TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH sử
===C!»CŨI»o===
LÊ THỊ
VĂN HÓA ẨM THỰC
CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa
Người hướng dẫn khoa học:
ThS. Nguyễn Thị Bích
Khóa luận với đề tài: "Văn hóa ăm thực của người Mường ở Việt Nam" của em
được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 dưới sự động viên, khích lệ của
các thầy cô, gia đình và bạn bè.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử đã dạy dỗ,
quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong thời gian học tập và thực hiện
khóa luận tốt nghiệp.
Nhân đây, em xin chân thành cảm ơn các nhà nghiên cứu, cảm ơn ban lãnh đạo và
toàn thể cán bộ Sở Văn hóa,Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, Phòng Văn hóa Thông tin huyện Thanh Sơn và huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ, cảm ơn các vị cao niên,
gia đình và bạn bè tâm huyết đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo
-Thạc sỹ Nguyễn Thị Bích, người trực tiếp hướng dẫn, đã tận tình chỉ bảo em suốt
thời gian qua để em có thể hoàn thành khóa luận.
Do thời gian và trình độ nhận thức còn hạn chế, trong quá trình thực hiện khóa
luận, em không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em kính mong nhận được sự chỉ
điêu khắc,... mà còn thể hiện ngay ữong ẩm thực.
Ẩm thực vốn là một nhu càu thiết thực trong cuộc sống sinh tồn của loài người.
Ẩm thực không đơn thuần chỉ đáp ứng nhu cầu “ăn no mặc ẩm, ăn chắc mặc bền ”
mà ẩm thực đã trở thành một biểu tượng văn hóa phản ánh cuộc sống của con người.
Qua ẩm thực, ngưòi ta có thể hiểu được nét văn hóa, thể hiện phẩm giá con người,
trình độ văn hóa của dân tộc với những đạo lý, phép tắc, phong tục trong cách ăn
uống.
Văn hóa ẩm thực của người Mường mang nét đặc trưng riêng và được đúc kết
một cách ngắn gọn bằng câu nói: “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui,
tháng tới”. Qua đó để thấy được nét độc đáo trong ẩm thực của người Mường ở Việt
Nam, ẩn chứa trong đó giá trị tinh thần, mang đậm cốt cách của con người vừa đơn
giản, mộc mạc lại vừa hài hòa, bổ dưỡng, góp phần đem lại sự tự hào cho dân tộc.
Ngày nay, khi nền kinh tế phát triển, điều kiện sống của con người được nâng
cao sự giao lưu và tiếp biến văn hóa diễn ra mạnh mẽ thì quan niệm của con người về
ẩm thực cũng dần thay đổi.
Hơn nữa, trong xu thế hội nhập giao lưu diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực thì
việc bảo tồn và phát huy nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của người Mường là điều
vô cùng quan trọng, góp phần lưu giữ bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Văn hóa ẩm thực của người Mường nói riêng và văn hóa ẩm thực của dân tộc
Việt Nam nói chung ngày càng được đề cao. Bởi vậy nó đã trở thành một trong những
lĩnh vực thu hút được nhiều người nghiên cứu nhất là những ai muốn tìm hiểu về nét
độc đáo trong ẩm thực các dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu
riêng về văn hóa ẩm thực người Mường vẫn còn hạn chế. Hầu hết chỉ đề cập đến văn
hóa ẩm thực Việt Nam nói chung mà chưa bàn nhiều về văn hóa ẩm thực của người
Mường. Có chăng, những bài viết đó cũng chỉ có ở một vài tác giả nghiên cứu về ẩm
thực của từng vùng mà có dân tộc Mường sinh sống, hay những bài báo, tạp chí ngắn.
Do vậy, họ chưa có cái nhìn cụ thể về văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt Nam.
Tự hào là đứa con được sinh ra và lớn lên ừên quê hương có dân tộc Mường
về ăn uống, tác giả đã đề cập rõ ràng các nội dung liên quan đến ẩm thực truyền thống
của người Mường qua bữa cơm, bữa ăn trong dịp cúng lễ, nguồn thức ăn, làm bếp, tiếp
đãi khách. Tác phẩm trên là nguồn tài liệu hữu ích giúp tôi thực hiên đề tài.
Viết về văn hóa ẩm thực người Mường tỉnh Hòa Bình có cuốn: “Văn hóa ẩm
thực dần gian Mường Hòa Bình”của tác giả Bùi Chỉ (NXB Văn hóa Thông tin, Hà
Nội, 2001); “Ẵm thực dân gian Mường vùng huyện Lạc Sơn, Hòa Bình” của tác giả
Bùi Huy Vọng (NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2013). Đây cũng là một trong
những tác phẩm điển hình đề cập một số nét về tập quán, phong tục, bản sắc riêng của
văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình: rượu cần, các loại bánh và các món ăn
truyền thống. Bên cạnh đó, tác giả còn sưu tầm một số câu tục ngữ, dân ca trong văn
hóa ẩm thực dân gian, các bài khấn của thày Mo trong dịp lễ tết.
Viết về văn hóa ẩm thực người Mường ở Phú Thọ có cuốn: “Văn hóa ẩm thực
đất Tổ”do tác giả Nguyễn Đình Vỵ chủ biên. Bên cạnh việc trình bày về đặc sản nổi
tiếng vùng đất tổ Hùng Vương - Phú Thọ, tác giả còn đề cập đến một số món ăn dân
dã của đồng bào dân tộc miền núi, đặc biệt là dân tộc Mường thông qua một số món
ăn độc đáo xứ Mường. Tiếp đến là cuốn: “Những làng văn hóa, vãn nghệ dân gian
đặc sắc ở tỉnh Phú Thọ ” do Đoàn Hải Hưng, Trần Văn Thục và Nguyễn Phi Nga chủ
biên (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2009). Tác phẩm không chỉ dựng lại diện mạo
của lịch sử của Tỉnh mà còn nghiên cứu tất cả các lĩnh vực có liên quan đến văn hóa
như: phong tục tập quán, lễ hội, văn học, âm nhạc và đặc biệt là ẩm thực. Trong tác
phẩm, tác giả đã đề cập đến văn hóa ẩm thực của đồng bào các dân tộc thiểu số mà
dân tộc Mường được tác giả chú ưọng hơn cả. Thông qua việc giới thiệu đôi nét về các
món ăn truyền thống của dân tộc Mường nhằm góp phần quảng bá, giới thiệu du
khách thập phương về tinh hoa văn hóa của miền đất cội nguồn. Công trình góp một
tiếng nói vào công cuộc bảo vệ chấn hưng nền văn hóa cô truyên đât To.
Tuy nhiên, những tác phẩm viết về văn hóa ẩm thực ở hai tỉnh Hòa Bình và Phú
Thọ chỉ được tác giả nghiên cứu ở từng vùng cụ thể, chưa có cái nhìn bao quát chung
về ẩm thực dân tộc Mường ở Việt Nam. Ẩm thực dân tộc Mường trong cuộc sống
Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực
của người Mường của Việt Nam trước những thay đổi của xã hội hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nhiên cứu ưên, tôi tiến hành các nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu một cách khái quát chung về người Mường ở Việt Nam từ nguồn gốc,
sự phân bố dân cư, đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội.
Tìm hiểu về văn hóa ẩm thực của người Mường trong cuộc sống hàng ngày và
vào dịp lễ tết thông qua một số món ăn và đồ uống tiêu biểu. Từ đó để thấy được nét
đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt Nam.
Đưa ra một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực của người
Mường ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối
tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt Nam.
Phạm vỉ nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài đó là ẩm thực của người Mường trên địa
bàn tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, tỉnh Phú Thọ được tôi chú trọng hơn
cả, bỏi lẽ nơi đây cũng là một trong những nơi mà người Mường sinh sống lâu đời và
cíăng là nơi tôi sinh ra và lớn lên. Việc lựa chọn này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong việc nghiên cứu được sát sao hơn.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích khóa luận đề ra, tôi sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu sau:
Phương pháp thu thập xử lý thông tin: Đây là phương pháp nghiên cứu của đề
tài qua việc thu thập các tài liệu sẵn có thông qua các tài liệu văn bản, sách báo, tạp
chí, báo cáo, website, truy vấn thông tin qua internet và tư liệu do địa phương cung
cấp có liên quan tới đề tài nghiên cứu.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của đề tài cấu trúc làm hai chương:
Chương 1. Khái quát chungvề người Mường ở Việt Nam
Chương 2. Nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của người Mường ở Việt Nam
NỘI DUNG
Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI MƯỜNG
Ở VIỆT NAM
1.1.
Nguồn gốc
về tên gọi, hiện nay Mường đã trở thành tên gọi chính thức của một dân tộc.
Thực ra đó là từ dừng để chỉ một địa phương, một khu vực, một vùng (như Mường Bi,
Mường Vang, Mường Ống). Trước đây, người Mường tự gọi mình là Mol hoặc Mon,
Moi, Muan, Mual,... tùy theo từng địa phương. Mol nghĩa là người, còn từ Mường
dùng để chỉ một dân tộc cụ thể có lẽ xuất hiện tương đối muộn. Tuy nhiên, cũng cần
lưu ý rằng không phải từ khi có tên Mường để chỉ tên dân tộc thì mới xuất hiện dân
tộc Mường, thực ra đã trở thành một dân tộc từ lâu.
về nguồn gốc lịch sử, theo nhiều nhà nghiên cứu và căn cứ vào các tài liệu khác
nhau đã đi đến nhận định: Người Việt và người Mường vốn có chung nguồn gốc, có
những đặc điểm chung về ngôn ngữ, tiếng Việt và tiếng Mường có một gốc chung.
Nếu so sánh, đối chiếu về mặt ngữ pháp, ngữ âm và từ vựng cơ bản giữa hai ngôn ngữ
có quan hệ khá gần gũi.
về nhân chủng, hai nhóm Mường - Việt cùng chung những đặc điểm nhân chủng
trong nhóm Nam Á thuộc tiểu chủng Môngôlôit phương Nam. Trong phong tục tập
quán giữa người Mường và người Việt có nhiều điểm giống nhau.
về mặt tôn giáo, tín ngưỡng cũng như văn học dân gian có thể thấy được nhiều
tổng số người Mường ở Việt Nam, tập chung đông nhất ở các huyện như Lương Sơn,
Kỳ Sơn,Tân Lạc, Lạc Sơn. Ở Thanh Hóa có 341,359 người, chiếm 10% dân số toàn
tỉnh và 26,9% tổng số người Mường ở Việt Nam, tập trung đông nhất ở các huyện
Ngọc Lặc, cẩm Thủy, Thạch Nhàn, Lang Chánh. Ở Phú Thọ có 184,141 người, chiếm
14% dân số toàn tỉnh và 14,5% tổng số người Mường tại Việt Nam, tập chung đông
đảo ở các xã vùng cao huyện Thanh Sơn, Tân Sơn. Ở các tỉnh khác,người Mường
phân bố dân cư thưa thớt hơn như: Sơn La (81.502 người), Hà Nội (49.339 ngưòi),
Ninh Bình (22.614 người), Đắc Lắc (15.510 người), Yên Bái (14.619 người), Bình
Dương (10.227 người) [26].
Như vậy, người Mường tập chung đông đảo nhất ở ba tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ
và Thanh Hóa.
1.3.
Đặc điểm kỉnh tế - xã hội
1.3.1.
Kinh tế
Người Mường biết làm mộng từ lâu đòi và sống định canh định cư. Nghề nông
chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế và cây lúa là cây lương thực chủ yếu. Lúa
nếp được trồng nhiều hơn lúa tẻ. Người Mường trồng lúa khá nhiều trên mộng bậc
thang, có nhiều mảnh mộng vì chiều ngang quá hẹp nên phải dùng cuốc thay cày.
về mùa vụ, trước đây chủ yếu là một vụ.Vụ chiêm không phải mùa nào cũng có
và chiếm một tỉ lệ tương đối thấp so với vụ mùa. Ở những nơi đã cấy hai vụ lúa
thường có đời sống kinh tế sung túc hơn. Những vùng giáp miền xuôi số lượng mộng
làm hai vụ tương đối nhiều.
xuất được đem kéo sợi dệt vải đã tự túc được một phần về mặc của đồng bào. Nghề
trồng rau chưa được chú trọng, chỉ trồng một ít trên nương còn phần lớn đi hái rau
rừng hoặc măng là thức ăn hàng ngày. Cây ăn quả chưa nhiều.
Người Mường chăn nuôi ừâu bò chủ yếu để làm sức kéo trong nông nghiệp,
trong nghề rừng và một phần để lấy phân bón mộng. Trâu được nuôi nhiều hơn bò và
còn được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong cưới xin để ừao đổi hay bán cho miền
xuôi. Lợn cũng được nuôi phổ biến mỗi gia đình đều có một vài con hầu như gia đình
nào cũng nuôi gà và vịt. Nhiều nơi đồng bào có nghề nuôi ong lấy mật và sáp, mỗi gia
đình nuôi đến vài ba tổ. Mật ong dừng để ăn nhưng chủ yếu dừng để ừao đổi hoặc bán.
Săn bắn là một hoạt động thường gặp trong đời sống của người Mường nhưng
không phải là nguồn sống quan trọng. Săn bắn còn kết họp với sản xuất để chống thú
rừng, bảo vệ mùa màng, nó không những là một nguồn lợi là nguồn cung cấp thức ăn
mà còn là một thú vui. Trong làng xóm, chưa có những người chuyên sống về săn bắn,
nhưng người đàn ông nào cũng biết đi săn và gia đình nào cũng có nỏ và súng. Người
Mường có nhiều kinh nghiệm làm nỏ và tên thuốc độc. Cùng với săn bắn, đồng bào
còn dùng các loại bẫy để đánh cày, cáo, chim, chuột,... Có nhiều lại bẫy khác nhau
nhưng phổ biến là loại bẫy sập.
Đánh cá cũng là một nghề phụ ừong gia đình, tương đối phát triển ở những khu
vực ven các con sông và suối lớn. Ở vùng thấp xung quanh làng xóm phàn lớn đều có
ao, đầm, sông suối nên dễ kiếm cá hơn. Hầu như nam giới người nào cũng biết đánh
cá, biết đan chài, lưới và gia đình nào cũng có đồ đánh cá. Các công cụ đánh cá khá đa
dạng, ngoài những thứ như chài, lưói, vó, có nhiều loại khác nhau như đơm, đó,
đăng,... Vào những ngày cuối năm, để chuẩn bị cho thức ăn ngày Tết ngưòi ta hay đi
đánh cá. Những dịp này cá kiếm được tương đối nhiều. Một số nơi còn lấy một số loại
lá hoặc rễ cây đem giã ra rồi thả xuống nước. Đánh cá kiểu này tuy kiếm được nhiều
nhưng cá chết hàng loạt ảnh hưởng không tốt tói nguồn cá sau này.
Hái lượm là nguồn cung cấp thức ăn hàng ngày như lấy các loại rau rừng, măng,
một số hoa quả. Ngoài ra còn bắt tôm tép, cua ốc ở khe suối, ở ruộng hoặc bắt một số
tiểu gia đình phụ quyền mà tế bào gia đình là cha mẹ và con cái, trong đó quyền thế
tục thuộc về con trưởng. Mỗi làng của người Mường thường quần tụ nhiều dòng họ.
Cụ thể ở Hòa Bình các dòng họ nắm quyền thống trị lâu đời là Đinh, Quách,
Bạch, Hoàng, Hà,... Trong số đó họ Đinh và họ Quách có thế lực mạnh nhất.
Ở Phú Thọ trung bình mỗi làng có bốn đến năm dòng họ. Chẳng hạn ở làng Vèo
xã Kiệt Som có các họ Hà, Bùi, Phùng, Xa; làng Dẹ thuộc xã Văn Miếu có các họ
Hoàng, Đinh, Bùi, Hà, Phừng.
Thổ lang hay quan lang là những ngưòi thuộc tầng lớp quý tộc trong các dòng
họ kể trên. Lang đạo theo chế độ thế tộc. Lang cun là con trưởng của chi trưởng, trên
danh nghĩa đứng đầu, nhưng chủ yếu cai quản “xóm chiềng” đây thường là xóm lớn
nhất, ruộng rất nhiều. Còn con thứ hoặc con trưởng ngành thứ hai cai quản các xóm
nhỏ gọi là lang xóm hay đạo. Nhìn chung các thổ lang giữ địa vị thống trị, nắm quyền
quản lý, phân phối ruộng đất trong Mường, trong xóm. Giữa lang và dân có sự tách
biệt nghiêm ngặt.
Thổ lang có một số người giúp việc (gọi là ậu, có nơi gọi là cai) để điều hành
các công việc trong mường trong xóm. Có đến hàng chục chức ậu khác nhau. Họ có
nhiệm vụ như lo thu thóc, thu hiện vật, bắt phu, bắt phen, lo việc cứng bái, cưới xin,
ma chay, đốc thúc dân đến làm xâu, làm nõ (xâu là hình thức làm tập đoàn trên một
diện tích ruộng của lang, nõ phân theo từng bộ và làm trên diện tích hẹp hơn) và nhiều
công việc khác.
Dân là tầng lớp bị trị, một bộ phận động đảo là nông dân. Họ được nhận một
phàn ruộng để sinh sống nhưng có nghĩa vụ phải đóng góp phu phen tạp dịch, làm
xâu, làm nõ cho nhà lang. Đây chính là lực lượng sản xuất chính trong xã hội Mường.
Bên cạnh đó còn có một số bộ phận không nhận ruộng và cũng không có mộng tư phải
sống bằng nương rẫy. Tuy không phải đóng góp phu phen nhiều, nhưng trong đời sống
kinh tế họ gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra trong nhà lang còn có một số ít người thân phận thấp kém, ở địa vị tôi
tớ. Phàn nhiều là những người bị phạt vạ, không trả được nợ hoặc quá nghèo túng phải
là “cu ” để giữ cho mái nhà thêm vững chắc, bộ phận này không thấy trong ngôi nhà
sàn của các dân tộc khác ở miền Bắc. Nhà làm theo cách tạm gọi là “gác gỗ làm nhà
”, không có những mộng để lắp ghép vào nhau mà chủ yếu là những cây gỗ gác lên
nhau. Cột nhà phần lớn là cột chôn. Nhà có bốn mái, hai mái lớn và hai mái nhỏ đầu
hồi. Mái nhà khá dốc và thấp, điềm mái che lấp một phàn cửa sổ. Cách bố trí trong
nhà giữa các vùng tương đối thống nhất.
Dưới sàn là nơi nhốt ừâu bò, đặt chuồng lợn, chuồng gà, chuồng vịt. Ngoài ra đó
còn là nơi để cối giã gạo, để các công cụ sản xuất như cày, bừa,... Hiện nay, qua các
cuộc vận động nếp sống mới, vệ sinh phòng bệnh, chuồng gia súc được đưa ra khỏi
gầm sàn.
Trước kia, xung quanh nhà đều có hàng rào bằng tre nứa hoặc xương rồng phòng
trộm cắp, thú dữ. cổng ra vào hẹp, ban đêm được đóng cẩn thận.
Thứ hai: Trang phục
Tuy có nét giống nhau mang tính chất địa phương, trang phục của người Mường
cơ bản là thống nhất. Đồng bào biết trồng bông, dệt vải nên trước đây đã tự túc được
một phàn quan trọng trong may mặc. Ở những vùng giáp ranh với người Việt, Thái,
người Mường đã chịu ảnh hưởng trang phục của họ.
Trang phục nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, có hai túi dưới hoặc thêm túi trên
ngực ừái, đây là loại áo cánh phủ kín mông. Quàn lá tọa ống rộng. Trong lễ hội dùng
áo lụa tím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài khoác áo choàng đen dài tới gót, cài
cúc sườn phải.
Y phục của phụ nữ có phàn đa dạng hơn và còn được giữ những nét độc đáo.
Khăn đội đầu là mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa. Khi đội trùm lên đầu
và buộc lại ở đằng sau gáy. Cái yếm giống yếm của phụ nữ Việt nhưng ngắn và nhỏ
hơn. Áo cánh (phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn, thường xẻ ở ngực (có nơi xẻ ở
bên vai) và ít khi cài cúc. Khác với nhiều dân tộc lân cận, váy của phụ nữ Mường khá
dài, gồm hai phàn chính là thân váy và cạp váy. Cạp váy là bộ phận trang phục có hoa
văn đặc sắc.
của người Mường gần giống như người Kinh, họ đi lại chủ yếu bằng xe máy, xe đạp.
1.4.2.
Văn hóa tình thần
Bên cạnh văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần với những đặc trưng riêng góp
phần tạo nên nét độc đáo trong văn hóa của người Mường.
Thứ nhất: Tỉn ngưỡng và tôn giáo
Trước cách mạng tháng Tám, một số người vì muốn thoát khỏi ảnh hưởng của
lang đạo nên đã dựa vào thế lực của cha cố. Tuy theo công giáo, song lòng tin của họ
chưa sâu sắc lắm, vẫn mời thầy mo về cúng ma nhưng vẫn thờ cúng tổ tiên. Sau cách
mạng ảnh hưởng của công giáo nhạt dần. Vùng Mường trước kia cũng có thờ phật (gọi
là chùa thờ bụt) nhưng không có sư sãi, không cầu kinh niệm phật, việc cúng bái đều
do ông từ tự đảm nhiệm. Có nơi cũng gọi là chùa, song lại thờ bà chúa rừng.
Trong các gia đình người Mường đều có thờ cúng tổ tiên, họ tin rằng người chết
sang thế giới bên kia vẫn có cuộc sống tương tự như ở trần gian.
Các làng xóm phần lớn đều có đình, thờ thành hoàng. Thành hoàng làng được
coi là người có công khai phá ruộng nương, lập làng lập xóm. Nhiều vùng, thành
hoàng lại là tổ tiên nhà lang.
Nhiều nơi, đồng bào thờ Tản Viên, nhất là những vùng gàn núi Ba Vì. Từng
vùng có cách gọi khác nhau như Bua Tản, Thành Đản, Bua Ông,... Có nơi, Tản Viên
còn được thờ trong gia đình. Sự tích Tản Viên tuy ở nhiều vùng khác nhau về chi tiết
nhưng đại thể cũng gần giống sự tích Tản Viên sơn thánh của người Việt. Theo quan
niên của dân gian, mỗi vùng có một thổ công trông coi. Thổ công được thờ ở miếu (đó
chỉ là những lều tranh không lớn) của làng xóm. Từng gia đình cũng có thờ thổ công
trong một miếu nhỏ ngoài vườn.
Nhiều dòng họ kiêng kỵ, họ không được ăn, không được giết hại một số thú vật
ừong gia đình họ cũng được tham gia bàn bạc công việc. Nhiều việc trong nhà người
đàn ông cũng phải hỏi ý kiếm người phụ nữ.
Hôn nhân của người Mường là hình thái hôn nhân một vợ một chồng và cư trú
bên nhà chồng. Do tính chất phụ quyền của gia đình kiểu gia trưởng, nên việc hôn
nhân của con cái chủ yếu do cha mẹ quyết định. Hôn nhân đã mang tính chất mua bán,
nhà trai phải mang đến cho nhà gái một món tiền và một số hiện vật nhất định. Người
Mường còn tồn tại chế độ đa thê (chủ yếu trong tầng lớp lang đạo và những nhà giàu
có). Những người chung một họ (họ nội) không được phép lấy nhau. Nếu ai vi phạm
bị phạt và rất nặng, ngay cả hôn nhân con cô con cậu cũng hiếm có. Hôn nhân của
người Mường thường có hai hình thức cưói dâu và lấy rể. Cưói dâu là hình thức phổ
biến còn lấy rể ít thấy hơn và chỉ xảy ra trong những trường hợp nhất định. Tục cưới
xin bao gồm nhiều giai đoạn, mỗi vùng có một số tục lệ riêng, nhưng đại thể có một số
bước như lễ chạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới và đón dâu.
Đám cưới của lang đạo về thể thức cũng tương tự như những đám cưói khác,
nhưng tốn kém hơn nhiều. Mỗi lần Lang lấy vợ là nhân dân phải đóng góp và lo liệu.
Trên danh nghĩa là dân cưới vợ cho Lang, về hình thức người vợ đó phải được sự
đồng ý của dân (thông qua các ậu) nhưng thực tế dân phải đóng góp mọi thứ, phải
phục dịch trong thời kỳ cưới xin. Nhiều nơi lang lấy vợ do ậu lo việc dạm hỏi.
Thứ ba: Nghi lễ tang ma
Đám ma người Mường tổ chức theo dòng họ, kết hợp với làng xóm nơi cư trú từ
lúc người ốm lâm bệnh nặng đã có họ gần cùng túc trực chạy chữa, lo sắm nhất là đầu
họ và chi trưởng của nhà đó. Đối với các Lang, Đạo có thêm các chức dịch cùng chăm
lo và phân bổ cho dân làm cống nộp.
Theo tục lệ, cứ có ngưòi già ốm yếu, ngoài việc chữa chạy về bệnh tật như thuốc
men, ma chay. Con cháu, họ hàng và cả những người thân thiết hoặc có quan hệ tốt
với nhau cùng góp gà, gạo, rượu với gia đình cứng vía, gọi là: Vải vách Cộ (vía sửa
quan tài). Trong việc cúng vía này họ nhờ mấy người trong họ hoặc trong làng giỏi tay
rìu để khoét đẽo, làm mộng quan tài. Mặt khác cíăng là báo động cho con cháu nội
“Bữa nhà xe ”, đưa linh cữu ra đồng chôn cất. Chôn cất xong người ta làm lễ mở cửa
mả. Cuối cùng là lễ đoạn tang với kỳ hạn ba năm.
Thứ tư: Le hội
Người Mường ở khắp nơi đều thích múa hát và lễ hội. Với loại hình kinh tế
nông nghiệp hồng trọt và phương thức canh tác ruộng nước chủ đạo, hầu hết các nghi
thức, nghi lễ và nội dung lễ hội ở đây đều mang ý nghĩa càu mùa. Những nghi thức
cầu mùa đó đều được thể hiện một cách sinh động bởi tín ngưỡng phồn thực. Chính vì
thế, thời điểm lễ hội diễn ra phải phù hợp với lịch tiết sản xuất, lễ hội của người
Mường có thể kể ra: Tết Nguyên Đán, lễ hội Xéc bùa, lễ hội Cơm mới, lễ hội Pồn
pông,...
Thứ năm: Tri thức dân gian và văn nghệ dân gian
Người Mường có vốn tri thức dân gian phong phú về lịch pháp, trồng trọt, chăn
nuôi, cây thuốc nam, chữa bệnh bằng bùa chú,... Hầu hết những tri thức dân gian này
phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống người dân. Như vậy, cũng như các dân tộc
thiểu số khác, trong đời sống của người Mường tồn tại song song hai loại hình tri thức
là tri thức hiện đại và tri thức dân gian. Người dân Mường thông qua tri thức dân gian
đã tạo lập được cung cách ứng xử, hài hòa vói tự nhiên và vói đồng loại.
Văn nghệ dân gian Mường khá đa dạng và phong phú, là những sáng tạo độc
đáo, có giá trị cộng đồng trong lịch sử phát triển của dân tộc Mường. Đây là những
sản phẩm thuộc kiến trúc thượng tàng, là minh chứng cho trình độ phát triển kinh tế xã hội. Qua các sáng tạo văn nghệ dân gian, chúng ta khám phá được thế giới tâm hồn,
đời sống tâm linh, khát vọng sống, ước mơ, lý tưởng thẩm mĩ của cộng đồng Mường.
Đó là kho tàng quý báu, đã góp phần vào nền văn nghệ dân gian Việt Nam và thế giói
những nét đặc sắc, giàu tính nhân văn và có giá trị về lịch sử. Văn nghệ dân gian
Mường đều là sản phẩm lao động trí óc phản ánh tồn tại xã hội Mường trong lịch sử,
cái nôi nuôi dưỡng, gắn bó với bao thế hệ Mường.
Tiểu kết chương 1
Dân tộc Mường là một trong 54 dân tộc thiểu số, trước đây có chung nguồn gốc
với người Việt và phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc nước ta. Do cảnh quan môi