Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Thùy
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1 Lý do chọn đề tài:
Ước muốn về một cuộc sống hạnh phúc đó là ước muốn từ muôn đời nay
không của chỉ riêng ai. Phật giáo chứa một triết lí nhân sinh cao cả với ước
muốn là cứu con người khỏi nỗi khổ muôn đời, với cứu cánh là giải thoát, không
phải bằng sự ban bố nhân đức mà ở chỗ con người có hạnh phúc hay không là
chính ở cuộc sống đức độ của con người, có như vậy con người mới có thể đạt
đến cái “Chân - Thiện - Mỹ” và nhập vào thế giới niếp bàn.
Ta thấy rằng đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam từ những kỉ nguyên tây lịch,
rồi tồn tại phát triển và chan hòa với dân tộc cho đến tận hôm nay. Nếu thời
gian là thước đo của chân lí thì với bề dày lịch sử đó đạo Phật đã khẳng định
những giá trị của nó trên mảnh đất này. Vì vậy tìm hiểu triết học Phật giáo giúp
con người biết hiểu hơn về một trường phái triết học lớn, về truyền thống văn
hóa mà tổ tiên đã để lại.
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo,
ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần ở người Việt Nam.
Phạm vi ngiên cứu: chỉ nghiên cứu những tư tưởng cơ bản của Phật giáo và
ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần ở người Việt Nam.
1.3 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cúu tiểu luận là phương pháp tổng hợp các phương
pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là logic
phân tích, tổng hợp gắn với lí luận thực tiễn để thực hiện đề tài.
Lớp Cao học khóa 19
Trang 1
chống lại sự ngự trị của đạo Bà-La-Môn, đặt biệt là chống lại quan điểm của kinh
Véda, nên Phật giáo được xem là dòng triết học không chính thống. ĐĐức Phật
xuất hiện như một mặt trời sưởi ấm: buổi ban mai làm tan đi bóng đen dày đặc
Lớp Cao học khóa 19
Trang 2
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Thùy
đã từ lâu che phủ cuộc đời. Ngài không chỉ là vị cứu tinh cho xứ Ấn Độ thời
bấy giờ, mà còn là người vạch ra hướng đi mới cho nhân loại.
2.1.2
Thân thế và sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca
Người sáng lập ra Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tất Đạt Đa
(Siddhattha), họ là Cù Đàm (Goutama), thuộc bộ tộc Sakya. Tất Đạt Đa sinh
ngày 15 tháng 4 năm 563 trước CN, là Thái tử của vua Tịnh Phạn, một nước
nhỏ nằm ở Bắc Ấn Độ (nay thuộc vùng đất Nepan).
Mặc dù sống trong cảnh cao sang quyền quý, dòng dõi Đế vương, vợ đẹp
con ngoan. Nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự
bất lực của con người trước khó khăn của cuộc đời. Năm 29 tuổi, ông quyết
định từ bỏ con đường Vương giả xuất gia tu đạo. Sau 6 năm tu hành, năm 35
tuổi, Tất Đạt Đa đã giác ngộ tìm ra chân chân lí “Tứ diệu đế” và “Thập nhị
nhân duyên”, tìm ra con đường giải thoát nỗi khổ cho chúng sinh. Từ đó Người
đã đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình và ông đã trở thành người sáng
lập ra tôn giáo mới là đạo Phật. Về sau ông được suy tôn với nhiều danh hiệu
vẫn để lại nhiều dấu ấn trong tâm hồn, tình cảm, phong tục tập quán và cảnh
quan của dân tộc Việt Nam.
2.2 Những tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo:
Tư tưởng triết học Phật giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó được viết
thành văn thể trong một khối kinh điển rất lớn, gọi là “ Tam Tạng”, gồm 3 Tạng
kinh điển là: Tạng Kinh, Tạng Luật, và Tạng Luận. Trong đó thể hiện các quan
điểm về thế giới và con người.
2.2.1
Quan Điểm của Phật giáo về thế giới quan
Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội
dung của 3 cặp phạm trù: Vô ngã, Vô thường và Duyên.
2.2.1.1 Vô ngã
Cho rằng thế giới xung quanh ta và cả con người không phải do một vị thần
nào sáng tạo ra, mà được cấu thành bởi sự kết hợp giữa 2 yếu tố: “Sắc” và
“Danh”.
Sắc: là yếu tố vật chất, là cái thể cảm giác được. Còn “Danh” là yếu tố tinh
thần, không có hình chất mà chỉ có có tên gọi. Chính cái “Danh” và
“Sắc” đó hợp lại với nhau tạo thành “Ngũ Uẩn”: Sắc (vật chất), thụ (cảm
giác), Tưởng (ấn tượng), Hành (suy lý) và thức (ý thức). “Danh” và “Sắc” tác
động qua lại tạo nên vạn vật và con người. Nhưng sự tồn tại của vật chất chỉ là
tạm thời, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi. Do đó cũng không có cái
gọi là “Tôi”.
2.2.1.1 Vô thường
Lớp Cao học khóa 19
Trang 4
sự vật mà ta gọi là quả là khi nó biến chuyển hình thành ra trạng thái mà ta
mong đợi, ước muốn. Mỗi vật vì thế điều có thể gọi là nhân hay là quả đều được
cả. Đối với quá khứ thì nó là quả, đối với tương lai thì nó là nhân. Sự biến
Lớp Cao học khóa 19
Trang 5
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Thùy
chuyển từ nhân đến quả có khi nhanh khi chậm, chứ không phải bao giờ cũng
diễn tiến trong một thời gian đồng nhất.
Tóm lại: Triết học Phật giáo bác bỏ quan niệm duy tâm cho rằng thần thánh
sáng tạo ra con người và vũ trụ. Phật giáo thừa nhận con người và sự vật được
cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần, các sự vật của thế giới trong sự
biến đổi không ngừng. Đó là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới, mặc dù
còn chất phác, mộc mạc nhưng rất đáng trân trọng.
2.2.2
Tư tưởng Phật giáo về nhân sinh quan
Quan điểm về nhân sinh quan của Phật Giáo bao gồm “Nghiệp”,
thuyết “Tứ Diệu Đế” và “Ngũ giới”.
2.2.2.1 Nghiệp báo
Là một định luật nhân quả trong vấn đề luân lý, hay như người
phương tây thường nói là “ảnh hưởng của hành động”. Phật giáo không nhìn
nhận có một linh hồn trường cửu được tạo nên một cách ngẫu nhiên và độc
của nó.
Đức Phật trong quá trình đi tìm con đường giải thoát, những kinh
nghiệm khổ đau của bản thân đã trải qua là những kinh nghiệm sâu sắc. Do đó
thuyết tứ diệu đế được xem như một quá trình biện chứng thực tại ngay đời
sống của người và cái đỉnh cao tận cùng ấy được Đức Phật giảng giải qua
dạng của tứ đế trên cơ sở tương quan nhân quả, đây chính là bằng chứng thực tại
mà Đức Phật đã đi qua. Vì thế nó không phải là mẫu thức lý tưởng, cũng không
phải là bản sao chép từ những ý nịêm.
Tứ Diệu Đế được Đức Phật giải minh thông qua bốn tiền đề triết học cơ
bản: Tri ân thực tại, sự chuyển hướng tư duy, sự chuyển hướng 2 chiều, giải
trình tư duy.
2.2.1.1.1
Khổ đế
Là thực trạng đau khổ của con người, triết lý về cuộc đời mỗi người là một
bể khổ, ràng buộc, hệ lụy, không tự do. Có tám cái khổ: sinh, lão, bệnh , tử, thụ
biệt khổ, sở cầu bất đắc, ngũ thụ uẩn, ta có thể chia thành ba phương diện.
Phương diện sinh lý: Khổ là một cảm giác khó chịu, bức xúc,
đau đớn.
Phương diện tâm lý: Là sự đau khổ do không vừa ý, không vừa
lòng… tạo nên đau khổ. Những mất mát thua thiệt trong cuộc đời làm mình khổ.
Phương diện Phật học: Khổ là ngũ thụ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành và thức). Khi ta
Vô minh: Đây là danh từ mang hàm nghĩa chỉ sự không hiểu biết chánh pháp,
không thông hiểu bản chất của cuộc sống, chứ không phải mang nghĩa thông
thường là không hiểu. Vì do vô minh mà con người chỉ lo bám víu đời sống
hôm nay, chỉ lo tìm kiếm lợi lạc cho riêng mình, mong muốn được thụ cảm
những những hạnh phúc, vui sướng, thoải mái tạm bợ bên ngoài nhằm thỏa mãn
giác quan. Đó là một sự ngu muội vô cùng, vì rằng hạnh phúc vĩnh cửu chỉ xuất
hiện từ trong nội tâm phát ra mà thôi. Còn nương tựa bên ngoài thì không bao
giờ là bền vững, nhất định nó sẽ tan biến và mất đi dù chúng ta có bám lấy sao
đi nữa.
Hành: Chữ Hành ta có thể hiểu đó chính là những hành động,
Lớp Cao học khóa 19
Trang 8
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Thùy
hành vi của thân, khẩu, ý gây tạo nên nghiệp quả. Yếu tố này do vô minh dẫn
đến, vì rằng không có hiểu biết mà con người hành động theo tham ái, hay dục
vọng của mình mà không có điều hòa, chế ngự tâm nên tội lỗi, khổ đau, buồn
phiền luôn xuất hiện theo sau.
Ái: Yếu Tố do Thọ dẫn đến. Chỉ những dục vọng mong muốn, yêu thích, thèm
khát… Vì khi con người nhận được những xúc cảm bên ngoài tác động vào, họ
phát sinh nên tham ái đối với những đối tượng giác quan đó.
Thủ: Yếu Tố do Ái dẫn đến. Chỉ sự bám chặt, bám víu, thủ chấp…. Mang
nghĩa gần giống với Luyến. Đây là yếu tố dẫn con người đi trong vòng luân
Lớp Cao học khóa 19
Trang 9
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Thùy
hồi mãi mãi. Do chúng ta bám chấp vào đời sống.
Hữu: Yếu tố do Thủ dẫn đến. Đây chỉ về Nghiệp gồm có quá trình tạo tác,
quá trình nhận lãnh. Vì do bám víu, xem điều gì hay vật gì đó là của mình nên
con người tạo những nghiệp quả nhằm đem lại lợi ích cho chính mình, tiến trình
thông qua 3 hành động từ thân, khẩu và ý.
Sanh: Yếu tố do Hữu dẫn đến. Yếu Tố Sanh mang hàm nghĩa là sự hình thành
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Thùy
mà có khổ hay không. Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng, vị kỹ hay phiền
não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc hạnh phúc.
2.2.1.1.3
Diệt đế
Phật giáo cho rằng mỗi nỗi khổ có thể tiêu diệt được để đạt đến trạng thái
niết bàn có ngã là hạnh phúc, an lạc. Đạo Phật quan niệm rằng, nguyên nhân
khổ là do sự vận hành của thập nhị nhân duyên, trong đó gốc rễ sâu xa là sự vô
minh. Vậy muốn diệt khổ phải đi ngược lại sự vận động của 12 nhân duyên,
bắt đầu tư diệt trừ vô minh. Vô minh bị diệt, trí tuệ bừng sáng, hiểu rõ được bản
chất tồn tại, thực tướng của vũ trụ và con người, không còn tham dục và kéo
theo những hành động tạo nghiệp nữa, tức là thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.
Nói cách khác, diệt trừ được vô minh, tham dục thì hoạt động ngũ uẩn dừng lại,
tu đến Niết bàn, tịch diệt, khi ấy mới hết luân hồi sinh tử. Phật giáo cho rằng,
một khi người ta đã làm lắng dịu lòng tham ái, chấp thủ, thì những nỗi lo âu,
sợi hải, bất an giảm dần, thâm tâm của bạn trở nên thanh thản, đầu óc tĩnh táo
hơn; lúc đó nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản hơn, rộng lượng hơn. Đó là một
hình thức hạnh phúc, cũng nhờ vậy tâm trí không bị chi phối bởi những tư
tưởng chấp thủ, nhờ không bị nung núng bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng
sợ hải mà tâm lý của bạn trầm tĩnh và sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật
hiện tượng sâu sắc hơn, chính xác hơn, thâm tâm được chuyển hóa, thái độ
ứng xử của bạn với mọi người xung quanh rộng lượng và bao dung hơn. Tùy
vào khả năng giảm thiểu lòng tham, vô minh đến mức độ nào thì đời sống của
bạn sẽ tăng phần hạnh phúc đến mức độ ấy.
2.2.1.1.4
nảy, thô tục, chửi bới, vu khống, phỉ bán.
Chính nghiệp: Hành động chân chính, không làm những việc tàn bạo, giả dối,
không sát sinh, chộm cắp, rượu chè nghiện ngập.
Chính mạng: Sống chân chính, không tham lam, vụ lợi xa rời nhân nghĩa.
Chính tinh tiến: Rèn luyện, tu tập không mệt mỏi là sự nỗ lực cam go để nâng
cao trí tuệ và đạo Đức của mình. Con người phải cố gắng nỗ l ực từ bỏ thói hư
tật xấu, học tập các đức tính tốt, không để mình bị lôi kéo vào các đức tính xấu
xa, hãy nâng cao phẩm chất mà mình có được.
Chính niệm : Là sự chú ý đến các hoạt động, cùng những chỗ yếu kém của bản
thân và ý mình, là suy luận chân chính.
Chính định: Sự tập chung tâm trí và con đường chân chính, không để bẩt cứ
điều gì lay chuyển, làm thoái trí, phân tâm.
Trong bát chính đạo thì chính kiến, chính tư duy thuộc về trí tuệ; chính
ngữ, chinh nghiệp, chính mệnh thuộc về giới luật; chính tinh tiến, chính niệm,
chính định thuộc về định.
phương diện từ bỏ tội lỗi cái nhân và đem lại trật tự, an vui cho xã hội mà
thành lập. Đức Phật không bắt buộc chúng phải triệt để tôn theo, và cũng
không hăm dọa nếu không tuân theo thì phải bị trừng phạt, việc giữ ngũ giới
hay không là hoàn toàn do chúng ta tự liệu lấy.
Bất sát: Không được giết hại. Đây là điều răn thứ nhất mà đức Phật khuyên
chúng ta không được giết hại sinh mạng từ loài người cho đến loài vật. Sinh
mạng có một giá trị quý báu , nhất là sinh mạng người, giết hại sinh mạng kia để
tô điểm cho sinh mạng này là một điều ác, không hợp đạo lý.
Bất dâm: Không tà dâm. Nếu giữ được giới không tà dâm, thì gia đình được hòa
thuận an vui hạnh phúc, mọi người nể trọng kính mến.
Bất vọng ngữ: Không nói dối. Nếu giữ giới không nói dối sẽ được mọi người
kính trọng, quý mến, tin cậy, dễ được gần gũi, việc làm thuận lợi uy tín được
nâng cao.
Lớp Cao học khóa 19
Trang 13
Tiểu luận Triết học
Trang 14
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Thùy
Chương 3: ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH
THẦN CỦA VIỆT NAM.
3.1 Ảnh hưởng của Phật giáo về mặt tư tưởng và đạo lý:
3.1.1 Ảnh hưởng của Phật giáo về tư tưởng
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật giáo là đạo lý Duyên Khởi, Tứ Diệu,
Đế và Bát Chánh Đạo. Ba đạo lý này là nền tảng các tông phái Phật giáo,
nguyên thủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dân Việt. Về giáo
lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo đã được truyền vào nước ta rất sớm,
giáo lý này đương nhiên đã trở thành nếp sống hết sức sáng tỏ đối với người
Việt Nam có hiểu biết, có suy nghĩ. Người ta biết lựa chọn ăn ở hiền lành, dù
tối thiểu thì đó cũng là kết quả tự nhiên âm thầm của lý nghiệp báo, nó chẳng
những thích hợp với giới bình dân mà còn ảnh hưởng đến giới trí thức. Có thể
nói mọi người dân Việt Nam đều ảnh hưởng ít nhiều qua giáo lý này. Vì thế, lý
nghiệp báo luân hồi đã in dấu đậm nét trong văn chương bình dân, trong văn
họ chữ Nôm, chữ Hán, từ xưa cho đến đã dẫn dắt từng thế hệ con người biết soi
sáng tâm trí mình vào lý nhân quả nghiệp báo mà hành động sao cho tốt đẹp
đem lại hòa bình an vui cho con người. Mỗi người dân Việt đều tự nhiên biết
câu: “ác giả ác báo”. Họ phát biểu câu rất đúng hoàn cảnh sự việc xảy ra cho
đối phương, hay “chạy trời không khỏi nắng”, mặt khác họ hiểu rằng nghiệp
nhân không phải định nghiệp, có thể làm thay đổi, do đó họ tự biết sửa chữa, tu
tập cải ác tùng thiện. Ta không nên ngồi một chỗ tưởng tượng đến những kết
quả tốt đẹp sẽ đến với mình, từ những hành nghiệp thiện, giảm bớt điều ác,
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Đó là những câu ca dao, tục ngữ mà bất cứ người Việt Nam nào cũng đều thấm
nhuần và thuộc nằm lòng, nói lên lòng nhân ái vị tha của dân tộc Việt Nam.
Ngoài đạo lý Từ Bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một đạo lý khác
của đạo Phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân
chúng sanh. Đạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp với sự phát
triển của tâm lý về tình cảm của dân tộc Việt. Tình thương ở mọi người bắt đầu
từ thân đến, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đến tình thương trong các
mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào quê hương đất nước và mở rộng đến
quê hương cao cả đối với cuộc sống của nhân lọai trên vũ trụ này. Đặc biệt
trong đạo lý tứ Ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hưởng rất sâu đậm
trong tình cảm và đạo lý của người Việt. Bởi Phật giáo đặc biệt chú trọng chữ
hiếu như thế nên thích hợp với nếp sống đạo lý truyền thống của dân tộc Việt.
Nhìn chung, đạo lý hiếu ân trong ý nghĩa mở rộng có cùng một đối tượng
Lớp Cao học khóa 19
Trang 16
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Thùy
thực hiện là nhắm vào người thân, cha mẹ, đất nước, nhân dân, chúng sanh, vũ
trụ, đó là môi trường sống của chúng sanh gồm cả mặt tâm linh nữa. Đạo lý Tứ
Ân còn có chung cái động cơ thúc đẩy là Từ Bi, Hỷ Xã khiến cho ta sống hài
hòa với xã hội, với thiên nhiên để tiến tới hạnh phúc chân thực và miên trường.
Từ cơ sở tư tưởng triết học và đạo lý trên đã giúp cho Phật Giáo Việt Nam hình
Lớp Cao học khóa 19
Trang 17
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Thùy
phối hợp và kết tinh của Đạo Phật với Đạo Nho va Đạo Lão, được các nhà vua
thời Lý công khai hóa và hợp pháp hóa. Chính vì đặc tính dung hòa và đều hợp
này mà Phật giáo Việt Nam đã trở thành tín ngưỡng truyền thống của dân tộc
Việt. Nó chẳng phải Phật giáo Ấn Độ hay Trung Hoa, Tiểu Thừa hay Đại Thừa,
mà nó là tất cả những khuynh hướng tâm linh của người Việt, đó là thực tại Tam
Vi Nhất của tinh thần Tam giáo Việt Nam. Trong nhiều thế kỷ hình ảnh Tam giáo
tổ sư với Phật Thích Ca ở giữa, Lão Tử bên trái và Khổng Tử bên phải đã in sâu
vào tâm thức của người dân Việt.
Ảnh hưởng Phật giáo qua sự dung hòa với các thế hệ chính trị xã hội: Phật giáo
tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng Phật giáo Việt Nam có chủ trương nhập thế,
tinh thần nhập thế sinh động này nổi bật nhất là các thời Đinh, Lê, Lý, Trần.
Trong các thời này các vị cao tăng có học thức, có giới hạnh điều được mời
tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những việc quan trọng của quốc gia.
Ta thấy có nhiều lý do khiến các thiền sư Việt Nam tham gia vào chính sự, thứ
nhất: họ là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống gần gũi nên thấu
hiểu được nỗi đau khổ của một dân tộc bị nhiều cuộc đô hộ của ngoại bang.
Thứ hai: các thiền sư không có ý tranh ngôi vị ngoài đời nên được các vua tin
tưởng và thứ ba: các thiền sư không cố chấp vào thuyết trung quân (chỉ biết giúp
nhân lao động. Người dân thích làm phước bố thí và sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèo
khó, hoạn nạn thể hiện đạo lý của dân tộc lá lành đùm lá rách.
Ảnh hưởng của Phật Giáo qua tập tục cúng rằm, mồng một và lễ
chùa: Tập tục đến chùa để tìm sự bình an cho tâm hồn, chiêm ngưỡng vẽ đẹp
thanh thoát của các pho tượng, lắng nghe tiếng chuông ngân vang, đã trở thành
một nét phong tục lâu đời "đi chùa lễ Phật" của tổ tiên. Những ngày lễ hội lớn
trong năm từ Phật Giáo như: lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, lễ tắm Phật, thật sự đã trở
thành ngày hội văn hóa của người dân Việt. Điều này phù hợp với nét sinh hoạt
cộng đồng, một sinh hoạt truyền thống. Đặc biệt đối với đồng bào Khơ-me Nam
Bộ, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật Giáo Nam tông, có những lễ dân tộc mang
đậm nét tưởng Phật Giáo như: lễ mừng năm mới (Chol-ch-nam-thơ-mây); lễ
cúng tổ tiên (Donta); lễ cúng trăng (Okcombok) ...đã trở thành những ngày hội vô
cùng sôi nỗi và đặc sắc của đồng bào Khơ-me. Những ngày đại lễ Phật Giáo vừa
nêu trên đã là chất keo gắn bó người dân Việt, nâng cao tình yêu thương đồng loại
và nảy nở ḷòng hy sinh, tính vị tha, củng cố ḷòng hiếu kính với ông bà, cha mẹ.
Ảnh hưởng đó ngày càng sâu rộng trong quân chúng nhân dân.
Phong tục tập quán tại Việt Nam trong quá trình tồn tại và phát triển đã
chịu nhiều tác động của trào lưu văn hóa khác nhau, nhất là từ Trung Quốc.
Trong đó Phật giáo dự phần quan trọng trong việc định hình và duy trì không í t
cá c tậ p tụ c dân gian mà chú ng ta thấ y vẫ n cò n tồ n tạ i cho đế n ngà y nay.
3.2.3
Ảnh hưởng của Phật giáo qua các loại hình văn hóa nghệ thuật
Ảnh hưởng của Phật giáo qua ca dao thơ ca:
Tư tưởng đạo lý của Phật Giáo cũng thường được ông cha ta đề cập đến
trong ca dao dân ca dưới đề tài này hay khía cạnh khác để nhắc nhở, khuyên
phần kết thức đều có hậu như: Lưu Bình Dương Lễ, Tấm Cám, Thoại Khanh
Châu Tuấn, Phạm Công Cúc Hoa,...
Ảnh hưởng của Phật giáo qua nghệ thuật tạo hình: Thể hiện ở các lĩnh vực kiến
trúc, điêu khắc, hội họa qua các di tích đền, chùa, miếu, tượng Phật, tranh cảnh
vật... tiêu biểu như: chùa Hương, chùa Thiên Mụ, chùa Keo; tượng Quan Âm
nghìn mắt, nghìn tay (Chùa Hạ), bộ tượng Thập Bát ở chùa Tràng (Mỹ Tho); Bức
tranh "Đi Lễ Chùa" của Nguyễn Siêu, "Bức Tăng" của Đỗ Quang Em.
Lớp Cao học khóa 19
Trang 20
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Thùy
Chương 4: KẾT LUẬN
Những tư tưởng triết học cao siêu, những triết lý tôn giáo lớn của Phật
giáo đã từng tỏa sáng đến nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy nghiên cứu Phật
giáo là hết sức cần thiết, Phật giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếp nghĩ,
lối sống của dân tộc Việt Nam, và đã trở thành bản chất và bản sắc của dân tộc
Việt Nam. Tìm hiểu và nghiên cứu về "Một số ảnh hưởng của Phật giáo đối
với đờ i số n g tinh thầ n củ a xã hộ i Việt Nam chúng ta càng thấy rõ nhận định
trên, qua quá trình lịch sử, trải qua bao cuộc biến đổi thăng trầm của đất nước,
Phật giáo Nam tông đã khẳng định mình và có một chỗ đứng vững chắc trong
lòng của dân tộc Việt Nam, tồn tại và phát triển cùng với dân tộc. Rõ ràng Phật
giáo đã đóng góp cho dân tộc Việt Nam nhiều thành tựu đáng kể về kinh tế,
chính trị, văn hóa nghệ thuật điêu khắc...tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc
Việt Nam.
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Thùy
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, Lược sử Phật Giáo Ấn Độ,
Thành hội Phật Giáo TP.HCM ấn hành, 1989.
2.
Hòa thượng Thích Tâm Thiện, Vấn đề cơ bản của Triết học
Phật Giáo, Nhà xuất bản TP.HCM, 2000.
3.
Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình Quốc gia
các bộ môn khoa học Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, 2004.
4.
Giáo trình triết học(Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu
sinh không thuộc chuyên ngành Triết học), Nhà xuất bản lý luận chính
trị, 2007.
5.
Lý luận về tôn Giáo, NXB Hà Nội.
Trang 23
Tiểu luận Triết học
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Thùy
MỤC LỤC
Lớp Cao học khóa 19
Trang 24