hành chính, những quy định pháp luật cần phải được

Ế

đơn giản, công khai và nhất quán, được thực hiện bởi những con người có trình độ

U

chuyên môn cao, được giáo dục tốt và có kỷ luật, tôn trọng pháp luật.

́H

1.3.6. Thực trạng thu nhập của nền kinh tế quốc dân và thu nhập của dân cư
Thực trạng thu nhập của nền kinh tế quốc dân và thu nhập của dân cư có một




và phát triển ở mức cao, tốc độ tăng GDP hàng năm đạt mức trên 5 - 8%/năm. Nhưng
GDP tạo ra hàng năm còn nhỏ bé, do xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta còn
thấp, chủ yếu dựa vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, còn công nghiệp và dịch vụ
đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nên mức đóng góp cho nền kinh tế
chưa được nhiều. Chính vì vậy, mức tích lũy từ nội bộ nền kinh tế được ít và thu
nhập quốc dân bình quân đầu người còn thấp. Do đó khả năng tiết kiệm và đầu tư
của nền kinh tế và của dân cư còn nhiều hạn chế.
Muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế trong những năm tiếp theo, tạo ra
GDP ngày càng lớn hơn thì Nhà nước cần phải có "một bước đột phá" nhằm khai

20


thác triệt để các nguồn vốn trong nước, đồng thời thu hút tối đa các nguồn vốn nước
ngoài, để sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước kém phát triển như Nghị
quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X đã chỉ rõ. Từ đó, có điều kiện để
tăng thu nhập, tăng mức tiết kiệm và đầu tư cho nền kinh tế.
1.4. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ
Để đánh giá hiệu quả huy động vốn đầu tư, thông thường người đánh giá các
chỉ tiêu sau đây:

Ế

1.4.1. Tăng mức đóng góp tổng giá trị sản phẩm cho nền kinh tế

U

Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề kinh doanh, khi tiến hành

́H


1.4.2. Tăng thu ngân ngân sách nhà nước
Mọi doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế, trong nước hay nước

Đ
A

ngoài khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có nghĩa vụ đóng góp
ngân sách cho Nhà nước dưới các hình thức như thuế (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu
thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên…), phí và lệ phí. Nhà nước sẽ sử
dụng các khoản thu này để chi cho đầu tư phát triển của nền kinh tế quốc dân và ở
các lĩnh vực phi sản xuất kinh doanh, do đó góp phần phân phối lại thu nhập quốc
dân. Do đó, mức đóng góp của các doanh nghiệp cho ngân sách càng nhiều sẽ tạo
điều kiện cho nền kinh tế được tái đầu tư nhiều hơn, và do đó sẽ tạo nhiều điều kiện
thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.

21


1.4.3. Tạo thêm việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động
Bất kỳ quốc gia nào cũng đều xảy ra tình trạng thất nghiệp, không có tình
trạng thất nghiệp cao thì cũng có tình trạng thất nghiệp thấp. Vì vậy, việc tổ chức
các hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh bất kỳ ngành kinh tế nào cũng tạo ra một
khối lượng công việc nhất định, và dĩ nhiên sẽ tạo ra nhu cầu về tuyển dụng lao
động. Tuy nhiên, mỗi ngành nghề khác nhau sẽ tạo ra nhu cầu sử dụng lao động
khác nhau. Do đó, hoạt động đầu tư sẽ tạo công ăn việc làm cho người lao động và

Ế

góp phần nâng cao đời sống cho người lao động.

̣C

kinh tế xã hội, để có thể đánh giá khách quan chúng tôi đưa ra một số kinh nghiệm

như sau:

̣I H

thành công trông công tác huy động vốn ở tỉnh Nghệ An và thành phố Đà Nẳng

Đ
A

Thứ nhất: Hai đơn vị trên đã nâng cao công tác quy hoạch, kể cả quy hoạch
tổng thể và quy hoạch chi tiết...
Thứ hai: Tính năng động và sáng tạo của chính quyền của các địa phương

được coi là yếu tố quan trọng nhất. Ngay từ những năm 1989 - 1990, trong khi cơ chế
chính sách cả nước chưa thực sự mở cửa thì tỉnh Đà Nẵng đã cử các đoàn cấp cao đi
nghiên cứu học tập ở trong nước và nước ngoài. Đây được coi là bước đi tiên phong,
làm cơ sở cho việc thu hút mạnh đầu tư nước ngoài từ năm 1991 cho đến nay.
Thứ ba: Các tỉnh đã biết khai thác tốt lợi thế về mặt vị trí địa lý của mình, đây
có thể được coi là lợi thế rất quan trọng của tỉnh để huy động, đa dạng hoá các nguồn

22


vốn đầu tư và các công cụ tài chính để huy động, khai tác nguồn vốn đầu tư phục vụ
cho phát triển kinh tế - xã hội; Môi trường kinh doanh thuận lợi cũng là lợi thế lớn
cho các tỉnh khai thác và huy động nguồn vốn đầu tư. Hệ thống giao thông thủy - bộ


K

1.5.2. Kinh nghiệm huy động vốn đầu tư trong nước và ngoài nước của các
nước ASEAN

O

̣C

Qua tham khảo kinh nghiệm huy động vốn đầu tư của các nước ASEAN, để

̣I H

thực hiện huy động vốn đầu tư, chính phủ các nước ASEAN đã rút kinh nghiệm
trong việc điều chỉnh nền kinh tế, đã xây dựng và hoàn thiện một số hệ thống điều

Đ
A

tiết gồm các luật, chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách huy động vốn đầu tư từ
các nguồn vốn trong và ngoài nước.
Nguồn vốn đầu tư trong nước ở các nước này là khá cao, chủ yếu do làm tốt

việc khuyến khích tiết kiệm tiêu. Chẳng hạn, ở Thái Lan và Inđônêxia tỷ lệ tiết kiệm so
với GDP là 22%, Malaixia là 28%, Singapore là 26%. Tỷ lệ tiết kiệm đạt được như vậy
là do Chính phủ các nước đã có chính sách khuyến khích gửi tiền tiết kiệm, điều chỉnh
lãi suất hợp lý. Nguyên tắc chung là lãi suất tiết kiệm dương, nghĩa là phải cao hơn
mức lạm phát, có như vậy mới khuyến khích các tổ chức và cá nhân gửi tiền tiết kiệm
cũng như sử dụng vốn vay có hiệu quả.

H

giải quyết tốt vấn đề thị trường tiêu thụ. Vì vậy các nước ASEAN đều có các chính

IN

sách mở cửa rộng rãi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nội dung cơ bản của các

K

chính sách đó là:

+ Khuyến khích tư bản nước ngoài đầu tư bằng cách đề ra các chính sách ưu

O

̣C

đãi bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho tư bản nước ngoài đầu tư và nhanh

̣I H

chóng phát huy hiệu quả vốn đầu tư. Các nước ASEAN đều đã sớm ban hành luật
đầu tư nước ngoài, trong đó bảo đảm không quốc hữu hóa, xác định rõ quyền sở

Đ
A

hữu kinh doanh của nhà tư bản nước ngoài.
+ Các đối tượng kinh doanh đó còn được hưởng ưu đãi về tài chính như:

nước. Để thu hút được nguồn vốn đầu tư trong nước, các nước đã có những biện
pháp tích cực để khuyến khích tiết kiệm: điều chỉnh lãi suất hợp lý, mở rộng mạng



lưới huy động vốn để khai thác những khoản tiết kiệm nhỏ trong dân cư, các công
cụ huy động vốn ngày càng phát triển đa dạng để đáp ứng nhu cầu của người gửi

H

tiền. Mặt khác, hầu hết các nước đều có các chính sách khuyến khích các thành

IN

phần kinh tế phát triển, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Có như vậy mới

K

thu hút được mọi nguồn vốn trong dân cư.

Đối với nguồn vốn từ nước ngoài, các nước đặc biệt quan tâm tới nguồn vốn

O

̣C

đầu tư trực tiếp FDI. Để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, hầu hết các nước

̣I H


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status