CỤC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: Nghiên cứu lượng giá nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm
lao động tự do di biến động tại Hà Nội
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Chu Quốc Ân
ThS. Chu Văn Tiến
Cơ quan thực hiện:
-
Viện Chiến lược và chính sách y tế
-
Dự án LIFE-GAP
Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS
Năm 2012
1
CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: Nghiên cứu lượng giá nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm
lao động tự do di biến động tại Hà Nội
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
1. Tên đề tài: Nghiên cứu lượng giá nguy cơ lây nhiễm HIV trong
nhóm lao động tự do di biến động tại Hà Nội
2. Chủ nhiệm đề tài:
ThS. Chu Quốc Ân
ThS. Chu Văn Tiến
3. Cơ quan thực hiện đề tài:
o Viện Chiến lược và chính sách y tế
o Dự án LIFE-GAP
4. Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS
5. Thư ký đề tài: Ths Hoàng Thị Mỹ Hạnh
6. Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài (nếu có):
7. Danh sách những người thực hiện chính:
- Ths.Vũ Thị Minh Hạnh
- Ths. Hoàng Thị Mỹ Hạnh
- Ths. BS. Trần Vũ Hiệp
- Ths. Trần Hồng Cẩm
- Ths. Đỗ Hữu Thủy
- CN. Đỗ Thu Thủy
- CN. Tường Duy Trinh
- CN. Ngô Phương Thảo
- Ths. BS. Vũ Thị Mai Anh
- CN Nguyễn Minh Phượng
- CN. Hoàng Ly Na
3
BẢNG 13.LĐTDDBĐ TỰ ĐÁNH GIÁ VỀ NGUY CƠ NHIỄM HIV. 59
CỦA BẢN THÂN CỦA (%)....................................................................59
BẢNG 14.CÁC LÝ DO KHIẾN LĐTDDBĐ TỰ NHẬN MÌNH CÓ...60
NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV................................................................60
BẢNG 15.CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẾN NGHE/BIẾT VỀ
HIV.............................................................................................................60
5
BẢNG 16.Ý KIẾN CỦA LĐTDDBĐ NGUỒN CUNG CẤP THÔNG
TIN VỀ HIV (%)......................................................................................61
BẢNG 17.CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHU CẦU ĐƯỢC
CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ HIV/AIDS.............................................65
BẢNG 18.YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHU CẦU ĐƯỢC THÔNG
TIN VỀ CÁCH PHÒNG TRÁNH LÂY NHIỄM HIV..........................65
BẢNG 19.YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHU CẦU ĐƯỢC THÔNG
TIN VỀ ĐƯỜNG LÂY CỦA BỆNH HIV..............................................65
BẢNG 20.KINH NGHIỆM QHTD CỦA LĐTDDBĐ...........................66
BẢNG 21.LOẠI HÌNH BẠN TÌNH VÀ TẦN SUẤT QHTD CỦA
LĐTDDBĐ TRONG 6 THÁNG QUA (%).............................................67
BẢNG 22.HÀNH VI SỬ DỤNG BCS KHI QHTD TRONG 6 THÁNG
QUA CỦALĐTDDBĐ(%).......................................................................68
BẢNG 23.CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI QHTD VỚI
GMD TRONG 6 THÁNG QUA..............................................................71
BẢNG 24.CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC CÓ QHTD VỚI
GMD/BTBC TRONG 6 THÁNG QUA QUA PHÂN TÍCH ĐƠN BIẾN
(%)..............................................................................................................72
BẢNG 25.CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI QHTD VỚI
GMD/BTBC TRONG 6 THÁNG QUA QUA PHÂN TÍCH ĐA BIẾN.
....................................................................................................................73
BIỂU 7.SỐ LƯỢNG BẠN TÌNH TRONG 6 THÁNG QUA THEO
GIỚI (%)...................................................................................................66
BIỂU 8.Ý KIẾN CỦA LĐTDDBĐ VỀ LÝ DO SỬ DỤNG BCS KHI
QHTD (%).................................................................................................70
BIỂU 9.Ý KIẾN CỦA LĐTDDBĐ VỀ LÝ DO KHÔNG SỬ
DỤNGBCS (%).........................................................................................70
BIỂU 10.XỬ TRÍ CỦA LĐTDDBĐ KHI BỊ ỐM (N=329)...................78
BIỂU 11.CÁC TRIỆU CHỨNG NHIỄM KHUẨN/BỆNH LÂY
TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở LĐTDDBĐ THEO GIỚI (%)
....................................................................................................................79
BIỂU 12.CÁC LOẠI HÌNH CƠ SỞ XÉT NGHIỆM HIV/AIDS MÀ
LĐTDDBĐ ĐÃ ĐẾN SỬ DỤNG DỊCH VỤ (%; N=107)......................80
8
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCS
BTBC
BV
CĐ/ĐH
CSSK
GMD
LĐTDDBĐ
PVS
QHTD
TCMT
TLN
THPT
vào lượng giá kiến thức, thái độ, hành vi của người di biến động, trong đó
lại chủ yếu tập trung vào những người di biến động có nghề nghiệp ổn
định (như lái xe đường dài, thủy thủ, công nhân xây dựng, công nhân
trong các khu công nghiệp…) mà chưa quan tâm đến đối tượng lao động
có tự do đa dạng về loại hình nghề nghiệp, có mức độ di biến động cao.
Viện Chiến lược và chính sách Y tế phối hợp với Cục Phòng chống
HIV/AIDS tiến hành nghiên cứu "Lượng giá nguy cơ lây nhiễm HIV trong
nhóm lao động tự do di biến động tại Hà Nội” với sự tài trợ của Dự án
LIFE-GAP. Nghiên cứu tìm hiểu về tính dễ tổn thương với HIV, nguy cơ
lây nhiễm HIV và khả năng tiếp cận các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và
điều trị HIV trong nhóm lao động tự do di biến động tại Hà Nội, đề xuất
với các cơ quan chức năng các biện pháp can thiệp phù hợp với nhu cầu
dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV của nhóm đối tượng này.
Nghiên cứu đã đưa ra bức tranh toàn cảnh về nguy cơ lây nhiễm
HIV của nhóm đối tượng lao động tự do di biến động tại Hà Nội, đặc biệt
đưa ra những bằng chứng cụ thể và các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ lây
nhiễm HIV của nhóm đối tượng này. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra thực trạng
việc tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV và các yếu tố ảnh hưởng
đến khả năng tiếp cận dịch vụ của nhóm đối tượng này. Các kết quả
nghiên cứu cho thấy :
10
LĐTDDBĐ là đối tượng dễ tổn thương với HIV 13,4% thuộc diện
hộ nghèo; Thiếu liên kết xã hội: 100% những người đã gặp khó khăn trong
công việc và sinh hoạt hàng ngày đã không nhận được bất cứ sự hỗ trợ nào
từ chính quyền sở tại. Tiếp cận với các kênh thông tin còn nhiều hạn chế:
Chỉ 1/2 số LĐTDDBĐ có tivi; 11% không bao giờ tiếp cận bất cứ kênh
truyền thông đại chúng nào tại Hà Nội.
sử dụng dịch vụ KCB, gần 1/4 không tiếp cận dịch vụ KCB do không
có tiền (18%) và thời gian (5%).
• Xét nghiệm HIV: 17,8% trong số họ đã đi xét nghiệm HIV
• Chỉ 3,4% người trả lời cho biết trong 6 tháng qua đã nhận được BCS
và 2% có nhận được tài liệu truyền thông phòng tránh lây nhiễm HIV
liên quan đến sử dụng ma túy. Nữ có xu hướng ít được tiếp nhận các
vật dụng, tài liệu truyền thông về HIV hơn nam gần 2,6 lần.
2. Áp dụng vào thực tiễn và đời sống sã hội
Các kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin hữu ích trong hoạch định
chính sách trong công tác phòng chống HIV/AIDS. Mặt khác việc xác định
tính dễ tổn thương và nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm lao động tự do
di biến động tại Hà Nội nhằm đưa người lao động tự do di biến động đến
với các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và hỗ trợ hiện có trên địa bàn.
3. Đánh giá việc thực hiện của đề tài
a. Tiến độ: Đúng tiến độ
b, Thực hiện mục tiêu nghiên cứu:
- Thực hiện đầy đủ các mục tiêu đã đề ra
c, Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương:
- Tạo ra đầy đủ các sản phẩm đã dự kiến trong đề cương.
- Chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu so với đề cương đã đặt ra trong đề
cương.
d, Đánh giá việc sử dụng kinh phí:
- Tổng số kinh phí thực hiện đề tài 523.861.000 đồng
Trong đó : Kinh phí sự nghiệp khoa học : Không
Kinh phí từ nguồn khác : 523.861.000 đồng
4. Các ý kiến đề xuất
a, Đề xuất về quản lý khoa học công nghệ: Không
b, Đề xuất liên quan đến đề tài: Nghiên cứu đã đưa ra bức tranh toàn
cảnh về nguy cơ lây nhiễm HIV của nhóm đối tượng lao động tự do di biến
dân cư di biến động/nhập cư do các yếu tố về thể chế, môi trường xã hội và
các hành vi nguy cơ. Người di cư thường đối mặt với tình trạng đói nghèo
và các rào cản trong tiếp cận các dịch vụ xã hội hội cơ bản trong đó có
dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đồng thời các yếu tố khác như: cảm giác cô
đơn khi phải sống xa gia đình, được hoàn toàn tự chủ về tiền bạc do mình
làm ra, áp lực nhóm và thiếu các dịch vụ xã hội thân thiện càng làm tăng
thêm tính dễ tổn thương với HIV/AIDS đối với nhóm dân cư này, và cũng
khiến họ dễ tham gia vào quan hệ tình dục không an toàn với nhiều bạn
tình (bạn tình bất chợt/gái mại dâm) (Đặng Nguyên Anh và cộng sự 2008;
Lee, 2008).
Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy nguy cơ lây nhiễm
HIV/AIDS trong nhóm người di cư cao hơn so với người không di cư. Mặc
dù vậy, tỷ lệ hiện nhiễm HIV/AIDS ở nhóm di biến động thấp hơn nhiều
so với nhóm nguy cơ cao (gồm người hành nghề mại dâm và tiêm chích
ma túy) (Martinez-Donate và cộng sự, 2005; Nepal, 2007; Poudel và cộng
sự., 2003; Hesketh và cộng sự, 2006), đa số người di biến động chưa có
hiểu biết đúng về HIV/AIDS và các bệnh nhiễm khuẩn qua đường tình dục
và nhận thức của họ về các hành vi nguy cơ nhiễm HIV còn hạn chế
(Hesketh và cộng sự, 2008; Poudel và cộng sự, 2003; Dang và cộng sự,
2008; FHI, 2006). Người di chuyển thường có nhiều bạn tình hoặc quan hệ
tình dục với gái mại dâm (Magis-Rodriquez và cộng sự, 2009; Saggurti et
al., 2009; Poudel et al., 2003; Li và cộng sự, 2007; FHI Vietnam, 2006), sử
dụng đồ uống có cồn và ma túy (Đặng Nguyên Anh và cộng sự, 2008) và
quan hệ tình dục với người bán dâm (Tran và cộng sự, 2005; Tuan và cộng
sự, 2007; Vietnam IBBS, 2005-06).
14
Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á là nơi hiện tượng di cư và di
biến động trong dân cư đã và đang diễn ra rất sôi động. Bêncạnhcác nhóm
với HIV như thiếu kiến thức về HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua
15
đường tình dục, thiếu tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và dịch
vụ dự phòng HIV, có hành vi nguy cơ (quan hệ tình dục không an toàn,
tiêm chích ma túy) trong quá trình di cư.
Đến nay, rất ít nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến nguy cơ lây
nhiễm HIV trong nhóm lao động tự do di biến động đến các đô thị, thành
phố lớn kiếm sống bằng các việc làm mang tính mùa vụ. Việc cung cấp
thêm các bằng chứng về mức độ dễ tổn thương của LĐTDDBĐ tại các
thành phố lớn sẽ là rất hữu ích nhằm giúp các cơ quan chức năng xây dựng
và triển khai các biện pháp can thiệp phù hợp với nhu cầu dự phòng, chăm
sóc và điều trị HIV của nhóm đối tượng này.
Nghiên cứu này tìm hiểu về tính dễ tổn thương với HIV, nguy cơ và
các yếu tố bảo vệ trong nhóm lao động tự do di biến động, đặc biệt là lao
động mùa vụ, đến Hà Nội kiếm sống.
Nghiên cứu này trả lời một số câu hỏi sau đây:
(i)
LĐTDDBĐ có phải là đối tượng dễ tổn thương với HIV
không?
(ii) Những yếu tố nào góp phần dẫn đến tính dễ tổn thương với
HIV và nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm LĐTDDBĐ tại 5
quận Hoàn Kiếm, Long Biên, Thanh Xuân, Hoàng Mai và Từ
Liêm
(iii) Trong chừng mực nào thì LĐTDDBĐ phơi nhiễm với/hoặc
tiếp cận các can thiệp dự phòng và dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ
hiện có (như những dịch vụ dành cho nhóm tiêm chích ma túy
và người bán dâm).
(iv) Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ nêu trên
17
III.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Những vấn đề chung
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Người di biến động:
+ Người di biến động là những người thường xuyên sống xa gia đình,
thay đổi chỗ ở và nơi làm việc [6].
+ Người di biến động là những người di chuyển từ nơi này đến nơi
khác một cách tạm thời theo thời vụ, hoặc lâu dài vĩnh viễn, do tự nguyện
hoặc bị ép buộc. Người di chuyển với thời gian ngắn không có quy định
trong khung pháp lý, hoặc không vì lý do kinh tế vẫn được xem là di biến
động [6].
- Lao động tự do:
+ Hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy một định nghĩa khoa học hay thực tiễn
chính thức nào về “lao động tự do”. Tuy nhiên, qua các tài liệu hướng dẫn,
các báo cáo chuyên môn, một số tác giả đã đề cập đến khái niệm này. Ví
dụ như: Lao động tự do được coi là “ lao động phi kết cấu, tức là không
nằm trong cơ cấu nền kinh tế”[21]. Hay: “Lao động tự do là những đối
tượng lao động nằm ngoài hệ thống chính thức, không được kiểm soát bởi
thuế hay những quy định về lao động” [19].
+ Khái niệm “Lao động tự do” sử dụng trong đề tài này được hiểu là
những đối tượng lao động nằm ngoài hệ thống chính thức, không được
kiểm soát bởi các quy định về lao động, về thuế và không có người sử
dụng lao động ổn định.
Ngày nay, nhiều lao động có tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ cao
1.2. Tình hình dịch HIV/AIDS
1.2.1. Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới
Đã hơn 30 năm, nhưng dịch HIV/AIDS vẫn tiếp tục lây lan trên toàn thế
giới. Theo Báo cáo Cập nhật dịch HIV/AIDS toàn cầu (do UNAIDS và
WHO tổng hợp từ hơn 180 quốc gia, vùng lãnh thổ và công bố ngày
23/11/2011) thì trong năm 2010 toàn thế giới có khoảng 2,7 triệu mới
nhiễm HIV (dao động từ 2,4 đến 2,9 triệu), đưa số người nhiễm HIV/AIDS
đang sống trên trên hành tinh này đến cuối năm 2010 là 34 triệu (dao động
từ 31,6 triệu đến 35,2 triệu). Cũng trong năm 2010, thế giới ghi nhận
khoảng 1,8 triệu người bị chết do các bệnh liên quan đến AIDS (dao động
từ 1,6 triệu đến 1,9 triệu). 60% số người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống
trên thế giới hiện nay là dân các nước khu vực cận Sahara của châu Phi
[49].
Trước đó, trong Tuyên bố Chính trị về Phòng, chống HIV/AIDS với tiêu
đề “Tăng cường mạnh mẽ nỗ lực của chúng ta để xóa bỏ HIV/AIDS”
(được thông qua tại Hội nghị Cấp cao của Liên hợp quốc về phòng, chống
19
HIV/AIDS, từ ngày 08-10/6/2011 tại New York, Mỹ) Liên hợp quốc nhận
định, dịch HIV/AIDS vẫn đang tiếp tục lây lan, tiếp tục tạo ra tình trạng
khẩn cấp trên phạm vi toàn cầu và vẫn là một trong những thách thức ghê
gớm nhất đối với sự tiến bộ, phát triển và ổn định xã hội trên toàn thế giới.
Với hơn 7.000 người nhiễm mới HIV mỗi ngày (xảy ra chủ yếu ở các nước
có thu nhập thấp và trung bình), với hơn 30 triệu người đã chết do AIDS,
với hơn 34 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống; với hơn 16 triệu
trẻ em dưới 15 tuổi mồ côi do AIDS và mới chỉ có khoảng gần ½ số người
đã nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm vi rút này của mình... dịch
HIV/AIDS vẫn đang là một thảm họa chưa từng có của loài người, gây ra
nỗi thống khổ to lớn cho các quốc gia, các cộng đồng và các gia đình trên
Phân tích số người nhiễm HIV được báo cáo năm 2011 cho thấy nhóm
nghiện chích ma túy vẫn chiếm chủ yếu với tỷ lệ 43,1% (cao hơn gần 5%
so với cùng kỳ năm 2010), tiếp đến là nhóm đối tượng tình dục khác giới
chiếm 21% (tăng khoảng 8% so với cùng kỳ 2010). Các nhóm đối tượng
còn lại có sự thay đổi không đáng kể. Điều này rất đáng lưu ý khi nghiên
cứu về nhu cầu và khả năng tiếp cận dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm
người di biến động [ 5].
1.2.3. Tình hình HIV/AIDS trong nhóm di biến động
Trên thế giới: Nhóm di biến động từ lâu đã được coi là mắt xích
quan trọng trong việc làm lây lan HIV về mặt địa lý. Theo nghiên cứu của
Vũ Quốc Bảo (2003), các nhóm có sự di chuyển thường xuyên như: lái xe
đường dài, thợ xây dựng, thương nhân… đã trở thành tiêu điểm của những
nỗ lực dự phòng HIV trên thế giới. Lý do chính là bối cảnh xã hội liên
quan tới tính chất công việc đã làm tăng khả năng lôi cuốn họ vào những
hành vi có nguy cơ cao và đặt họ vào tình trạng dễ bị nhiễm HIV. Đồng
thời, họ sẽ trở thành “nguồn lây di động” vô tình hoặc cố ý cho người khác
ở những nơi họ đến trong quá trình làm việc cũng như khi trở về nơi bản
xứ [50].
Ở Việt Nam: Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á là nơi hiện
tượng di cư và di biến động diễn ra rất sôi động. Những người di cư và di
biến động đã và đang góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế, giao lưu văn
hoá và giáo dục của cả khu vực [33].Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích
cực, những người di biến động rất dễ bị tổn thương với HIV/AIDS. Cũng
theo các nghiên cứu, vấn đề di dân ngày càng trở nên phức tạp, làm tăng
nguy cơ lây truyền HIV giữa các địa phương trong nước cũng như qua
biên giới giữa các nước.
Bên cạnh các nhóm đối tượng khác như người bán dâm, người tiêm
chích ma túy, hiện nay lao động di cư cũng được xem là một trong những
nhóm có nguy cơ cao trong lây nhiễm HIV/AIDS. Phần lớn người di cư, đặc
biệt là phụ nữ, thường đang ở độ tuổi sinh sản và rất dễ bị tổn thương trước
2. Khả năng tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm di
biến động qua các nghiên cứu và báo cáo trong thời gian gần đây
2.1. Trên thế giới
Ở tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay, khi vẫn chưa có thuốc đặc hiệu
và vắc xin phòng ngừa HIV/AIDS, thì dự phòng lây nhiễm HIV vẫn được coi
là vấn đề then chốt được đặt lên hàng đầu. Tùy theo đặc điểm, tình hình
dịch HIV/AIDS, quan điểm và điều kiện thực tế của mỗi nước mà việc
22
triển khai các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV tại mỗi nước khác nhau.
Tuy nhiên dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV nhìn chung thường tập trung
vào một số chương trình: Truyền thông thay đổi hành vi (TTTĐHV); tiếp
cận cộng đồng; chương trình bơm kim tiêm, bao cao su; điều trị nghiện các
chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Dù ở bất kỳ quốc gia nào, di biến động dân cư là một yếu tố có tiềm năng
đáng kể trong mối liên hệ với mức độ lây nhiễm của HIV, đặc biệt là qua
các quan hệ tình dục không an toàn là một thực tế phổ biến. Sự tổn thương
đối với HIV gia tăng khi có những rào cản trong việc thực hiện các hành vi
an toàn. Mối liên hệ giữa di biến động dân cư và lây nhiễm các bệnh dịch,
trong đó có HIV đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới xem xét. Người di
biến động thường có những hành vi nguy cơ cao. Do xa nhà thường xuyên
và trong thời gian dài nên đời sống tình dục với vợ hay bạn gái bị gián
đoạn. Sự gián đoạn này, gắn với môi trường sống cách biệt với xã hội bên
ngoài, sẽ có thể dẫn đến hành vi quan hệ tình dục với người bán dâm nhằm
giảm đi sự cô đơn và căng thẳng trong công việc khi xa nhà cũng như để
đáp ứng được nhu cầu tình dục. Cuộc sống xa nhà không chịu sự ràng buộc
của các quan niệm xã hội liên quan đến hành vi tình dục và sự trung thực
có thể khiến người di biến động có lối sống ẩn danh và dễ dàng tìm đến
với người bán dâm tại nơi đến…[8] Từ đó, nhu cầu được tiếp cận các dịch
cư cho thấy kiến thức chung về HIV/AIDS và các con đường lây nhiễm
còn chưa đầy đủ. Khoảng 54% những người được hỏi cho rằng phụ nữ có
nguy cơ tổn thương với HIV lớn hơn, 9% số phụ nữ đã bị cưỡng bức tình
dục hiểu rằng họ có nguy cơ lây nhiễm HIV, 70% số người được hỏi cho
biết đã từng bị phân biệt đối xử (70%) [4].
Tại Campuchia, nghiên cứu của Nshgaya K (2002) dựa trên phỏng vấn sâu 20
lao động nữ ở một doanh nghiệp may chưa lập gia đình cho thấy số này có
quan hệ tình dục với nhiều bạn tình qua môi giới hoặc làm quen trực tiếp.
Nghiên cứu chỉ ra rằng địa vị kinh tế-xã hội thấp (học vấn thấp, tiền công lao
động thấp) cũng như trách nhiệm hỗ trợ cho gia đình là những nhân tố quyết
định dẫn đến hành vi bán dâm. Nghiên cứu này còn cho thấy phụ nữ bán dâm
tại các tụ điểm mại dâm còn bị bạo hành, phải uống rượu và sử dụng ma tuý
(cả do tự nguyện hoặc không tự nguyện), và tất cả đều chịu mức trả công rẻ
mạt. Trong xã hội Campuchia, người phụ nữ thường phải phục tùng cha mẹ và
người chồng nên bạn tình của họ trở thành ‘người yêu’ chứ không còn là
‘khách hàng’ (người mua dâm). Điều này dẫn đến việc không dùng BCS [ 20].
Tại Thái Lan, một nghiên cứu kiến thức, thái độ, hành vi và thực hành (KABP)
thực hiện năm 2000 trong nhóm 725 lao động nhà máy từ Miến Điện sang làm
việc tại tỉnh Tak cho thấy họ không hiểu biết nhiều về HIV. 41% đối tượng trả
lời phỏng vấn là nữ biết BCS chỉ dùng để tránh thai, cứ không có tác dụng
phòng, chống lây nhiễm HIV. Chỉ khoảng 15% nữ giới thuộc nhóm đối tượng
24
này đã từng nhìn thấy BCS. Quả thật, tỷ lệ sử dụng BCS trong nhóm này đặc
biệt thấp với chỉ 12% nam giới và 1,4% nữ giới cho biết đã từng dùng phương
tiện này [17].
Dọc theo biên giới Thái Lan và Lào, kết quả thu được từ một nghiên cứu
về tính dễ tổn thương và di biến động đã cho thấy mối quan hệ giữa di biến
động với tính dễ tổn thương với HIV không chỉ giới hạn trong các hành vi