Tr-êng §¹i häc s- ph¹m hµ néi 2
KHOA LỊCH SỬ
**************
TRẦN THÚY HƢỜNG
QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC
TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA,
GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 1991 - 2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
HÀ NỘI – 2016
LỜI CẢM ƠN
Là sinh viên năm cuối khi bắt tay vào viết khóa luận tốt nghiệp, tôi còn
thiếu cả về lý luận lẫn vốn sống thực tế. Do đó, khóa luận tốt nghiệp này
không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Tôi xem khóa luận như một
bài tập lớn để tập dượt, trải nghiệm và vận dụng những kiến thức đã học trong
nhà trường để trình bày những hiểu biết của mình về một vấn đề khoa học và
đưa ra một số biện pháp giải quyết vấn đề đó.
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu
sắc nhất tới ThS. Trần Thị Thu Hà, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Lịch sử, trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong
những năm tôi học tập tại khoa. Với những kiến thức được tiếp nhận trong
quá trình học không chỉ là nền tảng cho việc viết khóa luận tốt nghiệp mà đó
còn là những hành trang vô cùng quý báu trên bước đường tương lai.
nhiệm về nội dung khóa luận của mình.
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Trần Thúy Hƣờng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... - 1 . Lý do chọn đề tài ...................................................................................... - 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ....................................................................... - 2 . Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ........................................... - 5 4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu .............................................. - 5 . Đóng góp của đề tài.................................................................................. - 5 Chương . QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRÊN LĨNH VỰC
VĂN HÓA, GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN TRƯỚC NĂM 991...................... - 7 1.1. Cơ sở cho sự hợp tác về văn hóa, giáo dục giữa Việt nam và Trung Quốc
trong lịch sử .................................................................................................. - 7 1.2. Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục từ khi
hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đến trước năm 99 ....................... - 10 1.2.1. Về văn hóa ........................................................................................ - 11 1.2.2. Về giáo dục ....................................................................................... - 13 Tiểu kết chương 1 ....................................................................................... - 16 Chương 2. QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRÊN LĨNH VỰC
VĂN HÓA, GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 1991 – 2010 ................................. - 18 2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn
1991 – 2010 ................................................................................................ - 18 2.1.1. Tình hình thế giới ............................................................................. - 18 2.1.2. Tình hình khu vực ............................................................................. - 19 2.2. Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục giai
đoạn 1991 – 2010 ....................................................................................... - 21 2.2.1. Về văn hóa ........................................................................................ - 21 2.2.2. Về giáo dục ....................................................................................... - 35 -
Tiểu kết chương 2 ..........................................................................................-42Chương . ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM TRUNG QUỐC TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA, GIÁO DỤC ................. - 44 . . Đặc điểm ............................................................................................. - 44 3.2. Vai trò .................................................................................................. - 50 3.2.1. Đối với Việt Nam .............................................................................. - 50 3.2.2. Đối với Trung Quốc ......................................................................... - 52 Tiểu kết chương 3 ....................................................................................... - 54 KẾT LUẬN ................................................................................................ - 56 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... - 58 -
MỞ ĐẦU
L
o h n
t i
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có quan hệ từ lâu đời.
Với mối quan hệ hàng ngàn năm lịch sử, hai nước Việt Nam và Trung Quốc
đã giao lưu và hợp tác trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, ch nh trị cho đến các
-1-
Việt Nam – Trung Quốc. Giao lưu văn hóa, giáo dục từ sau khi bình thường
hóa quan hệ Việt - Trung đã thu được những kết quả to lớn có ý nghĩa chiến
lược đối với sự phát triển văn hóa, giáo dục của Việt Nam.
Do vậy, khi nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trên lĩnh vực
văn hóa, giáo dục từ năm 99 đến năm 2
để làm r được những thành tựu
đạt được trong quan hệ hai nước trên lĩnh vực này là điều cần thiết, không chỉ
có ý nghĩa lý luận mà c n có ý nghĩa thực ti n sâu sắc. Thông qua việc nghiên
cứu có thể rút ra được các bài học kinh nghiệm cho đường lối đối ngoại văn
hóa với của nước ta với Trung Quốc. Đi sâu nghiên cứu quan hệ Việt Nam –
Trung Quốc trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục giai đoạn 99 – 2
c n dùng
làm tài liệu phục vụ việc giảng dạy, học tập học phần Lịch sử Việt Nam tại
các trường Đại học, Cao đ ng.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài
–
– 2010 làm khóa luận
tốt nghiệp Đại học.
L h sử nghi n
1 60” do Trung Tâm Nghiên cứu Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội phát
hành năm 2
. Cuốn sách đã tập hợp đầy đủ các sự kiện và sự việc đã di n
ra trong quan hệ hai nước Việt Nam – Trung Quốc theo thứ tự thời gian từ
năm 94 đến năm 96 theo tuần tự trước sau với các di n biến chi tiết được
đề cập đến từng ngày… Là một công trình mang đậm t nh “biên niên sử”,
cuốn sách là tập thứ 2 trong bộ sách biên niên nhiều tập về mối quan hệ giữa
Việt Nam và Trung Quốc được biên soạn tiếp theo nhằm phục vụ bạn đọc
trong việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai quốc gia từ sau Chiến tranh thế
giới thứ hai đến nay.
Hoặc cuốn “ iệt Nam – Trung Quốc Tăng cường h p tác, c ng nhau
phát triển, hướng tới tương ai”, Kỷ yếu hội thảo của Viện Nghiên cứu Trung
Quốc thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, do Nxb Khoa học xã hội phát
hành năm 2
. Nhìn chung những công trình nêu trên đã đề cập đến nhiều
kh a cạnh trong quan hệ Việt – Trung từ quan hệ ch nh trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội.
- Cuốn “Quan hệ
iệt – Trung trước sự tr i
Nxb Từ điển bách khoa, năm 2
c a Trung Quốc”,
đã trình bày một cách cụ thể những nhân tố
Quốc tế thuộc Sở Nghiên cứu vấn đề quốc tế Trung Quốc năm 9
i quan hệ iệt – Trung t
hi
nh thường hóa đến na ” của Đức Minh Tạp
ch Nghiên cứu Trung Quốc, số
Trung Quốc t
hi
“Nh n
năm 99
“Quan hệ
iệt Nam –
nh thường hóa quan hệ năm 1 1 đến na và triển
v ng” của PGS. TS Đỗ Tiến Sâm (Tạp ch Nghiên cứu Trung Quốc, số
4
– 2002); “Triển v ng quan hệ Trung – iệt trong th p niên th hai c a thế
I” của Nguy n Đình Liêm Tạp ch Nghiên cứu Trung Quốc số
2011); “Quan hệ iệt – Trung trong thời
trong giai đoạn 99 – 2010.
- Khái quát mối quan hệ Việt – Trung trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục
trước năm 99 .
- Đi sâu phân t ch, làm r mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trên
lĩnh vực văn hóa, giáo dục giai đoạn 99 – 2010. Từ đó phân t ch đặc điểm
và t nh chất của mối quan hệ về văn hóa, giáo dục giữa hai nước.
3.3
- Không gian Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong bối cảnh khu vực
châu Á hai thập niên đầu sau Chiến tranh Lạnh.
- Thời gian giai đoạn từ năm 99 đến năm 2
4 Nguồn tƣ li u v phƣơng pháp nghi n
.
u
- Nguồn tư liệu tài liệu tham khảo, Luận văn Thạc sỹ, Luận án Tiến sỹ,
tài liệu điện tử,…
- Phương pháp luận khóa luận quán triệt các chủ trương trong văn kiện
Đảng của Việt Nam và Trung Quốc về đường lối ngoại giao.
- Phương pháp nghiên cứu khóa luận chủ yếu vận dụng phương pháp
lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra, vận dụng một số phương pháp nghiên
cứu liên ngành như phương pháp phân t ch, tổng hợp phương pháp thống kê,
so sánh,…
5 Đ ng g p
t i
-5-
gi i oạn 99 – 2010
Chƣơng
Qu
tr n lĩnh vự văn h ,
gi i oạn trƣớ năm 99
Chƣơng
giáo
Qu n h Vi t N m – Trung Qu
Đặ
iểm, v i trò
tr n lĩnh vự văn h , giáo
-6-
m i qu n h Vi t N m – Trung
Chƣơng 1
QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRÊN LĨNH VỰC
VĂN HÓA, GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN TRƢỚC NĂM 991
1.1. Cơ sở ho sự h p tá v văn h , giáo
Qu
Về quan hệ “đồng văn”, ở Trung Quốc, vùng Nam Trường Giang từ đời
Tần sáp nhập dần vào lãnh thổ Trung Quốc với sự gia tăng của quá trình Hán
hóa. Các nước khác bị thu hút vào vùng ảnh hưởng của cả hai nền văn minh
này Phù Nam, Champa thuộc vùng ảnh hưởng văn minh Ấn Độ trong lúc
miền Bắc từ văn hóa Đông Sơn đã thấy r quan hệ giao lưu với văn hóa Trung
Quốc và sau là nước
u Lạc bị đặt dưới hơn nghìn năm Bắc thuộc, văn hóa
Trung Quốc du nhập vừa bằng con đường cư ng chế của ch nh quyền đô hộ,
vừa bằng sự giao lưu và tiếp nhận tự nguyện của nhân dân. Sự giao lưu và
-7-
tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa là sự giao lưu và tiếp
biến rất dài trong nhiều thời kỳ lịch sử Việt Nam. Cho đến nay, không một
nhà văn hóa nào lại phủ nhận ảnh hưởng lớn của văn hóa Trung Hoa đối với
văn hóa Việt Nam. Quá trình giao lưu và tiếp biến ấy di n ra trên cả hai trạng
thái, giao lưu cư ng bức và giao lưu không cư ng bức.
Tuy mỗi nước có một nền văn hóa mang bản sắc riêng của dân tộc
mình, sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt Nam đã tỏ r qua mấy ngàn năm
lịch sử, đó là căn bản trường tồn dân tộc Việt Nam. Nhưng do bối cảnh địa lý
và lịch sử, các dân tộc Việt, Trung đều có sự tương đồng về văn hóa, cùng với
một số dân tộc khác tạo nên nền văn hóa Đông Á có bản sắc riêng so với các
nền văn hóa khác trên thế giới. Nho giáo ra đời từ dân tộc Hán cách đây hơn
hai ngàn năm, nhưng được các dân tộc khác tiếp thu theo cách riêng, phù hợp
với bản sắc dân tộc mình, do đó đã trở thành di sản văn hóa chung của các
dân tộc Đông Á. Các giáo lý mà Nho gia đề xướng từ xưa, đã được quan niệm
phù hợp với mỗi dân tọc, trong mỗi giai đoạn lịch sử.
nguồn gốc xa xưa. Dân tộc Kinh – dân tộc chủ thể của nước Việt Nam ngày
nay chính là hậu duệ của người Lạc Việt xưa. Mà cư dân Lạc Việt đầu tiên
c ng là một nhánh của cư dân Bách Việt ở vùng Hoa Nam Trung Hoa. Thế kỷ
IV TCN, nước Việt Quốc của người Việt cổ bị tiêu diệt, người Việt di cư về
ph a Nam, trong đó có một nhánh đến khu vực phía Bắc và miền Trung của
Việt Nam định cư trở thành người Lạc Việt về sau. Người Lạc Việt là tổ tiên
của dân tộc Kinh ngày nay. Còn các bộ tộc Bách Việt trong cương vực Trung
Quốc dung hợp với cư dân Trung Nguyên trở thành dân tộc Trung Hoa ngày
nay. Trước khi Việt Nam xây dựng triều đại phong kiến tự chủ, Việt Nam đã
từng bị xem là một phần của lãnh thổ Trung Quốc, từ đời Tần đến đời Đường,
kéo dài
2 năm. Do sự truyền bá tự nhiên và nhiều lần của văn hóa cùng sự
luân chuyển cư dân trong nước Trung Quốc nên đến thời cận hiện đại, người
ta thường nói “đồng văn, đồng chủng” để hình dung về quan hệ dân tộc, văn
hóa, giáo dục giữa hai nước Việt, Trung.
Trong số 54 dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam và 56 dân tộc sống
trên lãnh thổ Trung Quốc, có nhiều dân tộc cùng chung hoặc gần g i nhau về
huyết thống, trong đó có một số dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ hai
nước ven biên giới. Thêm nữa, ở Việt Nam có một số lượng lớn người Hoa cư
-9-
trú và làm ăn buôn bán. Ch nh lực lượng người Hoa này đã góp phần làm tăng
thêm mối quan hệ giao lưu, hợp tác giữa hai nước.
Có thể nói “đồng văn” và “đồng chủng” quan hệ mật thiết với nhau, tác
động lẫn nhau, tạo ra một truyền thống hữu nghị giữa nhân dân hai nước,
vượt qua những thử thách trong lịch sử.
lãnh đạo của Đảng cộng sản, giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến lên chủ
nghĩa xã hội đồng thời mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử quan hệ Việt
- 10 -
Nam - Trung Quốc, để nhân dân hai nước phát huy tình đoàn kết chiến đấu,
hợp tác hữu nghị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Việc xây dựng chính quyền nhân dân hai nước đã mở ra những điều
kiện thuận lợi cho sự giao lưu và hợp tác văn hóa, giáo dục. Từ khi thiết lập
quan hệ ngoại giao đến trước năm 99 , sự giao lưu và hợp tác văn hóa, giáo
dục giữa hai nước có quy mô lớn, phạm vi rộng và nội dung phong phú.
1.2.1. V
Quan hệ hợp tác văn hóa Việt Nam – Trung Quốc thể hiện sinh động
trong giai đoạn 1950 – 1965. Các hiệp định văn hóa được ký kết từng năm,
theo đó các đoàn đại biểu văn hóa, nghệ thuật, báo chí tuyên truyền hai nước
thường xuyên thăm hỏi và trao đổi với nhau. Những chuyến lưu di n dài ngày
của các đoàn nghệ thuật Trung Quốc sang Việt Nam biểu di n ba tháng vào
năm 9
, đoàn ca múa nghệ thuật Việt Nam c ng sang biểu di n ở Trung
Quốc. Đoàn nghệ thuật Trung Quốc Tề Cáp Nhĩ với 38 buổi biểu di n cho
hơn
vạn người xem ở hầu hết các tỉnh từ khu vực Vĩnh Linh đến miền
rừng núi Việt Nam. Đoàn kịch Trung Quốc sang biểu di n một tháng rư i
trong năm 9 9 và đi trên .
năm quốc khánh Trung Quốc đã nói Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhân dân Việt Nam. Tấm gương rạng r
của cách mạng Trung Quốc soi sáng con đường đấu tranh cách mạng Việt
Nam. Do coi trọng kinh nghiệm học tập kinh nghiệm Trung Quốc, Việt Nam
đã dịch và xuất bản một số lượng lớn tác ph m cách mạng của các nhà lãnh
đạo Trung Quốc. Từ tháng
94 đến đầu năm 9 4, chỉ riêng Cục xuất bản
quốc gia của Việt Nam đã xuất bản 47 loại tác ph m cách mạng của Trung
Quốc, ấn hành 193.880 cuốn sách. Trong đó, tác ph m của chủ tịch Mao
Trạch Đông chiếm 17 loại, ấn hành 57.305 cuốn. Đến đầu năm 96 , các tài
liệu dịch xuất bản của Trung Quốc đã lên tới hơn
0 loại (bao gồm các ấn
ph m văn nghệ, khoa học kỹ thuật), ấn hành 6.770.000 cuốn. Các cuốn “ u n
chiến tranh éo ài”, “ âu thuẫn lu n”, “Thực tiễn lu n”, “Bài nói trong
hội th o văn nghệ Diên An”, “ ề vấn đề x lý chính xác mâu thuẫn nội bộ
nhân ân” cùng với những tác ph m đã xuất bản như “Tu ển t p Mao Tr ch
Đ ng” của Mao Trạch Đông trở thành những văn kiện cần đọc trong học tập
lý luận chính trị của cán bộ Việt Nam. Cuốn “Bàn về tu ưỡng đ ng viên
Đ ng cộng s n” của đồng ch Lưu Thiếu Kỳ, sau khi được dịch đã có lần tái
bản, trở thành cuốn sách gối đầu giường của đảng viên và cán bộ cách mạng
Đảng Lao động Việt Nam.
Để hiểu biết và học tập kinh nghiệm cách mạng và kinh nghiệm kiến
thiết đất nước của nhân dân Việt Nam, phía Trung Quốc c ng dịch các tài liệu
- 12 -
Cùng với văn hóa, sự giao lưu trên lĩnh vực giáo dục c ng có sự phát
triển. Sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung
ương Đảng, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra phương án mở những lớp đào tạo
cán bộ trong và sau chiến tranh cho các ngành kinh tế, tài ch nh, ngân hàng,…
- 13 -
đặc biệt là đào tạo cán bộ ở nước ngoài. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên
việc đưa học sinh ra nước ngoài học của Việt Nam bị hạn chế, và nếu đi được
thì Trung Quốc là lựa chọn đầu tiên. Báo cáo về kế hoạch Nhà nước năm
1957 tại Hội nghị Trung ương lần thứ 12 mở rộng tháng
9
đã xác định:
Hướng đào tạo của ta là ngành nào, cấp nào có thể dạy trong nước thì không
đi nước ngoài, ngành nào có thể học ở Trung Quốc thì không đưa đi nước
khác[9; tr.30].
Vào năm 9
, Việt Nam cử một số cán bộ trẻ đi học ngoại ngữ và
nhiệm vụ ngoại giao ở Trung Quốc. Đây là lớp cán bộ đầu tiên được gửi đi đào
tạo dài hạn ở nước ngoài, sau này trở thành cán bộ cốt cán của Bộ Ngoại giao.
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo ngay một số lượng lớn cán bộ đang rất cần
thiết cho phát triển kinh tế và giảm chi ph đào tạo những nước ở quá xa. Năm
1951, Trung Quốc đã giúp Việt Nam mở hai trường học là Khu học xá Nam
Ninh và trường Thiếu Sinh quân ở Lư Sơn, sau đó chuyển về Quế Lâm. Năm
Việt Nam. Từ 1955 – 1958, Trung Quốc đã nhận 3.300 thực tập sinh Việt
Nam. Từ năm 9 4 – 1959, Trung Quốc đã cử sang Việt Nam 4.195 chuyên
gia trên tổng số 6.130 chuyên gia giúp Việt Nam. Ngày 23/3/1964, Việt Nam
đã tặng
Nhì,
Huân chương Lao động hạng Nhất,
Huân chương Lao động hạng
9 Huân chương Lao động hạng Ba cho chuyên gia Trung Quốc.
Có thể nói, đỉnh cao là trong những năm 966 – 19 2 và năm 9 4 –
1978. Theo Hiệp định viện trợ kinh tế kỹ thuật Việt Nam – Trung Quốc (thể
hiện trong “Biên bản hội đàm” ngày 2
966 và “Thư trao đổi” ngày
1/11/1974), trong những năm “Cách mạng văn hóa”, Trung Quốc có biết bao
khó khăn về nhiều mặt nhưng lưu học sinh Việt Nam ta vẫn được đến Trung
Quốc học tập ở mấy trăm cơ sở khắp 24/31 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương và Khu tự trị, đưa tổng số lưu học sinh lên đến con số gần
.
người.
Đội ng đông đảo nhất là Thực tập sinh, học sinh học nghề ngắn hạn và thực
tập sinh khoa học kỹ thuật dài hạn. Họ được học tập và thực tập trong 200
ngành nghề khác nhau, nhằm phục vụ kịp thời cho sự nghiệp kháng chiến
người, các tỉnh đào tạo trên .
người, thành
người, tỉnh Giang Tô hơn
người là Hồ Nam, Liêu Ninh, Giang
- 15 -
Tây,… Đại đa số thực tập sinh, lưu học sinh tại Trung Quốc tốt nghiệp về
nước đã phát huy tác dụng tốt trong các lĩnh vực công tác khác nhau, ở khắp
mọi miền đất nước. Trong số đó, nhiều người đã xứng đáng ở cương vị chủ
chốt trong các cơ quan, x nghiệp, bệnh viện, trường học,… Họ đều thể hiện
được năng lực của những người lưu học Trung Quốc trở về[7; tr.55].
Tiểu kết
ơ
Quan hệ Việt – Trung, một mặt từ cổ ch kim đều rất đặc thù, nước
khác không thể so sánh được; mặt khác, quan hệ này đối với hai nước, với
khu vực, thậm ch đối với quốc tế c ng vô cùng quan trọng.
Sự gần g i về hoàn cảnh đất nước hai nước có thể khái quát trong bốn
chữ “tương” “sơn th
tương iên, văn hóa tương th ng, ý tư ng tương
đ ng, l i ích tương quan”. Về địa lý hai nước đều có chung đường biên giới
Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành hợp tác trên tất cả các lĩnh vực từ
chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội. Trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục trong
thời kỳ này đã thu được những thành tựu to lớn. Với sự giao lưu, hợp tác đó
đã thúc đ y nhân dân hai nước tìm hiểu về văn hóa, giáo dục của nhau; hợp
tác để cùng phát triển vì sự ổn định chung của cả khu vực.
- 17 -
Chƣơng
QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRÊN LĨNH VỰC
VĂN HÓA, GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 1991 – 2010
2.1. Các nhân t ảnh hƣởng ến quan h Vi t Nam – Trung Qu c giai
oạn 1991 – 2010
2.1.1. Tình hình thế giới
Quá trình bình thường hóa quan hệ Việt – Trung kết thúc đúng vào giai
đoạn cuối của Chiến tranh Lạnh, tức là khi quan hệ giữa hai nước Việt Nam
và Trung Quốc bước sang giai đoạn mới – giai đoạn bình thường trở lại thì
thế giới c ng bước vào thời kỳ mới – thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh với các
đặc điểm cơ bản:
Liên Xô tan rã kéo theo sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên
thế giới, chỉ còn một vài nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội trong đó
có Việt Nam và Trung Quốc). Chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, thế hai
phe, hai cự không còn, ý thức hệ dần dần không còn là một nhân tố quan trọng
chi phối quan hệ quốc tế, việc tập hợp lực lượng trở nên linh hoạt và đa dạng
hơn. Cục diện đa cực dần hình thành trong đó Mỹ có ưu thế nổi trội hơn cả.
Hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đ i hỏi
bức xúc của các dân tộc và các quốc gia trên thế giới. Cách mạng khoa học
công nghệ phát triển nhanh và mạnh, song song với nó là quá trình quốc tế
hóa sản xuất vật chất và đời sống xã hội cùng với sự giao lưu quốc tế được
trong nền kinh tế thế giới. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong
khu vực ngày càng tăng. Xu thế hợp tác, liên kết trong khu vực phát triển
mạnh, đặc biệt là về kinh tế. Điều này thể hiện quan sự ra đời và phát triển
của hàng loạt các tổ chức trong khu vực như Di n đàn khu vực (ARF), sự mở
rộng của ASEAN song song với việc thiết lập Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA), sự ra đời của Di n đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình
- 19 -