I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHM TH VN ANH
BảO ĐảM NGHĩA Vụ TRả Nợ BằNG THế CHấP TàI SảN
CủA NGƯờI THứ BA TRONG HOạT ĐộNG CHO VAY
CủA NGÂN HàNG THƯƠNG MạI ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. HONG ANH TUN
H NI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn
trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét
để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
đối với nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại ........................................................................................ 11
1.1.4.
Phân biệt bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng thế chấp bằng tài sản
của người thứ ba với các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ
khác trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ............... 20
1.2.
Khái niệm pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng thế
chấp tài sản của ngƣời thứ ba ........................................................ 27
1.2.1.
Đặc điểm của pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng thế
chấp tài sản của người thứ ba ............................................................ 27
1.2.2.
Nội dung pháp luật ............................................................................ 28
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ TRẢ NỢ BẰNG
THẾ CHẤP TÀI SẢN CỦA NGƢỜI THỨ BA TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI Ở VIỆT NAM....................................................................................43
2.1.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ
bằng thế chấp tài sản của ngƣời thứ ba trong hoạt động cho
vay tại ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam ................................... 67
2.3.1.
Đánh giá chung ................................................................................. 67
2.3.2.
Những bất cập và tồn tại ................................................................... 68
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO
ĐẢM NGHĨA VỤ TRẢ NỢ BẰNG THẾ CHẤP TÀI SẢN
CỦA NGƢỜI THỨ BA TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM .................. 71
3.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và phƣơng hƣớng
hoàn thiện pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng thế
chấp tài sản của ngƣời thứ ba ........................................................ 71
3.2.
Một số phƣơng hƣớng cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về
bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng thế chấp tài sản của ngƣời
thứ ba ................................................................................................ 74
DN:
Doanh nghiệp.
NHTM:
Ngân hàng Thương mại.
QSDĐ:
Quyền sử dụng đất.
TAND:
Tòa án Nhân dân.
TANDTC:
Tòa án Nhân dân tối cao.
TCTD:
Tổ chức tín dụng.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bảo đảm nghĩa vụ trả nợ là vấn đề trọng tâm và có vai trò to lớn trong
hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại (NHTM) hiện nay, nhằm
hạn chế rủi ro khi NHTM cho khách hàng vay vốn đồng thời đảm bảo sự an
Gần đây, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tuyên vô hiệu đối với một
số Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của người thứ ba với Ngân hàng đã gây ra
những phản ứng mang tính ưu tiên thông lệ. Đặc biệt là Bản án kinh doanh
thương mại sơ thẩm số 48/KDTMST ngày 22/9/2011 tuyên vô hiệu đối với
hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba với Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam.
Về hoạt động lập pháp, sắp tới Bộ luật dân sự 2015 sẽ bắt đầu có hiệu
lực vào ngày 1/1/2017, thay thế cho Bộ luật dân sự 2005. Với lần sửa đổi
này, Bộ luật dân sự mới đã có nhiều sự thay đổi, bổ sung trong đó có cả các
biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự. Điều này cho thấy, vai trò quan trọng
của các biện pháp đảm bảo đang được quan tâm thích đáng. Sự quan tâm
này là hoàn toàn đúng đắn, bởi lẽ các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho các giao dịch dân sự, trong
đó có Hợp đồng tín dụng.
Nhận thức rằng, việc nghiên cứu về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng thế
chấp tài sản của người thứ ba trong quan hệ tín dụng mang tính thời sự, có ý
nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao nhận thức và góp phần tạo sự ổn định
của các quan hệ kinh tế, hạn chế các tranh chấp phát sinh do nhận thức pháp
luật chưa đúng đắn, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu
rộng như hiện nay. Do vậy, để tiếp thu có sàng lọc những thành tựu hiện có,
để góp phần đáp ứng yêu cầu thực tiễn về bảo đảm thực hiện hợp đồng tín
dụng và để khắc phục những khiếm khuyết của pháp luật Việt Nam về vấn đề
2
này, học viên đã lựa chọn đề tài: “Bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng thế chấp
tài sản của người thứ ba trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương
mại ở Việt Nam” làm đề tài luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
chấp giữa Ngân hàng và bên thứ ba thế chấp tài sản và thực tiễn những quy
định còn vướng mắc của quy định pháp luật.Bài viết đề cập chủ yếu đến
thực tiễn nhưng không có sự phân tích về cơ sở lý luận và phương hướng giải
quyết vấn đề.
Các công trình nghiên cứu nói trên là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác
giả triển khai đề tài của mình. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nói trên
chỉ đề cập đến bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba
với tư cách là một phần nhỏ trong công trình nghiên cứu của mình. Hiện nay,
cùng với sự thay đổi của chính sách, pháp luật; thực tiễn áp dụng pháp luật về
vấn đề này còn nhiều quan điểm khác nhau gây nên sự tranh cãi, chưa đáp
ứng được nhu cầu của xã hội. Xuất phát từ việc kế thừa những công trình
nghiên cứu có liên quan đã được công bố của giới khoa học pháp lý trong
nước, tác giả quyết tâm nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật và thực tiễn áp
dụng pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế chấp của bên thứ
ba, từ đó đưa ra những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này là rất cần thiết và có ý nghĩa.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật và thực tiễn
áp dụng pháp luật về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế chấp của bên
thứ ba tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các quy định về chủ thể,
hợp đồng và xử lý tài sản thế chấp của bên thứ ba, thực tiễn hoạt động bảo
đảm nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba tại NHTM và xử lý
tài sản thế chấp của bên thứ ba.
4
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm làm rõ những vấn đề lí luận về
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ
TRẢ NỢ BẰNG THẾ CHẤP TÀI SẢN CỦA NGƢỜI THỨ BA
1.1. Khái niệm về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay
của ngân hàng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của bảo đảm nghĩa vụ trả nợ
Hiện nay vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt điều
chỉnh đối với bảo đảm nghĩa vụ trả nợ nói chung. Tuy nhiên có thể thấy nghĩa
vụ trả nợ thường được đặt ra trong hoạt động cho vay tài sản. Hay nói cách
khác chính là sự thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng vay tài sản, theo đó
bên cho vay giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả
cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải
trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.Trong trường hợp bên
vay không trả được nợ thì bên cho vay sẽ áp dụng các biện pháp như đã thỏa
thuận trước thời điểm cho vay để thu hồi lại khoản nợ.
Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản “Bảo đảm nghĩa vụ trả nợ”
chính “là việc bên cho vay sử dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro có
thể xảy ra đồng thời tạo ra cơ sở pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã
cho bên vay vay nợ”. Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của bên vay có
thể bằng tài sản hoặc không bằng tài sản. Tuy nhiên trong phạm vi bài viết
này tác giả chỉ đề cập đến các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản
bao gồm: cầm cố, thế chấp tài sản của khách hàng vay hoặc của bên thứ ba,
có thể bằng tài sản hiện hữu hoặc tài sản hình thành từ vốn vay.
Xét từ góc độ kinh tế, sự bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ là một biện
pháp mang tính kinh tế, trong đó bên chủ nợ sẽ dùng giá trị tài sản của người
vay hoặc của người thứ ba để khấu trừ nghĩa vụ. Nói cách khác, việc bảo đảm
6
Thứ hai, mục đích của giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ là đảm bảo
thi hành nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo hợp đồng vay tài sản. Nghĩa vụ này
được xác định bao gồm nợ gốc, nợ lãi, các phụ phí, tiền phạt vi phạm hợp
đồng vay tài sản và tiền bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thoả
thuận khác.
Thứ ba, giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ có tính chất là một hợp đồng
phụ và hiệu lực của nó phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính (hợp đồng
tín dụng). Điều đó có nghĩa là, nếu hợp đồng chính mà vô hiệu thì đương
nhiên dẫn tới sự vô hiệu theo của hợp đồng bảo đảm nghĩa vụ trả nợ. Ngược
lại, nếu hợp đồng bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bị vô hiệu thì không ảnh hưởng gì
đến hiệu lực của hợp đồng chính và khi đó, khoản vay theo hợp đồng chính
trở thành khoản vay không có bảo đảm bằng tài sản
Thứ tư, đối tượng của giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ luôn là một tài
sản hoặc khối tài sản cụ thể trị giá được bằng tiền.
Thứ năm, tài sản bảo đảm trong giao dịch bảo đảm nghĩa vụ trả nợ chỉ
có thể được phát mại khi người vay không thi hành nghĩa vụ trả nợ vào ngày
đáo hạn. Việc phát mại này phải được thực hiện theo phương án mà các bên đã
thoả thuận hoặc phương án do pháp luật quy định.
1.1.2. Khái niệm về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay
của ngân hàng thương mại
Theo Khoản 3 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 thì:
NHTM là “loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này
nhằm mục tiêu lợi nhuận” [26, Điều 4]. Như vậy nói một cách cụ thể hơn thì
NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa
dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là huy động vốn để cho vay,
đầu tư và cung ứng các dịch vụ thanh toán.Qua các nghiệp vụ đó NHTM đã
8
9
lâm vào khủng hoảng nặng nề. Từ đó có thể thấy rằng bảo đảm cho nghĩa vụ
trả nợ tiền vay đã trở thành vấn đề trọng tâm và là mối quan tâm hàng đầu của
các NHTM hiện nay nhằm phòng ngừa và hạn chế tối đa các rủi ro trong hoạt
động cho vay của ngân hàng.
Như vậy cần phải hiểu như thế nào về khái niệm bảo đảm nghĩa vụ trả
nợ trong hoạt động cho vay của NHTM?
Theo Từ điển luật học, bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, hay còn gọi là bảo
đảm tiền vay, được định nghĩa là “biện pháp được sử dụng để bên cho vay thu
hồi nợ trong trường hợp bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ hoàn trả tiền vay”. Còn theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định
178/1999/NĐ-CP thì định nghĩa “Bảo đảm tiền vay là việc TCTD áp dụng các
biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi
được các khoản nợ đã cho khách hàng vay” [5, Điều 2].
Hay nói cách khác, bảo đảm tiền vay là sự thỏa thuận của người đi
vay và NHTM trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm thiết lập các biện
pháp tác động mang tính chất dự phòng để đảm bảo việc trả nợ vốn vay,
ngăn ngừa vi phạm và tạo khả năng khắc phục hậu quả do vi phạm nghĩa
vụ trả nợ tiền vay gây ra.
Có thể chia bảo đảm tiền vay thành hai loại: bảo đảm tiền vay bằng tài
sản và bảo đảm tiền vay không bằng tài sản; trong đó bảo đảm tiền vay tài sản
bao gồm: cầm cố, thế chấp tài sản của khách hàng vay hoặc của bên thứ ba,
có thể bằng tài sản hiện hữu hoặc tài sản hình thành từ vốn vay. Bảo đảm tiền
vay bằng tài sản là loại bảo đảm tiền vay mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của
khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp
của khách hàng vay hoặc của bên thứ ba. Trong trường hợp khách hàng vi
phạm nghĩa vụ trả nợ hoặc bên thứ ba không thực hiện nghĩa vụ thì tài sản bảo
đảm tiền vay sẽ được xử lý để thu hồi nợ cho NHTM. Bộ luật dân sự (BLDS)
trường hợp này là hợp đồng bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba. Mối quan
11
hệ hợp đồng này thường có sự tham gia của ba bên: ngân hàng với vai trò là
bên nhận bảo đảm, đồng thời là bên cho vay trong quan hệ cấp tín dụng; chủ
sở hữu tài sản là bên bảo đảm hay còn gọi là bên thứ ba mang tài sản của
mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay với ngân hàng; và
khách hàng vay là bên được bảo đảm. Đối với trường hợp thế chấp tài sản bảo
đảm thì hợp đồng bảo đảm được gọi là hợp đồng thế chấp tài sản bên thứ ba.
Tuy nhiên, thời gian vừa qua, khi khách hàng vay không trả được nợ
vay ngân hàng theo thỏa thuận, ngân hàng lại tiến hành xử lý tài sản bảo đảm
là quyền sử dụng đất (QSDĐ) của bên bảo đảm (bên thứ ba) để thu hồi nợ vay
theo quy định của Luật đất đai 2003, và bên thứ ba khởi kiện yêu cầu tòa án
tuyên hợp đồng bảo đảm vô hiệu. Trên thực tế, khi giải quyết loại tranh chấp
này, một số tòa án nhân dân các cấp (cả cấp sơ thẩm và phúc thẩm) đã tuyên
hợp đồng bảo đảm của bên thứ ba là vô hiệu với lý do chủ yếu cho rằng, đây
là mối quan hệ ba bên nên đáng lẽ các bên liên quan phải ký kết hợp đồng bảo
lãnh (giữa ba bên), chứ không phải là hợp đồng thế chấp. Ðiều đáng lưu ý ở
đây là các hợp đồng thế chấp QSDĐ của bên thứ ba này đã được các bên liên
quan hoàn tất thủ tục công chứng tại văn phòng công chứng và đăng ký thế
chấp tại văn phòng đăng ký QSDĐ.
BLDS 1995 quy định: “Thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng
tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
đối với bên có quyền…” [18, Điều 346]. Như vậy, theo quy định của BLDS
1995, thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của
mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của chính mình đối với bên có quyền.
Tuy nhiên, Ðiều 342 BLDS 2005 đã thay đổi quy định về thế chấp như
sau: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài
dùng quyền sử dụng đất của mình, dùng uy tín hoặc cam kết thực
hiện công việc đối với bên nhận bảo đảm để bảo đảm việc thực
hiện nghĩa vụ dân sự của chính mình hoặc của người khác, bao
13
gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký
quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở trong
trường hợp tín chấp.
Như vậy tùy biện pháp bảo đảm là bảo lãnh hay thế chấp mà chủ thể
của nó được gọi là bên bảo lãnh hay bên thế chấp.
Về vấn đề bảo lãnh, Ðiều 366 BLDS 1995 quy định:
1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam
kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện
nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo lãnh),
nếu khi đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ;
2. Người bảo lãnh chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở
hữu của mình hoặc bằng việc thực hiện công việc [18, Điều 366].
Như vậy, theo quy định của BLDS 1995, bảo lãnh là quan hệ ba bên:
bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh (bên có quyền) và bên được bảo lãnh (bên có
nghĩa vụ). Trong đó, người bảo lãnh cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện
thay nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ bằng tài sản (đối vật) hoặc bằng việc thực
hiện công việc (đối nhân).
Tuy nhiên, Ðiều 362 BLDS 2005 đã thay đổi quy định về bảo lãnh như sau:
Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh)
cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ
thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên
được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Ðiều 72 Nghị định 163/2006/NÐ-CP
ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định:
Việc bảo lãnh bằng QSDĐ, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu
rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định tại Nghị định số
181/2004/NÐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật
15
Ðất đai, quy định tại khoản 5 Ðiều 32, khoản 4 Ðiều 33, khoản 4 Ðiều
34, khoản 4 Ðiều 35 và khoản 1 Ðiều 36 Nghị định số 23/2006/NÐCP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát
triển rừng và các văn bản hướng dẫn thi hành được chuyển thành
việc thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu
rừng sản xuất là rừng trồng của người thứ ba [6, Điều 72, khoản 4].
Khoản 22 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của
Chính phủ về về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐCP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định:
Thay thế cụm từ thế chấp QSDĐ, quyền sử dụng rừng, quyền
sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng của người thứ ba bằng cụm từ thế
chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản
xuất là rừng trồng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người
khác tại khoản 4 Điều 72 [8, Điều 1, khoản 22].
Ðiểm 1.1 khoản 1 Mục I Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTPBTNMT ngày 13/6/2006 hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng,
văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất quy định: Thông tư này
hướng dẫn việc công chứng của Phòng Công chứng và chứng thực của Ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với các hợp đồng, văn bản sau đây:
a) Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng, cho, thuê,
thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất,
hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba mà Luật Ðất
đai gọi là bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất (gọi là hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất [3].
- Bên thứ ba chỉ định tài sản thế chấp cụ thể dùng để bảo đảm. Trong
trường hợp vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền vay, NHTM có quyền ưu tiên đối với
tài sản đã được thế chấp của bên thứ ba, có quyền xử lý chính tài sản đó để
thu hồi nợ vay theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng.
17
Từ những phân tích trên các Tổ chức tín dụng, ngân hàng, các cơ quan
chức năng hay các cá nhân, tổ chức đi vay…, cần phải nhìn nhận đúng bản
chất pháp lý và những đặc trưng của bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế
chấp của bên thứ ba trong hoạt động cho vay của NHTM để hạn chế tối đa
mọi tranh chấp liên quan có thể xảy ra.
1.1.3.2. Vai trò, sự cần thiết của thế chấp bằng tài sản của người thứ ba
đối với nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Hiện nay bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng thế chấp tài sản của người thứ
ba đang là giải pháp quản trị rủi ro khá phổ biến của các NHTM trong nước
và thực tế đang đóng một vai trò quan trọng đối với hoạt động cho vay của
NHTM. Sở dĩ việc bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trở nên quan trọng và cần thiết
đối với hoạt động cho vay của NHTM là vì các lý do cơ bản sau đây:
Một là, sự bảo đảm bằng tài sản cho nghĩa vụ trả nợ tiền vay mang đến
cho chủ nợ là ngân hàng cả phương tiện kinh tế lẫn khả năng pháp lý để thu
hồi đủ số nợ tiền vay từ các hợp đồng tín dụng đã ký với khách hàng. Trong
khi tính rủi ro cao và tính ảnh hưởng dây chuyền đối với nhiều lợi ích khác
nhau trong xã hội luôn là đặc trưng không thể phủ nhận của hoạt động cho
vay của các ngân hàng thì khả năng ngân hàng phải bán tài sản bảo đảm để
thu hồi nợ là rất lớn. Chỉ thu hồi đủ nợ và đúng hạn thì ngân hàng mới có thể
thực hiện đúng cam kết với các chủ nợ của ngân hàng như người gửi tiền,
người sở hữu trái phiếu ngân hàng, người cho vay khác đối với ngân hàng và
đặc biệt là giúp ngân hàng tránh được nguy cơ phá sản, giúp cho nền kinh tế
ba kích thích hoạt động cho vay của NHTM đối với khách hàng vay.
- Thứ ba, Bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba
tạo ra và mở rộng cơ hội cho khách hàng vay vốn tại NHTM
- Thứ tư, thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba có vai trò quan trọng
trong việc hạn chế các tranh chấp xảy ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên tham gia quan hệ tín dụng ngân hàng.
19