Khoáng sét và sự liên quan của chúng với một vài chỉ tiêu lý hóa học trong một số Đất ở Việt Nam - Chương 4 - Pdf 39

Chơng 4
Khoáng sét trong nhóm đất đen
nhiệt đới vùng đồi núi

Nhóm đất đen nhiệt đới bao gồm các loại đất đen, xám đen, nâu đen hình thành trên sản
phẩm đọng Cacbonat thuộc các thung lũng vùng núi đá vôi Sơn La, Hà nam ninh, Hà Sơn Bình,
Hà tuyên, dãy Trờng sơn; trên sản phẩm rửa trôi lắng đọng của Bazan hoặc Tuff Bazan thuộc
các thung lũng thấp của cao nguyên Tây Nguyên và trên đá siêu Bazơ Secpentinit vùng núi Na-
Thanh Hoá. Tuy nhóm đất đen ở Việt Nam chiếm một diện tích nhỏ so với các loại đất khác song
có ý nghĩa quan trọng trong phát sinh học và phân loại đất Việt Nam và có độ phì vợt hẳn lên
trên đất Ferralit đỏ vàng (Nguyễn Vy - Đỗ Đình Thuận 1976). Các nhà thổ nhỡng nghiên cứu
đất Việt Nam đều thống nhất rằng do thành phần đá mẹ và sản phẩm tích đọng là trung tính hoặc
kiềm lại hình thành ở địa hình thấp không bị rửa trôi mạnh nên đất có độ pH trung tính đến kiềm
(Fridland 1965, 1973; Nguyễn Vy - Trần Khải 1969, 1976; Cao Liêm 1971, 1975). Chính môi
trờng pH này cũng là nguyên nhân quan trọng trong sự tạo khoáng sét trong đất. Các tác giả trên
đều cho rằng đây là loại đất duy nhất ở Việt Nam có khoáng sét Montmenilonit, là loại khoáng
sét 3 lớp thờng thấy ở đất đen đồng cỏ vùng ôn đới (Treonozen) hoặc đất đen Vertisol thuộc lớp
vỏ phong hoá Magalit. Song theo chúng tôi, vấn đề nghiên cứu thành phần khoáng sét trên những
loại đất đen điển hình của nớc ta cần tiếp tục để có những kết luận thực tiễn, chắc chắn. Từ trớc
đến nay, những tài liệu và kết quả nghiên cứu khoáng sét của nhóm đất này đã đợc công bố còn
quá ít và các tác giả trên đa phần đã nhận định dựa theo quy luật lý thuyết về sự hình thành
khoáng sét của nhóm đất đen nhiệt đới. Chỉ có kết quả phân tích trên đất đen đọng Cacbonat ở
Mộc Châu- Sơn La của Nguyễn Vy (1969) cho thấy đất có khoáng sét Montmenilonit. Còn bằng
phơng pháp nhiệt sai, Fridland (1973) chỉ tìm thấy ở đất đen trên Tuff Bazan Phủ quỳ khoáng
sét hỗn hợp Illit - Montmenilonit và khoáng u thế là Meta Haluzit. Cha có một kết quả xác
định khoáng sét trên đất đen siêu Bazơ Secpentinit đợc công bố, loại đất mà Fridland và Cao
Liêm (1975), Nguyễn Vy - Trần Khải (1976) đã dựa vào quy luật phát sinh và tính chất đất phán
đoán rằng có khoáng sét Montmenilonit điển hình hơn cả. Ngoài ra các tác giả còn nhận thấy
trong đất đen xuất hiện cả khoáng sét Hydromica, Kaolinit chứng tỏ ít nhiều trong đất có quá
trình Ferralit nên đã thống nhất với Fridland rằng ở Việt Nam loại đất đen này thuộc lớp vỏ
phong hoá Magalit - Ferralit.

13: DTA - Đất đen đọng Cacbonat H.14: DTA - Đất đen trên SecpentinH.
- Trên đờng phân tích nhiệt TG của các tầng đất, chúng tôi cũng thu đợc kết quả là sự
có mặt của khoáng sét 3 lớp khá rõ qua tỷ lệ % trọng lợng nớc giảm của khoáng 3 lớp (0-
250C) khá lớn là 8%, trong khi đó của khoáng sét 2 lớp (420-560C) chỉ chiếm có 3,43% (bảng
9). Cũng từ đờng TG cho chúng tôi nhận biết ở đất này hàm lợng chất hữu cơ ở lớp mặt rất cao
và giảm dần theo chiều phẫu diện, ví dụ từ 0-1000C của lớp mặt trọng lợng giảm 19,4% xuống
đến dới cùng chỉ còn 16%. Bảng 9: Phân tích nhiệt (TG): Trọng lợng nớc giảm của các khoáng sét
trong đất đen trên sản phẩm đọng Cácbonát.

Độ sâu tầng đất
(cm)
Khoảng nhiệt độ
nung (
0
C)
Trọng lợng giảm
(mg)
Tỷ lệ % trọng lợng
giảm

0 -20
0 - 250
0 - 180
180 - 370

460 - 600
0 - 1000
55
45
20
111
7,90
6,40
2,40
15,90

75 - 120
0 - 250
20 - 130
200 - 350
420 - 580
0 - 1000
56
42
20
25
112
8,00
6,00
2,86
3,57
16,00

- Trên các đờng XRD của phơng pháp tia Runtgen của các tầng đất (hình 15) cũng nh
theo cấp hạt < 2àm đến >56àm (hình 16), chúng tôi không phát hiện đợc hiệu ứng điển hình

H.16: XRD - Đất đen trên sản phẩm đọng Cacbonat

Bảng 10: Hàm lợng các khoáng sét và khoáng vật
trong đất đen đọng Cácbonát

Loại khoáng H: Chiều cao Pick
V: H khoáng/H Bohmit
V trung % khoáng
H
1
V
1
H
2
V
2
H
3
V
3
bình
A6: HVDT - Đất đen
trên sản phẩm đọng
Cacbonat A7: HDVT (chụp nổi)- đất đen trên sản phẩm đọng Cacbonat
Nh vậy bằng cả 3 phơng pháp trên, chúng tôi đã thu đợc kết quả phù hợp với ý kiến
của Nguyễn Vy - Trần Khải (1976) rằng khoáng sét của đất đen trên sản phẩm đá vôi khá phức
tạp và có Montmenilonit. Song theo chúng tôi, sự tồn tại của Montmenilonit ở dạng độc lập rất ít
mà chủ yếu là ở dạng hỗn hợp khoáng Illit - Montmenilonit.
2. Đất đen trên sản phẩm đọng Bazan
Loại đất này phân bố chủ yếu ở các thung lũng khá bằng phẳng của vùng cao nguyên Tây
Nguyên: Gia Lai-Kontum, Đắc Lắc và Lâm Đồng, thung lũng rộng lớn ở Cheo Reo, ở vùng đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status