MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ....................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu........................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 6
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 6
6. Đóng góp của khóa luận .......................................................................... 7
7. Bố cục của khóa luận ............................................................................... 7
NỘI DUNG ........................................................................................................ 8
Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI MƯỜNGỞ VIỆT NAM ...... 8
1.1. Nguồn gốc ............................................................................................. 8
1.2. Sự phân bố dân cư ................................................................................. 9
1.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội .................................................................... 10
1.3.1. Kinh tế.......................................................................................... 10
1.3.2. Xã hội........................................................................................... 13
1.4. Đặc điểm về văn hóa ........................................................................... 15
1.4.1. Văn hóa vật chất........................................................................... 15
1.4.2. Văn hóa tinh thần ......................................................................... 18
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................ 23
Chương 2. NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG VĂN HÓA ẨM THựCCỦA NGƯỜI
MƯỜNG Ở VIỆT NAM .................................................................................. 25
2.1. Khái niệm về văn hóa và văn hóa ẩm thực ......................................... 25
2.2. Ẳm thực của người Mường trong bữa ăn thường ngày ...................... 27
2.2.1. Đồ ăn............................................................................................ 27
2.2.2. Đồ uống ....................................................................................... 34
2.3. Ẩm thực của người Mường vào dịp lễ tết ...........................................37
2.3.1. Giới thiệu đôi nét về lễ tết của người Mường..............................37
2.3.2. Ẩm thực của người Mường vào dịp lễ tết....................................41
kết một cách ngắn gọn bằng câu nói: “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui,
ngày lui, tháng tới”. Qua đó để thấy được nét độc đáo trong ẩm thực của người
Mường ở Việt Nam, ẩn chứa trong đó giá trị tinh thần, mang đậm cốt cách của
con người vừa đơn giản, mộc mạc lại vừa hài hòa, bổ dưỡng, góp phần đem lại
sự tự hào cho dân tộc.
Ngày nay, khi nền kinh tế phát triển, điều kiện sống của con người được
nâng cao sự giao lưu và tiếp biến văn hóa diễn ra mạnh mẽ thì quan niệm của
con người về ẩm thực cũng dần thay đổi.
Hơn nữa, trong xu thế hội nhập giao lưu diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh
vực thì việc bảo tồn và phát huy nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của người
Mường là điều vô cùng quan trọng, góp phần lưu giữ bản sắc văn hóa của dân
tộc Việt Nam.
1
Văn hóa ẩm thực của người Mường nói riêng và văn hóa ẩm thực của dân
tộc Việt Nam nói chung ngày càng được đề cao. Bởi vậy nó đã trở thành một
trong những lĩnh vực thu hút được nhiều người nghiên cứu nhất là những ai
muốn tìm hiểu về nét độc đáo trong ẩm thực các dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên,
những công trình nghiên cứu riêng về văn hóa ẩm thực người Mường vẫn còn
hạn chế. Hầu hết chỉ đề cập đến văn hóa ẩm thực Việt Nam nói chung mà chưa
bàn nhiều về văn hóa ẩm thực của người Mường. Có chăng, những bài viết đó
cũng chỉ có ở một vài tác giả nghiên cứu về ẩm thực của từng vùng mà có dân
tộc Mường sinh sống, hay những bài báo, tạp chí ngắn. Do vậy, họ chưa có cái
nhìn cụ thể về văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt Nam.
Tự hào là đứa con được sinh ra và lớn lên ừên quê hương có dân tộc
Mường sinh sống. Bản thân tôi muốn khám phá những nét độc đáo của dân tộc
Mường mà ẩm thực là lĩnh vực không ngoại lệ. Bỏi lẽ nó vừa đơn giản, mộc
mạc mà giản dị, không cầu kỳ nhưng mang trong mình những nét độc đáo và
dung liên quan đến ẩm thực truyền thống của người Mường qua bữa cơm, bữa
ăn trong dịp cúng lễ, nguồn thức ăn, làm bếp, tiếp đãi khách. Tác phẩm trên là
nguồn tài liệu hữu ích giúp tôi thực hiên đề tài.
Viết về văn hóa ẩm thực người Mường tỉnh Hòa Bình có cuốn: “Văn hóa
ẩm thực dần gian Mường Hòa Bình”của tác giả Bùi Chỉ (NXB Văn hóa Thông
tin, Hà Nội, 2001); “Ẵm thực dân gian Mường vùng huyện Lạc Sơn, Hòa Bình”
của tác giả Bùi Huy Vọng (NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2013). Đây cũng
là một trong những tác phẩm điển hình đề cập một số nét về tập quán, phong
tục, bản sắc riêng của văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình: rượu cần,
các loại bánh và các món ăn truyền thống. Bên cạnh đó, tác giả còn sưu tầm
một số câu tục ngữ, dân ca trong văn hóa ẩm thực dân gian, các bài khấn của
thày Mo trong dịp lễ tết.
Viết về văn hóa ẩm thực người Mường ở Phú Thọ có cuốn: “Văn hóa ẩm
thực đất Tổ”do tác giả Nguyễn Đình Vỵ chủ biên. Bên cạnh việc trình bày về
đặc sản nổi tiếng vùng đất tổ Hùng Vương - Phú Thọ, tác giả còn đề cập đến
3
một số món ăn dân dã của đồng bào dân tộc miền núi, đặc biệt là dân tộc
Mường thông qua một số món ăn độc đáo xứ Mường. Tiếp đến là cuốn:
“Những làng văn hóa, vãn nghệ dân gian đặc sắc ở tỉnh Phú Thọ ” do Đoàn
Hải Hưng, Trần Văn Thục và Nguyễn Phi Nga chủ biên (NXB Khoa học Xã
hội, Hà Nội, 2009). Tác phẩm không chỉ dựng lại diện mạo của lịch sử của Tỉnh
mà còn nghiên cứu tất cả các lĩnh vực có liên quan đến văn hóa như: phong tục
tập quán, lễ hội, văn học, âm nhạc và đặc biệt là ẩm thực. Trong tác phẩm, tác
giả đã đề cập đến văn hóa ẩm thực của đồng bào các dân tộc thiểu số mà dân
tộc Mường được tác giả chú ưọng hơn cả. Thông qua việc giới thiệu đôi nét về
các món ăn truyền thống của dân tộc Mường nhằm góp phần quảng bá, giới
thiệu du khách thập phương về tinh hoa văn hóa của miền đất cội nguồn. Công
thực người Mường. Song những công trình nghiên cứu đó là cơ sở quan trọng
để tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề, ừên cơ sở kế thừa một phần công trình
nghiên cứu của những người đi trước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Khóa luận nhằm tìm hiểu văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt Nam,
thông qua hai khía cạnh đó là ẩm thực của người Mường trong cuộc sống hàng
ngày và ẩm thực của người Mường vào dịp lễ tết.
Rút ra những đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt
Nam, so sánh vói các dân tộc khác để thấy được nét độc đáo ừong ẩm thực của
người Mường.
Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa
ẩm thực của người Mường của Việt Nam trước những thay đổi của xã hội hiện
nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nhiên cứu ưên, tôi tiến hành các nhiệm vụ
sau:
Tìm hiểu một cách khái quát chung về người Mường ở Việt Nam từ nguồn
5
gốc, sự phân bố dân cư, đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội.
Tìm hiểu về văn hóa ẩm thực của người Mường trong cuộc sống hàng
ngày và vào dịp lễ tết thông qua một số món ăn và đồ uống tiêu biểu. Từ đó để
thấy được nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt Nam.
Đưa ra một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực của
người Mường ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
biệt là các đầu bếp để có kiến thức, kinh nghiệm sâu sắc và ý nghĩa nhất.
Ket họp phương pháp lịch sử và lôgic trong đó phương pháp lịch sử là chủ
yếu.
Sử dụng phương pháp tổng họp, so sánh, đối chiếu để xác minh sự kiện.
So sánh văn hóa ẩm thực của dân tộc Mường với văn hóa ẩm thựccủa các dân
tộc khác để từ đó giúp tôi hiểu được những nét đặc trưng tiêu biểu của văn hóa
ẩm thực của người Mường ở Việt Nam.
6. Đóng góp của khóa luận
Với nội dung đề tài này, tôi mong muốn đưa ra một cái nhìn cụ thể về văn
hóa ẩm thực người Mường trong cuộc sống hàng ngày và trong các dịp lễ tết.
Từ đó, tôi rút ra đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người Mường, đồng thời
đề xuất một số biện pháp cơ bản để giữ gìn và phát huy nét độc đáo trong văn
hóa ẩm thực của người Mường ở Việt Nam. Cuối cùng từ kết quả nghiên cứu
của đề tài có thể lấy làm tài liệu tham khảo cho công tác tuyên truyền, giáo dục
ý thức bảo vệ nét đẹp văn hóa của dân tộc, cung cấp thêm thông tin, tư liệu
phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu về văn hóa ẩm thực nói chung và văn hóa
ẩm thực dân tộc Mường nói riêng.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của đề tài cấu trúc làm hai chương:
Chương 1. Khái quát chungvề người Mường ở Việt Nam
Chương 2. Nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt
Nam
7
NỘI DUNG
Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI MƯỜNG
Ở VIỆT NAM
Vào các thòi kỳ sau, do những nguyên nhân và điều kiện lịch sử nhất định,
sự phân hóa đã nảy sinh và khối cộng đồng Lạc - Việt đã dần phân ly làm hai.
Quá trình phân hóa diễn ra một cách lâu dài, chậm chạp không đồng đều và chủ
yếu trong thời Bắc thuộc. Từ sau thế kỷ X, XI Việt và Mường bắt đầu trở thành
hai tộc người nhưng vẫn có sự giao lưu về kinh tế và văn hóa.
Mặc dù vậy, cùng vói sự biến động của lịch sử cũng như quá trình giao
lưu kinh tế, văn hóa với các dân tộc anh em khác. Cho đến nay Mường đã được
người Mường chấp nhận và coi đó là tộc danh của mình và hiển nhiên họ tự
nhận mình là người Mường như ngày nay. Do đó, Mường trở thành tên gọi
chính thức và duy nhất của tộc người này để phân biệt vói các tộc người khác.
Tộc danh Mường đã được các tổ chức, thể chế, các nhà nghiên cứu, nhân dân
dùng khi tìm hiểu và nghiên cứu dân tộc này là người Mường.
1.2. Sự phân bổ dân cư
Dân tộc Mường là một trong những dân tộc thiểu số đông nhất ở miền Bắc
nước ta. Theo Tổng điều tra dân sổ và nhà ở năm 2009, người Mường ở Việt
Nam có dân số 1.268.963 ngưòi [27].
Người Mường có địa bàn cư trú khá rộng từ Yên Bái, Sơn La, Lai Châu,
Phú Thọ, Hòa Bình đến Ninh Bình, Thanh Hóa, trong đó tập chung đông nhất
ỞHòa Bình. Ở Hòa Bình có 501,956 người, chiếm 63,9% dân số toàn tỉnh và
chiếm 39,6% trong tổng số người Mường ở Việt Nam, tập chung đông nhất ở
các huyện như Lương Sơn, Kỳ Sơn,Tân Lạc, Lạc Sơn. Ở Thanh Hóa có
341,359 người, chiếm 10% dân số toàn tỉnh và 26,9% tổng số người Mường ở
Việt Nam, tập trung đông nhất ở các huyện Ngọc Lặc, cẩm Thủy, Thạch Nhàn,
Lang Chánh. Ở Phú Thọ có 184,141 người, chiếm 14% dân số toàn tỉnh và
9
14,5% tổng số người Mường tại Việt Nam, tập chung đông đảo ở các xã vùng
cao huyện Thanh Sơn, Tân Sơn. Ở các tỉnh khác,người Mường phân bố dân cư
Trong công việc đồng áng, người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thủy
lợi nhỏ. Thành ngữ Mường có câu: “làm cơm phải có mó, làm ló phải có đác”
(nghĩa là nấu cơm phải có nước, cấy lúa phải có nước). Nguồn nước chính
thường là nước mưa và nước của các con suối chảy xuôi giữa lòng thung lũng,
các khe mạch chảy thường xuyên hay định kỳ. Dựa trên các nguồn nước tự
nhiên, người Mường đã xây dựng được một hệ thống thủy lợi khá hoàn chỉnh.
Đồng bào làm mương, phai để lấy nước. Dọc theo mương, ruộng nào cần tưới,
người ta xẻ rãnh hoặc dùng những ống tre, ống nứa cắm vào thành mương để
lấy nước vào mộng.
Nhiều nơi thuộc tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình còn dùng xe cọn để đưa nước
vào mộng. Cọn có thể đưa nước lên cao năm đếm sáu mét, có nơi người ta làm
thành hệ thống hàng chục chiếc. Tuy nước lấy được suốt ngày đêm, nhưng
lượng nước lấy được không được nhiều, diện tích do xe cọn tưới không lớn.
Người Mường còn làm nương rẫy, diện tích nương không lớn nhưng
thường gia đình nào cũng có. Nương ở người Mường chủ yếu là nương lúa,
ngoài ra còn có nương sắn, nương ngô, nương bong. Trên nương, người Mường
có tập quán trồng xen canh một vài loại giống cây trồng khác như đỗ, vừng
trồng xen canh vói ngô. Bên cạnh các loại hoa màu, đồng bào còn trồng thêm
cây công nghiệp và một số cây khác như luồng (Thanh Hóa), trẩu, sở (Hòa
Bình). Một vài vùng có trồng gai, đay, quế, cây thuốc, cây cánh kiến,... Bông
cũng là loại cây trồng quan trọng trước đây. số bông sản xuất được đem kéo sợi
dệt vải đã tự túc được một phần về mặc của đồng bào. Nghề trồng rau chưa
được chú trọng, chỉ trồng một ít trên nương còn phần lớn đi hái rau rừng hoặc
măng là thức ăn hàng ngày. Cây ăn quả chưa nhiều.
Người Mường chăn nuôi ừâu bò chủ yếu để làm sức kéo trong nông
nghiệp, trong nghề rừng và một phần để lấy phân bón mộng. Trâu được nuôi
11
nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, các loại hật có dầu, quế,... một phàn
để dùng, nhưng chủ yếu để bán hoặc làm vật ừao đổi. Những nơi thuận tiện
giao thông, đồng bào còn khai thác gỗ, bương, tre, nứa, mây song,... đó cũng là
nguồn thu nhập đáng kể. Còn những vùng giao thông khó khăn, không có
phương tiện chuyên chở, người ta chỉ lấy lâm sản để làm nhà cửa và làm các
dụng cụ gia đình.
Tuy chưa tách khỏi nông nghiệp, nhưng sản phẩm thủ công nghiệp ngoài
phần chủ yếu để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống hàng ngày còn
có một phần dùng làm vật trao đổi. Những nghề thủ công thường gặp là dệt:
vải, mặt chăn, cạp váy hoa; nhuộm vải; đan lát; nuôi tằm ươm tơ. Ở nghề này
nhiều người đã đạt tới trình độ tinh xảo. Dau vậy, nhìn chung thủ công của
người Mường chưa tách khỏi nông nghiệp, chỉ đóng vai trò phụ và phụ thuộc
vào nông nghiệp. Hoạt động của nghề thủ công mang tính thòi vụ, làm vào lúc
nông nhàn hoặc tranh thủ thời gian rỗi rãi trong ngày, chưa đạt tới trình độ
chuyên môn hóa. Những sản phẩm tiểu thủ công nghiệp chỉ nhằm đáp ứng cho
sản xuất và sinh hoạt hàng ngày nhằm đảm bảo cho tính tự cấp tự túc trong kinh
tế ở phạm vi trong gia đình, làng bản, địa phương.
1.3.2. Xã hôi
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xã hội truyền thống của người
Mường nằm trong khuôn khổ của một xã hội có đẳng cấp. Trong đó mỗi con
người được chính danh định phận chặt chẽ [3]. Quý tộc gọi là Lang, bình dân
gọi là Dân. Thiết chế xã hội trong xã hội cổ truyền của người Mường nói chung
là xóm và mường. Ở đó được hình thành một bộ máy quản lý, điều hành theo
luật tục, mọi thành viên trong cộng đồng xóm, mường phải tuyệt đối tuân thủ.
Nơi cư trú của người Mường được gọi bằng từ quêl hoặc xóm (đều có nghĩa là
làng). Làng là đơn vị của xã hội Mường gồm nhiều tiểu gia đình phụ quyền mà
tế bào gia đình là cha mẹ và con cái, trong đó quyền thế tục thuộc về con
13
14
vị tôi tớ. Phàn nhiều là những người bị phạt vạ, không trả được nợ hoặc quá
nghèo túng phải vào đi ở phục dịch, hầu hạ cho nhà lang.
Tóm lại điểm nổi bật nhất trong xã hội Mường trước Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 là sự tồn tại của chế độ nhà lang. Sau khi miền Bắc hoàn toàn
được giải phóng, chế độ nhà lang không còn nữa. Người nông dân có ruộng đất
tự do làm ăn, sinh sống và bình đẳng về mọi mặt. Tổ chức xã hội theo cơ cấu
làng, xã, huyện, tỉnh. Xã hội được quản lý bỏi hệ thống hành chính lớn nhất
trong toàn quốc có Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân. Ngoài ra còn có các tổ
chức đoàn thể như: Thanh niên, Phụ nữ, Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến
binh,... Bên cạnh việc quản lý xã hội bằng luật pháp của Nhà nước, ở một mức
độ nhất định vai trò của luật tục còn tác động ít nhiều.
1.4. Đặc điểm về văn hóa
1.4.1. Văn hóa vật chất
Ăn, mặc, ở, đi lại là những yếu tố tạo nên nét đẹp ừong văn hóa vất chất
của người Mường.
Thứ nhất: Nhà ở
Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi,
nơi đất thoải gần sông suối. Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên
của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít. Đại bộ phận ở
nhà sàn. Nhìn bề ngoài không khác gì nhiều vói nhà sàn của người Tày hay
người Thái, nhưng đi vào chi tiết ngôi nhà của người Mường cũng có những
đặc điểm nhất định. Chẳng hạn như, trong bộ kèo gồm hai kèo mỗi kèo còn
được lắp một cái “pa wac ” hay còn gọi là “cu ” để giữ cho mái nhà thêm vững
chắc, bộ phận này không thấy trong ngôi nhà sàn của các dân tộc khác ở miền
Bắc. Nhà làm theo cách tạm gọi là “gác gỗ làm nhà ”, không có những mộng
để lắp ghép vào nhau mà chủ yếu là những cây gỗ gác lên nhau. Cột nhà phần
lớn là cột chôn. Nhà có bốn mái, hai mái lớn và hai mái nhỏ đầu hồi. Mái nhà
câu nói:
16
“Củ mài, rau sắng, măng đẳng, mật ong ”
Hay:
“Cơm nếp, cơm chăm, trên nương trên nà
Cá nhỏ, cá to, trong ao, dưới suối Săn đuổi
trong rừng được thú được chim Đi hái, đi
tìm, được rau, được quả” [2; 57].
Văn hóa ẩm thực của người Mường rất đa dạng. Cách ăn, món ăn, đồ
uống, cách chế biến,... thể hiện nét riêng của môi trường và văn hóa xứ Mường.
Người Mường ăn cơm nếp đồ (cơm nếp), cơm tẻ đồ (cơm tưởi) và các loại
rau củ chủ yếu được lấy từ trên rừng. Ẩm thực của người Mường đa dạng và
phong phú có sự khác nhau căn bản giữa ẩm thực trong cuộc sống hàng ngày và
ẩm thực trong dịp lễ tết. Ngoài đồ ăn dân dã hàng ngày, những thức ăn được
chế biến trong các dịp lễ tết được chế biến cầu kỳ mang đậm bản sắc của dân
tộc như: các loại bánh, xôi ngũ sắc, thịt lợn, thịt gà, thịt trâu, bò và các món ăn
được chế biến từ cá. Để cất trữ thực phẩm, người Mường thường ủ chua như
các món ăn thịt chua và măng chua. Ẩm thực của người Mường vừa mang
những đặc trưng chung của ẩm thực Việt Nam, tuy nhiên cũng mang cho mình
những đặc trưng riêng độc đáo của dân tộc mình. Bỏi vậy, mỗi người cần có ý
thức bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực của dân tộc Mường.
Trên đây là những nét khái quát chung, để có cái nhìn sâu sắc hơn khi đi
vào chương hai nội dung của bài được tôi trình bày một cách rõ nét về văn hóa
ẩm thực người Mường ở Việt Nam.
Thứ tư: Phương tiện vận chuyển
Xưa kia hầu hết đồng bào Mường đều đi bộ là chính, chỉ có vùng ven sông
thì mới dùng thuyền để đi lại. Hàng ngày, khi vận chuyển đồ đạc, hàng hóa thì
xóm. Từng gia đình cũng có thờ thổ công trong một miếu nhỏ ngoài vườn.
Nhiều dòng họ kiêng kỵ, họ không được ăn, không được giết hại một số
thú vật và một số cây nhất định, chẳng hạn họ Quách ở Lạc Sơn kiêng kỵ thịt
chó, họ Đinh ở Cao Phong - Kỳ Sơn kiêng thịt khỉ, có họ kiêng con gà nước,
18
con kỳ đà,... Sự kiêng kỵ đó thường được gắn liền vói một truyền thuyết để giải
thích. Nhiều người, khi thấy vật kiêng kỵ bị giết hại phải mang chôn và than
khóc (một cách tượng trưng) như mất ngưòi thân thuộc. Đây có thể là những
tàn dư của Tô-tem giáo.
Trong dân gian người ta tin rằng một số ngưòi có ma chài, ma ếm, có thể
dùng phương thuật, thần chú để hãm hại người khác. Đây là biểu hiện của loại
ma thuật làm hại.
Ngoài ra, đồng bào trước đây tin có rất nhiều loại ma như ma rừng, ma
núi, ma sông, ma suối,... Những thứ này đều tác động, ảnh hưởng tới con người
nên mỗi khi trong nhà không yên ổn phải cầu cúng chúng. Đôi khi người ta còn
thờ những cây to như cây đa, cây si,... Người Mường có nhiều nghi lễ liên quan
đến nông nghiệp như lễ hạ điền, thượng điền như cúng cơm mới,...
Trước Cách mạng tháng Tám, do đời sống kinh tế và văn hóa thấp kém,
con người phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên nên mê tín dị đoan khá nặng nề.
Thứ hai: Hôn nhân gia đình
Gia đình người Mường mang tính chất phụ quyền rất rõ rệt, quyền lực của
đàn ông - chủ gia đình được xác lập một cách vững chắc. Hình thức phổ biến
chủ yếu là tiểu gia đình, hiếm những gia đình gồm ba bốn thế hệ cùng ở với
nhau. Người chủ gia đình có quyền hành rộng rãi và quyết định mọi công việc
quan trọng trong nhà. Quyền con trưởng được coi trọng, con trai trưởng là
người kế vị trực tiếp các chức vụ của cha, con ừai ừong gia đình là người chính
thức được thừa kế gia sản trong đó người con trai trưởng thường được phần
do ậu lo việc dạm hỏi.
Thứ ba: Nghi lễ tang ma
Đám ma người Mường tổ chức theo dòng họ, kết hợp với làng xóm nơi cư
trú từ lúc người ốm lâm bệnh nặng đã có họ gần cùng túc trực chạy chữa, lo
sắm nhất là đầu họ và chi trưởng của nhà đó. Đối với các Lang, Đạo có thêm
20
các chức dịch cùng chăm lo và phân bổ cho dân làm cống nộp.
Theo tục lệ, cứ có ngưòi già ốm yếu, ngoài việc chữa chạy về bệnh tật như
thuốc men, ma chay. Con cháu, họ hàng và cả những người thân thiết hoặc có
quan hệ tốt với nhau cùng góp gà, gạo, rượu với gia đình cứng vía, gọi là: Vải
vách Cộ (vía sửa quan tài). Trong việc cúng vía này họ nhờ mấy người trong họ
hoặc trong làng giỏi tay rìu để khoét đẽo, làm mộng quan tài. Mặt khác cíăng là
báo động cho con cháu nội ngoại biết, chuẩn bị góp khâm liệm và cúng lễ cho
vong linh người già qua đòi. Các mế, các bà đến may vá đồ khâm liệm từ chiếc
gối đầu đến các gối nhỏ kê chân tay, đến quàn áo, mũ,... cho tang lễ. Khi tắt thở
con cháu giữ cho hai tay buông thẳng, vuốt mặt lấy miếng vải trắng che mặt lại.
Họ luộc một quả trứng, nấu ít gạo nếp, một chai rượu làm cỗ Thắt Nghỉ (tắt
thở). Lúc đó họ cầm dao lên cửa voóng gõ lưng dao xuống ngưỡng cửa ba cái
và kêu gọi: “Khẩ lắm nhà mình đằng này bố (hay mẹ) ơi!”. Tục này, có nơi do
con cả thắt dao gọi. Động tác này thể hiện là dòng họ này có một người ra đi,
tách lìa khỏi dòng máu, tổ tiên bắt đầu nhận lấy hồn này.
Tiếp theo gia đình phải cho đầu họ chiếc khăn ữắng thắt lên đầu, cầm
chiêng đánh báo động có người chết để mọi người chạy về. Lúc đó mới được
khóc. Nhưng đối với người chết phải giờ xấu phải lui tới giờ tốt mới báo động.
Các việc trên xong hoặc đồng thời là việc tắm rửa, khâm liệm cho ngưòi
quá cố. Trước hết phải nấu nồi lá bưởi để tắm rửa cho thi hài. Sau đó họ mặc
quần áo, quấn khăn, đặt nằm trên chiếu, trên chăn kép, đắp chăn, căng màn để
Thứ năm: Tri thức dân gian và văn nghệ dân gian
Người Mường có vốn tri thức dân gian phong phú về lịch pháp, trồng trọt,
chăn nuôi, cây thuốc nam, chữa bệnh bằng bùa chú,... Hầu hết những tri thức
dân gian này phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống người dân. Như vậy,
cũng như các dân tộc thiểu số khác, trong đời sống của người Mường tồn tại
22