Nghiên cứu hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy và hiệu quả chương trình dùng thuốc thay thế methadone tại thành phố hà nội - Pdf 39

CỤC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
TRUNG TÂM PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS HÀ NỘI

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

MÔ TẢ THỰC TRẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CHĂM SÓC
Y TẾ CHƯƠNG TRÌNH DÙNG THUỐC THAY THẾ
METHADONE CAN THIỆP TRONG NHÓM NGHIỆN CHÍCH
MA TUÝ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chủ nhiệm đề tài:

TS. Nguyễn Anh Quang

Cơ quan thực hiện: Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hà Nội
Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS
Mã số đề tài :

22/2012/NCKHCS

Hà Nội, tháng 12 năm 2012


CỤC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
TRUNG TÂM PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS HÀ NỘI

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

MÔ TẢ THỰC TRẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CHĂM SÓC
Y TẾ CHƯƠNG TRÌNH DÙNG THUỐC THAY THẾ
METHADONE CAN THIỆP TRONG NHÓM NGHIỆN CHÍCH

5. Thư ký đề tài: Ths. Bùi Thị Nga
6. Danh sách những người thực hiện chính:
− Ths. Lã Thị Lan - PGĐ Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hà Nội
− Ths. Nguyễn Phương Hoa - Trưởng khoa Giám sát - Trung tâm phòng
chống HIV/AIDS Hà Nội
− Ths. Trần Bích Hậu - Trưởng khoa Xét nghiệm - Trung tâm phòng chống
HIV/AIDS Hà Nội
− Ths. Lâm Ngọc Tân - Phó Trưởng phòng Tổ chức Hành chính - Trung
tâm phòng chống HIV/AIDS Hà Nội
− Ths. Nguyễn Hữu Tiến - Cán bộ khoa Truyền thông - Trung tâm phòng
chống HIV/AIDS Hà Nội
− CN. Dương Thị Liên - Phó Trưởng phòng Kế hoạch Tài vụ - Trung tâm
phòng chống HIV/AIDS Hà Nội
7. Các đề tài nhánh của đề tài: không có
8. Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2012


MỤC LỤC
CỤC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS..................................................................1
CỤC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS..................................................................2
NHỮNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT.......................................................................9
PHẦN A...........................................................................................................1
TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................................................1
PHẦN B............................................................................................................4
NỘI DUNG BÁO CÁO...................................................................................4
1. ĐẶT VẤN ĐỀ..............................................................................................4
1.3.1. Mục tiêu chung.......................................................................................7
Bảng 4. Một số mối liên quan trình độ học vấn,tình trạng hôn nhân..............41
với kết quả xét nghiệm....................................................................................41
6.2.1. Tiếp tục duy trì và đẩy mạnh hoạt động thông tin giáo dục truyền

41
41

Bảng 6

kim tiêm
Mối liên quan tới hành vi sử dụng bao cao su với gái

42

Bảng 7

mại dâm
Đặc điểm sức khỏe bệnh nhân tại Hà Đông và Từ Liêm

Bảng 8

tham gia điều trị Methadone
Tần suất sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình trong 1

49
53

tháng qua
Bảng 9 Hành vi QHTD với GMD
Bảng 10 Tần suất sử dụng BCS khi QHTD với GMD trong

53
53



Biểu đồ 4

Tần suất uống rượu, bia trong 1 tháng qua

23

Biểu đồ 5

Phân bố theo nghề nghiệp của người nghiện chích ma
tuý

24

Biểu đồ 6

Loại ma túy mà các đối tượng đã từng sử dụng

24

Biểu đồ 7

Tần suất tiêm chích ma túy trong 1 tháng qua

25

Biểu đồ 8

Loại ma túy mà các đối tượng đã từng tiêm chích



Tần suất làm sạch BKT của đối tượng trong 1 tháng
qua

28

Biểu đồ 14

Cách làm sạch BKT của đối tượng trong 1 tháng qua

28

Biểu đồ 15

Tỷ lệ đối tượng biết nơi có thể mua/nhận bơm kim
tiêm

29

Biểu đồ 16

Loại ma túy đối tượng sử dụng trong lần tiêm chích
gần nhất

29

Biểu đồ 17

Địa điểm tiêm chích trong lần gần nhất


Tuổi QHTD lần đầu

32

Biểu đồ 22

Tình trạng sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục
với vợ/người yêu lần gần nhất trong 12 tháng qua

32

Biểu đồ 23

Người gợi ý sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục
với vợ/người yêu lần gần nhất trong 12 tháng qua

33

Biểu đồ 24

Tần suất sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với
vợ/người yêu trong 12 tháng qua

33

Biểu đồ 25

Lý do sử dụng bao cao su khi QHTD với vợ/người yêu

34


Tần suất sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với
bạn tình bất chợt không trả tiền trong 12 tháng qua

36

Biểu đồ 31

Nguồn cung cấp bao cao su các đối tượng biết

37

Biểu đồ 32

Các triệu chứng của bệnh lây truyền qua đường tình
dục

37

Biểu đồ 33

Lý do đối tượng nghiên cứu nghĩ rằng có nguy cơ
nhiễm HIV

39

Biểu đồ 34

Kết quả tự đánh giá của người nghiện chích ma tuý
về hành vi nguy cơ nhiễm HIV


Trang
khoảng từ 1- 3 tháng

Biểu đồ 39

Tỷ lệ bệnh nhân đang trong giai đoạn dò liều và điều
trị duy trì

44

Biểu đồ 40

Hàm lượng trung bình theo liều điều trị Methadone

44

Biểu đồ 41

Các tác dụng phụ của thuốc khi điều trị bằng
Methadon

45

Biểu đồ 42

Trung bình số lần sử dụng Heroin trong ngày của bệnh
nhân đang điều trị Methadone theo thời gian

45

48

Biểu đồ 48

Dịch vụ chuyển tiếp được cán bộ giới thiệu đã sử dụng
trong tháng qua

49

Biểu đồ 49

Hành vi QHTD với bạn tình trong 7 ngày và 1 tháng sau
khi điều trị

50

Biểu đồ 50

Tần suất sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình trong 7
ngày và 1 tháng sau điều trị

50

Biểu đồ 51

Hành vi QHTD với bạn tình với gái mại dâm sau điều trị

51

Biểu đồ 52


55


NHỮNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
AIDS

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

(Acquired Immuno Deficiency Syndrome)
ARV
Thuốc chống vi rút (Antiretrovirus)
BCS
Bao cao su
BKT
Bơm kim tiêm
CBYT
Cán bộ y tế
CDTP
Chất dạng thuốc phiện
CLB
Câu lạc bộ
CTGTTH Chương trình giảm thiểu tác hại
CTV
Cộng tác viên
CSYT
Cơ sở y tế
CSHQ
Chỉ số hiệu quả
ĐĐV

Tỷ lệ
TCMT
Tiêm chích ma tuý
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TP
Thành phố
UNAIDS Tổ chức phòng chống AIDS Liên Hợp Quốc
VCT

(United Nation Acquired Immunodeficiency Syndrome)
Tư vấn và xét nghiệm tự nguyện
(Voluntary Counseling and Testing)


VSDTTƯ Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
(World Health Organization)


PHẦN A
TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài
a) Đóng góp mới của đề tài:
Nghiên cứu xác định được thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế
cho nhóm nghiện chích ma túy tham gia chương trình dùng thuốc thay thế
Methadone tại thành phố Hà Nội tạo điều kiện cho các nhà lãnh đạo, nhà

hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng.
e) Hiệu quả về xã hội.
Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone tại thành phố được triển khai đã đáp ứng được nguyện vọng của
người nghiện chích ma túy, gia đình người sử dụng ma túy và của cộng đồng
là giảm và tiến tới không còn người sử dụng ma túy. Nhiều gia đình có con
em nghiện chích ma tuý mong muốn được đưa con em đến tham gia chương
trình và kể cả các cấp lãnh đạo chính quyền địa phương cũng mong muốn
được đưa người nghiện ma tuý tại địa phương tham gia chương trình. Đa số
bệnh nhân tham gia điều trị đã có những cải thiện về sức khỏe, chuyển biến
tích cực về thái độ cũng như cuộc sống. Nhiều bệnh nhân trước đây chưa có
việc làm thì bây giờ đã và đang tích cực tìm việc làm và dành thời gian hỗ trợ
gia đình. Về an ninh xã hội và an toàn của cộng đồng dân cư xung quanh
người nghiện ma túy cũng đã được cải thiện. Các hành vi phạm tội có liên
quan tới ma tuý sẽ giảm bớt do người bệnh không quá bức xúc về vấn đề kinh
tế để có tiền mua ma tuý tiêm chích, từ đó tình hình trật tự, an toàn xã hội
được đảm bảo tốt hơn.
f) Các hiệu quả khác.
- Giảm sử dụng ma tuý.
- Giảm các hành vi tiêm chích không an toàn.
- Giảm các hành vi tình dục không an toàn.
- Giảm sự phụ thuộc vào ma túy.
- Giảm hành vi vi phạm pháp luật liên quan tới ma tuý.
- Cải thiện sức khoẻ thể chất.
- Cải thiện sức khoẻ tâm thần.
- Cải thiện chất lượng cuộc sống.
2


Giúp người dân trong cộng đồng hiểu thêm về một phương pháp mới điều

NỘI DUNG BÁO CÁO
1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tóm lược những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan
đến đề tài. Tính cấp thiết cần nghiên cứu của đề tài.
Thế giới đã và đang phải trải qua sự tàn phá nặng nề của đại dịch
HIV/AIDS, không một châu lục, một quốc gia, một cộng đồng hay một cá
nhân nào lại không bị HIV/AIDS đe dọa. Theo ước tính của Chương trình
phối hợp Liên hợp quốc về phòng chống HIV/AIDS đến cuối năm 2009, toàn
thế giới có khoảng trên 33,4 triệu người nhiễm HIV/AIDS còn sống, trong đó
trẻ em dưới 15 tuổi là 2,9 triệu [42], [43]. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực
trong phòng chống AIDS nhưng bức tranh toàn cầu về HIV/AIDS vẫn còn hết
sức ảm đạm, số người nhiễm HIV và số ca tử vong do AIDS chưa có dấu hiệu
thuyên giảm mà ngày càng nhiều làm ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế, chính
trị và xã hội đối với các quốc gia này. Tiêm chích ma tuý đã trở thành một
vấn nạn toàn cầu, không loại trừ một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nào,
Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Tệ nạn ma tuý không chỉ ảnh
hưởng tới sức khoẻ cộng đồng mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã
hội và an ninh chính trị của mỗi quốc gia [25], [26], [58], [60].
Theo ước tính trên toàn thế giới có khoảng hơn 10 triệu người TCMT,
trong đó 3,3 triệu người TCMT nhiễm HIV. Tại một số thành phố tỷ lệ nhiễm
HIV trong nhóm TCMT trong những năm gần đây đã tăng từ tỷ lệ rất thấp lên
đến 40% hoặc thậm chí cao hơn. Sự bùng nổ của đại dịch HIV chủ yếu là do
sự đan xen giữa sự lây lan trong nhóm TCMT và trong nhóm QHTD khác
giới. Phần lớn những người tiêm chích ma túy đang ở độ tuổi có hoạt động
quan hệ tình dục mạnh mẽ, nhiểu người tiêm chích ma túy còn tham gia vào
hoạt động mua bán dâm, sự kết hợp này càng làm cho nguy cơ lây nhiễm
HIV ra cộng đồng tăng cao. Cách thức lây truyền đang diễn ra ở một số nước
4


5


bệnh nhân NCMT cải thiện về sức khỏe, chuyển biến tích cực về thái độ cũng
như cuộc sống sau thời gian điều trị, hạn chế tốc độ lây truyền HIV [8].
Tại Thành phố Hà Nội, tính đến tính đến ngày 30/10/2012: Lũy tích
các trường hợp nhiễm HIV là 23.833, Lũy tích số BN AIDS là 8.992, trong
đó số ca tử vong do AIDS là 3.751 trường hợp. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trên
100.000 dân là 282/100.000. Hiện nay thành phố Hà Nội 100% các
Quận/huyện phát hiện có người nhiễm HIV/AIDS và 536/577 xã/phường có
người nhiễm HIV chiếm tỷ lệ 92,7%. Kết quả nghiên cứu giám sát hành vi kết
hợp với giám sát trọng điểm năm 2009 ở Thành phố Hà Nội cho thấy: 21,2%
người NCMT không sử dụng BKT sạch trong lần tiêm chích gần đây nhất,
chỉ có 36,8% phụ nữ bán dâm luôn luôn sử dụng BCS với các loại bạn tình
trong 12 tháng qua. Song song với sự phát triển kinh tế - xã hội thì những vấn
đề như buôn bán, sử dụng ma tuý, mại dâm tại Thành phố Hà Nội cũng gia
tăng. Số liệu của Ban chỉ đạo phòng chống AIDS, phòng chống ma túy và
mại dâm cho thấy đến 30/6/2012 toàn Thành phố có 21.392 người nghiện ma
túy có hồ sơ quản lý , mỗi năm làm thiệt hại cho kinh tế hàng nghìn tỷ đồng.
Đây cũng chính là nguy cơ làm lây nhiễm dịch HIV/AIDS của Thành phố Hà
Nội [31], [32], [33], [34].
Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện đến việc
xây dựng mô hình cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế chương trình dùng thuốc
thay thế Methadone can thiệp trong nhóm nghiện chích ma túy tại thành phố
Hà Nội. Do đó, kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần thiết thực trong việc hoàn
thiện mô hình cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế chương trình dùng thuốc thay
thế Methadone. Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Mô tả thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế chương trình dùng
thuốc thay thế Methadone can thiệp trong nhóm nghiện chích ma túy tại
thành phố Hà Nội”.

Methadone tại thành phố Hà Nội.
- Mô tả thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế chương trình dùng
thuốc thay thế Methadone can thiệp cho nhóm bệnh nhân nghiện chích ma
túy tại thành phố Hà Nội.
7


2. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI:

2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan tới đề tài.
Tiêm chích ma túy là một yếu tố ban đầu mạnh mẽ nhất làm gia tăng
lây nhiễm HIV ở Châu Á, tuy nhiên có một số nước như Ấn Độ, Thái Lan,
Cămpuchia dịch khởi đầu là do quan hệ tình dục. Phần lớn những người tiêm
chích ma túy đang ở độ tuổi có hoạt động quan hệ tình dục mạnh mẽ, nhiều
người tiêm chích ma túy còn tham gia vào hoạt động mua bán dâm, sự kết
hợp này càng làm cho nguy cơ lây nhiễm HIV ra cộng đồng tăng cao. Nguyên
nhân làm lây truyền HIV trên toàn cầu chủ yếu do lây truyền qua đường tình
dục, ước tính hơn 70% các trường hợp nhiễm HIV, phần còn lại chủ yếu do
sử dụng chung bơm kim tiêm trong nhóm nghiện chích ma túy, tiếp đến là do
quan hệ tình dục qua đường hậu môn, ngoài ra do truyền máu cũng chiếm
một tỷ lệ nhỏ làm lây truyền HIV/AIDS [42], [55], [56].
Châu Á, ước tính đến cuối năm 2007 có khoảng 5 triệu người đang
sống với HIV/AIDS, riêng năm 2007 có khoảng 380 ngàn người bị nhiễm
mới HIV và có khoảng 380 ngàn người tử vong do HIV/AIDS. Các quốc gia
có nhiều người nhiễm HIV là các nước Đông Nam Á, lây truyền HIV do quan
hệ tình dục không an toàn vẫn là nguyên nhân chính làm lây truyền đại dịch
HIV trong phần lớn các nước Châu Á, tuy nhiên, ở một số nước khác nghiện
chích ma túy là yếu tố nguy cơ chính làm lây truyền HIV như Trung Quốc có
hơn một số người đang sống với HIV là người nghiện chích ma túy, một số
vùng của Ấn Độ có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy cao

Trong giai đoạn 2007- 2012, tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm người
NCMT vẫn duy trì ở mức cao, tại một số tỉnh, thành phố tỷ lệ hiện nhiễm
trong nhóm này vẫn duy trì ở mức rất cao trong giai đoạn tới như Quảng
Ninh: 56%, TP Hồ Chí Minh 55%, Cần Thơ 45% vào năm 2012. Đặc biệt,
mặc dù khởi phát muộn hơn những tỉnh thành khác, nhưng nhiễm HIV trong
người NCMT tại khu vực Tây Bắc (bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện
Biên) có tốc độ gia tăng rất nhanh chóng, và nếu không có những biện pháp
can thiệp toàn diện, tỷ lệ hiện nhiễm tại những khu vực này có thể tăng cao
như tại các tỉnh, thành phố trọng điểm [6], [7], [9], [11].
9


Tóm lại: Hình thái lây nhiễm HIV ở Việt Nam vẫn đang trong giai
đoạn dịch tập trung, tỷ lệ nhiễm HIV rất cao trong nhóm NCMT, cao trong
nhóm gái mại dâm, bệnh nhân mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục và
thấp ở các quần thể khác. Theo khuyến cáo của các tổ chức Quốc tế, đây là
giai đoạn phù hợp để triển khai các biện pháp can thiệp [6], [7], [10], [27].
Trên thế giới, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone (gọi tắt là điều trị thay thế bằng Methadone) không phải là một
trong những giải pháp mới trong hoạt động can thiệp giảm tác hại dự phòng
lây nhiễm HIV. Ở Hồng Kông, chương trình Methadone đã được triển khai từ
những năm 1970, ở Hà Lan được triển khai từ những năm 1980 và Trung
Quốc cũng đã thực hiện chương trình này vào năm 2004. Chính vì vậy, các
công trình nghiên cứu về đề tài này rất phong phú và đa dạng với các mục
tiêu khác nhau. Điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm cả
giải pháp điều trị thuốc và giải pháp tâm lý xã hội. Mục tiêu cơ bản của điều trị
lạm dụng ma tuý là giảm sử dụng ma tuý, bằng cách đó sẽ giảm hành vi tiêm
chích và các hành vi nguy cơ khác có liên quan đến việc sử dụng ma tuý, hỗ
trợ cho các giải pháp can thiệp khác làm tăng hiệu quả dự phòng lây nhiễm

kim tiêm được bắt đầu từ năm 1986, có 32 triệu bơm kim tiêm được trao đổi
trong năm 1998. Chương trình giáo dục đồng đẳng trong nhóm ma tuý cũng
được áp dụng vào cuối những năm 1980. Kết quả, nhiễm HIV đã được khống
chế trong nhóm nghiện chích ma tuý còn khoảng 1-2%. Nhiễm HIV ở
Australia hiện tại đã được khống chế, đặc biệt trong nhóm nghiện chích ma
tuý, tỷ lệ mắc hàng năm ở mức rất thấp 1,2/100.000 dân (Ở Mỹ là 14,7/
100.000 dân) [39].
Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ rõ những hiệu quả của việc điều trị
nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone và
Buprenorphine. Sáu nghiên cứu đã được triển khai nhiều nơi khác nhau trên
Thế giới như Mỹ, Thuỵ Điển, Hồng Kông và Thái Lan. Kết quả các nghiên
cứu đã cho biết, hiệu quả về tần suất sử dụng ma tuý và hành vi phạm tội ở
nhóm can thiệp so với nhóm chứng khá rõ ràng, giảm sử dụng heroin, giảm
11


các hành vi phạm tội, giảm tỷ lệ tử vong. Một nghiên cứu về thử nghiệm lâm
sàng về điều trị Methadone của Porter J và cộng sự cũng có kết quả tương tự.
Nghiên cứu này đã được thực hiện trên 319 người tham gia, kết quả cho thấy
76% người tham gia điều trị giảm số ngày, số lần sử dụng Heroin có ý nghĩa
thống kê (p
Heroin trong nhóm người được điều trị bằng Methadone. Một nghiên cứu tại
Mỹ cho thấy điều trị bằng Methadone làm giảm tỷ lệ sử dụng Heroin 70%,
người nghiện các CDTP không tham gia điều trị Methadone có tần suất sử
dụng Heroin cao hơn 9,7 lần, tỷ lệ bị bắt giam cao gấp 5,3 lần so với những
người được điều trị (Báo cáo của Viện nghiên cứu Quốc gia về lạm dụng ma
tuý, Hoa Kỳ) [18], [30], [38].
- Giảm các hành vi vi phạm pháp luật: Nghiên cứu đánh giá Quốc gia
của Úc về trị liệu Dược lý ở những người lệ thuộc Opioid cho thấy: tỷ lệ tội
phạm do sử dụng Heroin ở những người được điều trị giảm từ 20% xuống
13% trong nhóm tội phạm về trộm cắp tài sản và giảm từ 23% xuống 9%
trong nhóm tội phạm liên quan đến buôn bán ma tuý [20], [38].
- Cải thiện sức khoẻ và chất lượng cuộc sống: Tỷ lệ tử vong ở người
nghiện Heroin tham gia điều trị thay thế bằng Methadone thấp hơn ở nhóm
người không được điều trị bằng Methadone từ 3 đến 4 lần tùy theo nghiên cứu.
Trong nghiên cứu của Henry Bill, tỷ lệ tử vong của bệnh nhân bỏ điều
trị Methadone cao hơn gấp 3 lần so với bệnh nhân duy trì điều trị (282 trường
hợp tử vong trên 10.000 người so với 76 trường hợp tử vong trên 10.000
13


người). Một nghiên cứu khác của Dole VP và Joseph H. cho thấy tỷ lệ tử
vong ở bệnh nhân bỏ điều trị cao gấp 2 lần so với bệnh nhân tiếp tục điều trị;
trong đó rượu là nguyên nhân chính dẫn tới tử vong của những bệnh nhân
đang điều trị và sử dụng Heroin quá liều là nguyên nhân chính dẫn tới tử
vong của những bệnh nhân bỏ trị [30], [38]. Weber R. và cộng sự đã tiến
hành theo dõi những người nhiễm HIV được điều trị và không được điều trị
bằng Methadone trong 3 năm. Kết quả cho thấy thời gian tiến triển tới giai
đoạn AIDS trong nhóm không sử dụng Methadone ngắn hơn so với nhóm sử
dụng Methadone. Một nghiên cứu do bác sỹ Henry Brill thực hiện cho thấy:
35% trong tổng số 1.230 bệnh nhân đầu tiên tham gia điều trị bằng

nghiệm nước tiểu cho thấy tỷ lệ dương tính với CDTP thấp, chỉ chiếm khoảng
5% trên tổng số hơn 1.000 mẫu nước tiểu. Nghiên cứu của Viện Sức khỏe
tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai cho thấy khi bắt đầu điều trị, 100% bệnh
nhân có mẫu xét nghiệm nước tiểu dương tính với CDTP, sau 24 tuần theo
dõi tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 9,26%.
- Tăng khả năng lao động: 12 trong số 60 bệnh nhân vẫn có khả năng
lao động để nuôi sống bản thân và trợ giúp gia đình (nghiên cứu của Viện tâm
thần Hải Phòng).
- Giảm chi tiêu: Sau 18 tuần điều trị, với tỷ lệ sử dụng ma túy giảm
xuống còn 6,44% đã giúp bệnh nhân và gia đình tiết kiệm rất nhiều tiền dành
cho việc mua ma túy.
- Giảm hành vi sai phạm: 88,88% bệnh nhân khi mới vào có hành vi sai
phạm, đến tuần 18 chỉ còn 2,77% bệnh nhân có hành vi sai phạm [9], [12].
- Ngoài ra trong Báo cáo “Đánh giá thực trạng quá trình triển khai mô
hình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại
thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh” của Bộ Y tế cho thấy tần
suất sử dụng Heroin ở những bệnh nhân tham gia điều trị Methadone cũng
giảm đi đáng kể: những bệnh nhân đã đạt liều duy trì chỉ còn sử dụng Heroin
khoảng 1-2 lần trong một tháng. Như vậy bệnh nhân tuy còn sử dụng ma túy
nhưng tần suất và liều Heroin sử dụng là rất thấp, điều này cho thấy hiệu quả
về kinh tế của chương trình là rất lớn. Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng bao cao su khi
15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status