z
1
HỌC VIỆN NGÂN HÀ
***
TIỂU LUẬN:
TÂM LÝ CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2015 – 2016
Lớp: 17H
Người hướng dẫn: PGS.TS. Hoàng Yến
Nhóm thực hiện:
1. Trịnh Xuân Hải
2. Phạm Ngọc Vĩnh
3. Nguyễn Ngọc Bình
4. Nguyễn Huy Tùng
5. Lưu Quang Kiên
6. Lê Thị Phương Thúy
7. Lưu Phương Thư
8. Khuất Thị Thu
9. Lâm Kim Anh
10.Nguyễn Đức Duy
2
mất và có sự xoay chuyển tình cảm, suy nghĩ của các cá nhân về cùng một
hướng. Một tâm hồn chung được hình thành, nó dĩ nhiên có thể biến đổi, nhưng
hoàn toàn là một thể loại xác định, điều này không phải lúc nào cũng đòi hỏi sự
có mặt đồng thời của nhiều thành viên tại một địa điểm duy nhất.
Hiệu ứng đàn bầy là thuật ngữ dùng để chỉ cách mà con người bị ảnh
hưởng bởi những người xung quanh trong việc lựa chọn những hành vi, xu
hướng, và cách thức ra quyết định.
- Đặc điểm của đám đông:
5
Quy luật về sự đồng nhất tâm hồn đám đông: cho dù những thành viên
riêng biệt tạonên đám đông khác nhau kiểu gì, cho dù lối sống, việc làm, tính
cách, học thức của họ giống nhau hoặc khác nhau ra sao, chỉ cần qua sự trở
thành đám đông, tất cả họ sẽ cùng có một kiểu tâm hồn tập thể, điều này làm cho
họ cảm nhận, suy nghĩ, hành động theo kiểu hoàn toàn khác hẳn khi họ chỉ là
những cá thể riêng biệt cảm nhận, suy nghĩ và hành động.
- Đặc tính của đám đông:
+ Tính bốc đồng, tỉnh dễ thay đổi, tỉnh dễ bị kích thích của đảm đông:
Đám đông hầu như chủ yếu bị điều khiển bởi sự vô thức. Hành động của
họ bị điều khiển bởi hệ thần kinh thực vật nhiều hơn là bởi não bộ.
+ Tính dễ bị tác động và tính nhẹ dạ của đám đông: Nguyên nhân của nó
được giải thích bởi sự định hướng cực nhanh của tâm tư tình cảm theo một chiều
nào đó.
+ Tính thái quá và tính phiến diện của tình cảm đảm đông: Tất cả các tình
cảm tốt và xấu mà đám đông thể hiện ra có hai đặc điểm chính: chúng rất đơn
giản và rất thái quá.
+ Đạo đức của đám đông: Đám đông thường tuân theo những bản năng
thấp, bản năng này dựa trên sự tự bảo vệ lợi ích của mỗi cá nhân, tuy nhiên cũng
có lúc nó tỏ ra có những hành động cực kỳ cao thượng.
năm thập kỷ gần đây. Lý thuyết thị trường hiệu quả dựa trên niềm tin rằng luôn
tồn tại một cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái hiệu quả, đó là cơ chế kinh
doanh chênh lệch giá. Một khi tồn tại hiện tượng định giá sai trên thị trường,
nghĩa là giá của các công cụ (cổ phiếu, trái phiếu, sản phẩm phái sinh, ...) trên
thị trường tài chính không phản ánh một cách chính xác giá trị hợp lý (dựa trên
những nhân tố cơ bản), thì sẽ tồn tại cơ hội kinh doanh chênh lệch giá, và
“những nhả đầu tư hợp lý” khi tận dụng những cơ hội này (mua tài sản bị định
giá thấp, bán tài sản bị định giá quá cao chẳng hạn), sẽ góp phần điều chỉnh thị
7
trường về trạng thái hợp lý hay cân bằng.
Lý thuyết tài chính hành vi chỉ ra rằng, cơ chế điều chỉnh đó không phải
lúc nào cũng có thể xảy ra, nghĩa là sẽ có những trường hợp những nhà đầu tư
“hợp lý’ không thể chiến thắng những nhà đầu tư “bất hợp lý” và khi đó, thị
trường sẽ không hiệu quả, hay “sai” (tức là định giá quá cao hoặc quá thấp giá
cổ phiếu hay các loại sản phẩm tài chính khác).
Ứng dụng của tài chính hành vi không chỉ dừng lại trong việc giải thích
các hành vi không hợp lý của nhà đầu tư, mà đi xa hơn, nó có thể điều chỉnh các
mô hình định giá (bao gồm định giá chứng khoán, sản phẩm phái sinh...) Cho
đến ứng dụng trong lý thuyết quản trị Công ty hay cấu trúc vốn ừong tài chính
doanh nghiệp, lẫn giải thích tính tương tác giữa các thị trường khác nhau.
1.2.2. Những nguyên lý cơ bản của tài chính hành vi
Các mô hình được đề xuất bởi lý thuyết tài chính hành vi sẽ có thể đúng
nếu trên thị trường tồn tại một trong ba điều kiện cơ bản sau:
1.2.2.1.Hành vi không hợp lý của nhà đầu tư
Các nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và xử
lý “đúng” những thông tin mà họ có (và thị trường cung cấp), hoặc tiếp nhận
những thông tin sai lệch, không chính thống từ đó dẫn đến những kỳ vọng lệch
lạc về tương lai của cổ phiếu mà họ đầu tư vào. Có một số dạng lệch lạc trong
định giá sai sẽ xuất hiện và có thể bắt đầu kéo dài.
Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng tính lệch lạc (bất hợp lý) trong hành
vi là khá phổ biến đối với nhiều nhà đầu tư, và do đó, nó tạo thành một dạng
thường gọi là “hiệu ứng bầy đàn”, khiến cho giá một số cổ phiếu không phản
ánh giá trị “thực” (hay “hợp lý”) của chúng.
Như vậy, “hiệu ứng bầy đàn” là không tốt cho thị trường trong trường hợp
chúng ta xem hiệu ứng bầy đàn là tất cả đều hành động theo một mẫu hình hành
vi lệch lạc, không hợp lý, thấy ai làm sao thì làm vậy.
9
1.2.2.3. Giới hạn khả năng kỉnh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính
Lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nếu tồn tại định giá sai thì sẽ tồn tại
cơ hội để kinh doanh chênh lệch giá thu lợi nhuận, và chính hành vi kinh doanh
chênh lệch giá sẽ điều chỉnh giá trên thị trường về cân bằng. Nhưng nếu tồn tại
định giá sai, mà lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá để tận dụng
các khoản lợi nhuận này thì như thể nào? Và tại sao lại không thể thực hiện kinh
doanh chênh lệch giá khi có định giá sai ?
Một giải thích được chấp nhận rộng rãi trong trường phái tài chính hành
vi là có hai dạng định giá sai: một dạng là thường xuyên xảy ra và có thể kinh
doanh chênh lệch giá được, một dạng là không thường xảy ra, kéo dài và không
thể kinh doanh chênh lệch giá được (nói một cách khác, khó mà xác định được
khi nào mức định giá sai đã đạt tới giới hạn trên hay dưới và điều chỉnh lại).
Nếu tham gia “chỉnh sửa” kiểu định giá sai dạng hai thì rất dễ rơi vào
trạng thái “tiền mất, tật mang”.
1.3. Tâm lý đám đông của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
Tâm lý đám đông hay còn gọi là tâm lý bầy đàn xuất hiện trong nhiều
ngành, lĩnh vực trong xã hội và tác động rất lớn đến hoạt động đời sống đối với
những đám đông bị chi phối, trong đó, các nhà đầu tư bị chịu ảnh hưởng rất
nhiều từ tâm lý này. Trên thực tế, có thể thấy tâm lý bầy đàn thể hiện trong cuộc
trưởng ngay lập tức sau khi họ đã “xả hàng cổ phiếu” của họ. Điều này là bởi vì
tất cả các thành viên của đám đông cùng lúc sợ hãi và bán đi tất cả cùng một lúc.
Một khi sự việc đã xong, thị trường chỉ có thể đi lên. Lạc quan trở lại thị trường,
và đám đông bắt đầu tham lam mua lại.
Nhìn chung, các nhà đầu tư bị chi phối bởi các phản ứng cảm xúc như
lòng tham và sợ hãi, các nhà đầu tư có thể tham gia mua và bán cổ phiếu một
cách điên cuồng, tạo ra những bong bóng kinh tế và làm sụp đổ thị trường chứng
khoán. Tâm lý bầy đàn xuất hiện ở hầu hết các thị trường mới nổi thậm chí ngay
11
cả ở các thị trường phát triển thì vẫn có những giai đoạn tồn tại tâm lý bầy đàn.
Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng kiến nhiều vụ nổ bong bóng và khủng hoảng
như khủng hoảng bất động sản Florida- Mỹ (1920-1922), đại suy thoái thế giới
1929, khủng hoảng 1987, Khủng hoảng tài chính châu Á 1997, khủng hoảng
dotcom, tất cả đều do tâm lý bầy đàn gây nên. Do đó việc nghiên cứu tâm lý bầy
đàn có tác dụng rất tích cực nhằm nhận biết và hạn chế những rủi ro trong các
hoạt động kinh tế nói chung và chứng khoán nói riêng.
Áp dụng riêng cho thị trường chứng khoán, qua những khảo nghiệm thực
thế, các chuyên gia cho rằng tâm lý bầy đàn của thị trường thường thể hiện qua
16 cung bậc cảm xúc qua đó chi phối hành động của giới đầu tư.
Hình 1.1. Các cung bậc tâm lý của nhà đầu tư chứng khoán
Tâm lý của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán từng được nhắc đến
qua câu nói nổi tiếng của Sir.John Templeton đó là: “Thị trường đầu cơ sinh ra
trong sự ảm đạm, lớn lên bằng sự hoài nghi, phát triển nhờ sự lạc quan và chết
12
bởi sự thỏa mãn”.
mức tăng mạnh. Nhưng đặt trong bối cảnh chung một năm khó khăn của thế giới
thì đây cũng là một mức tăng khả quan và VN-Index đã lọt vào Top 5 chỉ số
chứng khoán tăng mạnh nhất Châu Á trong năm nay.
+ Khối ngoại tiếp tục thể hiện một sự chi phối khá mạnh thị trường khi
mua ròng gần 3000 tỷ, mặc dù đây là con số thấp nhất trong 3 năm trở lại đây.
Nguyên nhân là do sự lo ngại áp lực phá giá từ đồng nhân dân tệ sẽ tác động ảnh
hưởng xấu đến Việt Nam đồng, điều này phản ánh khá rõ qua việc khối ngoại
chủ yếu duy trì trạng thái bán ròng trong 5 năm tháng cuối năm 2015. Điểm
nhấn khác đáng chú ý là việc SSI chiếm đến 53% lượng mua ròng (giá trị gần
1600 tỷ) của cả năm, kế tiếp lần lượt là BID, MWG, STB, MBB.
+ Động lực tăng trưởng giúp thị trường tăng trong năm vừa qua đến rất
lớn từ đà tăng của các mã Bluechips như VNM, FPT, BVH, VCB, … Trong khi,
nhóm đầu cơ có một năm khó khăn với nhiều cổ phiếu thanh khoản cao đang ở
dưới mệnh giá như FLC, FIT, KLF, … Đáng chú ý, HAG có một năm cực kỳ
đáng quên khi đóng cửa cuối năm ở mức 10,400 đồng, ghi nhận mức thấp nhất
kể từ khi chào sàn.
Theo chuyên gia Barry Weisblatt – Giám đốc bộ phận nghiên cứu của
Viet Capital Securities, công ty môi giới lớn thứ 3 Việt Nam – cho biết: “Tình
14
hình triển vọng năm 2015 khả quan hơn khi chúng tôi dự đoán thị trường sẽ tăng
trưởng mạnh do được dẫn dắt bởi sự gia tăng của ngành tiêu dùng và sản xuất.
Tình hình thị trường trong nước cũng hoàn toàn sáng sủa”.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế gần 7% vào năm nay sẽ biến Việt Nam trở
thành một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất thế giới và đem lại
cho các nhà đầu tư một nơi trú ẩn an toàn trong bối cảnh khu vực đang phải chịu
dư chấn từ sự giảm tốc kinh tế Trung Quốc.
Theo nhận định của giới chuyên môn, các công ty trong lĩnh vực tiêu
dùng, công nghiệp, xây dựng và năng lượng sẽ góp phần thúc đẩy sự hồi phục
hình thành từ cuối năm 2011 tới nay, tuy nhiên do các yếu tố hỗ trợ và rủi ro đan
xen nên diễn biến thị trường cũng có sự tăng giảm tương ứng, trong đó cận dưới
của chỉ số VN-Index có sự tăng dần theo đường xu thế tăng dài hạn và đường
cân trên của chỉ số này biến động trong vùng giới hạn quanh ngưỡng 620 - 640
16
điểm. Kịch bản này phản ánh những hạn chế của thị trường do tác động của yếu
tố tỷ giá biến động trong năm và dòng tiền thị trường có phần bị hút vào các
thương vụ IPO lớn.
Theo các chuyên gia chứng khoán, kỳ vọng thị trường thời điểm cuối
năm 2016 sẽ là thời điểm mà chỉ số VN-Index có thể bứt phá qua đường cận trên
tại vùng 640 điểm để hình thành xu thế tăng mới tích cực hơn với sự phản ánh rõ
ràng hơn những chuyển biến tích cực của nền kinh tế nói chung và của hệ thống
doanh nghiệp nói riêng.
Hình 2.2. Diễn biến thị trường chứng khoán giai đoạn 2015 – 2016
Như vậy, có thể thấy, tổng quan thị trường chứng khoán giai đoạn 2015 –
2016 có nhiều sự khả quan và kỳ vọng. Nghiên cứu của BSC cho thấy, thị
trường dự báo sẽ có sự phân hóa mạnh giữa các ngành và nhóm cổ phiếu.
Những ngành được đánh giá cao trong năm 2016 nhờ yếu tố chu kỳ, chuyển
dịch dòng vốn đầu tư nước ngoài và có lợi thế cạnh tranh tốt nhờ các hiệp định
thương mại như: bất động sản, ngân hàng và bảo hiểm, xây dựng và hạ tầng,
cảng biển, công nghệ thông tin, dệt may.
17
Ngoài ra, những cổ phiếu hết room và được mở room cùng với hoạt động
Giai đoạn hưng phấn: Đây là giai đoạn các nhà đầu tư lạc quan tình hình
kinh tế vĩ mô kích thích tăng trưởng kinh tế như hiệp định TPP, FTA, nới room
cho Nhà đầu tư nước ngoài. Vnindex bước vào xu hướng Uptrend tăng từ 529
lên tới đỉnh 641, đây là giai đoạn tăng mạnh và cũng chính là con sóng lớn nhất
của năm. Giai đoạn này Chính thức ký kết FTA giữa Việt Nam và Liên minh
kinh tế Á Âu (29/05), nhóm cổ phiếu dệt may (TCM, TNG, GMC..), Thủy sản
(VHC, HVG..)…tăng giá khá mạnh. Bên cạnh đó, giai đoạn này nhóm cổ phiếu
19
ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm cũng tăng giá mạnh và đóng vai trò “dẫn
sóng”. Trong thời gian này, HCM tăng 62%, VCB tăng 48%, BID tăng 56%,
BVH tăng 109%.
Giai đoạn lo ngại, băn khoăn, chán nản: Vnindex bước vào xu hướng
điều chỉnh giảm từ đỉnh 617 với thanh khoản ảm đảm. Việc FED đã nhất trí
nâng lãi suất lần đầu tiên trong gần 1 thập kỷ, từ mức 0 – 0,25% lên 0,25 – 0,5%
và cú trượt dốc của giá dầu thô thế giới vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại, xuống
gần mức thấp kỷ lục của năm 2008, giao dịch quanh mốc dưới 40 USD/thùng và
đang làm dấy lên những lo ngại có thể rơi về mức 20USD/thùng đã ảnh hưởng
lớn đến tâm lý chung của thị trường, đặc biệt là nhóm cổ phiếu dầu khí.
Giai đoạn hy vọng: Đây là giai đoạn tâm lý kỳ vọng sự phục hồi của thị
trường vừa qua sẽ còn tiếp diễn. Sự quan tâm bắt đầu dần trở lại ở một số bộ
phận nhà đầu tư. Tâm lý thị trường trở nên tích cực hơn khi đón nhận nhiều
thông tin hỗ trợ. Biểu hiện cụ thể năm 2016 như:
-Kinh tế vĩ mô có những chuyển biến về chính sách tích cực hơn
-Lợi nhuận của doanh nghiệp bắt đầu cải thiện/hồi phục
-Thị trường chứng khoán bắt đầu có nhịp hồi phục tốt về cả điểm số và
thanh khoản.
- Tâm lý thị trường được cải thiện rõ rệt và bắt đầu có kỳ vọng cho sự hồi
phục tiếp theo.